watch sexy videos at nza-vids!
doc truyen
Trang ChủTruyện
http://aff.mclick.mobi/ctxd/bigbang3g

Bá Chủ Tam Quốc

http://aff.mclick.mobi/swift-wifi/bigbang3g

Swift Wifi

http://aff.mclick.mobi/uc-in/bigbang3g

UC Browser

Thống Bất Dục Sinh( 1)

Thanh âm hùng hồn của Vũ Văn Hóa Cập vang lên ở bên hữu ngạn:

- Không biết là vị cao nhân nào của Tống Phiệt chủ trì hạm đội, xin hãy lại gần bờ cho Vũ Văn Hóa Cập lên thuyền hỏi thăm.

Phó Quân Sước và hai tên tiểu tử ngồi trong thuyền đưa mắt nhìn nhau, chẳng ai ngờ Vũ Văn Hóa Cốt lại đuổi đến nhanh như vậy.

Lúc này, bốn chiếc thuyền lớn đều chuyển hướng lại gần tả ngạn, hiển nhiên là e sợ Vũ Văn Hóa Cập sẽ phi thân lên thuyền, hoặc giả dùng cung tiễn tấn công từ xa.

Tiếng cười của Tống Lỗ vút cao đáp lại:

- Đã lâu không gặp, Vũ Văn đại nhân vẫn khoẻ chứ? Tống Lỗ này xin được thỉnh an đại nhân!

Vũ Văn Hóa Cập thúc ngựa chạy dọc theo bờ sông, cười lớn ứng đáp:

- Thì ra là Ngân Tu Thiết Long Quải Tống huynh, như vậy thì sự việc dễ làm rồi, xin Tống huynh cho thuyền cập bờ, để huynh đệ được nói rõ sự tình.

Tống Lỗ cười cười nói:

- Vũ Văn huynh quá đề cao tiểu đệ rồi. Nếu đổi lại Vũ Văn đại nhân là tiểu đệ, đột nhiên thấy cao thủ kinh sư nửa đêm đuổi tới, chạy dọc theo bờ sông kêu dừng thuyền, mà trên thuyền lại có tài sản hàng hoá, vì sự an toàn của mình, liệu đại nhân có thấy cần phải hỏi ý đồ của đối phương cho rõ ràng rồi mới tính không?

Vũ Văn Hóa Cập tính nết thâm trầm, nghe họ Tống nói vậy mà không hề tức giận, chỉ vui vẻ nói:

- Việc này chẳng khó khăn gì, bản quan lần này phụng mệnh Thánh Thượng đi bắt ba tên khâm phạm, nghe nói tứ công tử đã từng thanh toán tiền cho ba tên khâm phạm này trên Đơn Dương Tửu Lầu, về sau còn mời chúng lên thuyền, không biết chuyện này có thực hay không?

Tống Lỗ chẳng cần nghĩ ngợi mà đáp ngay:

- Chuyện này đương nhiên là có kẻ đặt điều vu hãm, xin Vũ Văn đại nhân trở về báo với Thánh Thượng rằng nếu Tống Lỗ ta nhìn thấy lũ khâm phạm này, sẽ lập tức bắt về quy án, giải tới kinh sư. Đêm đã khuya! Tống mỗ xin phép về thuyền đi ngủ!

Khấu Trọng và Từ Tử Lăng không ngờ Tống Lỗ lại nghĩa khí như vậy, biểu thị thái độ không chịu giao người mà chẳng hề do dự, chỉ nghe y ngay cả khâm phạm là nam hay là nữ cũng chẳng thèm hỏi mà đã mời Vũ Văn Hóa Cập hồi kinh là biết họ Tống này hoàn toàn không có ý bán đứng ba người bọn gã. Nhân vật thế này, đích thực xứng đáng với cái danh anh hùng hảo hán.

Vũ Văn Hóa Cập ngửa mặt cười một tràng dài:

- Tống huynh thật là mau mắn, đã vậy thì tiểu đệ cũng chẳng giấu giếm gì nữa. Tống huynh tuy nhất thời thống khoái, nhưng sau này lại họa hoạn vô cùng, huống hồ bản quan có thể đem tất cả mọi chuyện đổ lên đầu Tống Gia các vị, Thánh Thượng long tâm chấn nộ, chỉ sợ lúc ấy Tống Gia các vị cũng chẳng dễ chịu gì đâu.

Tống Lỗ đáp:

- Vũ Văn đại nhân cứ hay khoa trương mà quên mất trên mặt người khác cũng có miệng. Nghe đại nhân vu oan giá họa như vậy cho Tống Gia, giang hồ tự nhiên sẽ có cách nói khác, hình như Vũ Văn đại nhân đã suy nghĩ thiếu phần chu mật thì phải?

Vũ Văn Hóa Cập nghe vậy thì cười ha hả nói:

- Nếu đã như vậy, bản quan cũng không cần gấp gáp về kinh làm gì. Ta sẽ đến Quỷ Đề Hiệp ở phía trước cung hầu đại giá của Tống huynh. Nơi đó hà đạo nhỏ hẹp, nói chuyện cũng tiện hơn ở đây, hai huynh đệ chúng ta không cần phải tốn sức hét to như vậy nữa.

Khấu Trọng và Từ Tử Lăng biến sắc, đưa mắt nhìn Phó Quân Sước. Nàng lập tức đứng dậy nói:

- Phó Quân Sước này đã nhận đủ ân huệ của người Hán rồi, không thể liên lụy đến người khác nữa. Đứng dậy! Chúng ta đi!

Chưa kịp nghe Tống Lỗ đáp trả Vũ Văn Hóa Cập thế nào, hai gã đã bị Phó Quân Sước tóm lấy thắt lưng, bay ra ngoài cửa sổ như một con đại bàng vượt qua khoảng cách bốn trượng hơn, hạ thân xuống dải đất ven sông.

Khi tiếng kêu kinh ngạc của Tống Lỗ và tiếng gầm tức giận của Vũ Văn Hóa Cập cùng lúc vang lên, ba người đã ẩn thân vào trong cánh rừng ven bờ.

Hai gã Khấu, Từ nghe thấy tiếng gió rít bên tai, thân mình bị Phó Quân Sước xách lao đi như đằng vân giá vũ.

Chưa đầy nửa khắc, ba người đã chạy được hơn chục dặm đường, cảm thấy địa thế càng lúc càng dốc, gió lướt qua mặt càng lúc càng lạnh, đến lúc được Phó Quân Sước đặt xuống thì hai gã mới biết mình đã lên một đỉnh núi cao, sơn phong thổi tới làm hai gã lạnh run, hàm răng va vào nhau kêu lập cập.

Phó Quân Sước chuyển mình, dẫn hai gã đến một động huyệt được che khuất bởi sơn thạch và cây cỏ, ẩn mình vào trong tránh gió lạnh.

Khấu Trọng thở phào một hơi:

- Nguy hiểm quá! Cũng may là cách một con sông, Vũ Văn Hóa Cập không thể đuổi theo.

Phó Quân Sước thở dài một hơi than:

- Người khác có thể không làm được, nhưng Vũ Văn Hóa Cập thì chỉ cần một cành cây khô cũng có thể vượt được sông lớn, tên tiểu tử ngươi thật không hiểu chuyện gì cả.

Thiết Thủ kinh hãi nói:

- Vậy tại sao chúng ta còn không mau chạy?

Phó Quân Sước ngồi xếp bằng xuống, cười khổ nói:

- Nếu ta luyện tới đệ cửu tầng cảnh giới thì nhất định có thể mang theo các ngươi chạy tiếp, nhưng năng lực của ta giờ chỉ có thể đưa các ngươi tới đây mà thôi.

Khấu Trọng thử dò hỏi:

- Dù là tên Vũ Văn Hóa Cốt đó có thể qua sông, nhưng chắc y cũng không biết chúng ta chạy tới đâu chứ?

Phó Quân Sước nhạt giọng nói:

- Người có võ công cao như Vũ Văn Hóa Cập, cảm giác nhạy bén phi thường, chỉ dựa vào mùi hơi và vết tích chúng ta lưu lại dọc đường là y có thể truy theo được rồi. Thôi không nói nhiều nữa, ta phải vận công hành khí, trước khi y đến may ra có thể khôi phục công lực, quyết tử chiến một phen.

Nói đoạn nhắm nghiền hai mắt, ngồi xếp bằng tròn, không nói gì nữa.

Hai gã cũng thất vọng ngồi xuống cạnh nhau, nhưng đều không dám lên tiếng nói chuyện, sợ làm kinh động đến Phó Quân Sước.

Thời gian cứ dần dần trôi đi.

Đột nhiên Phó Quân Sước đứng dậy, thấp giọng nói:

- Đến rồi! Chỉ có mình hắn!

Hai tên tiểu tử cũng đứng dậy cùng với nàng.

Khấu Trọng run giọng nói:

- Chi bằng đem bảo thư giao cho hắn là xong!

Phó Quân Sước quay người lại, nghiêm giọng mắng:

- Lời như vậy mà ngươi cũng nói ra được sao?

Từ Tử Lăng mềm mỏng nói:

- Hắn cũng chỉ nghĩ cho mẹ thôi!

Dưới ánh trăng sáng, Phó Quân Sước thở dài một hơi, bật cười nói:

- Tiểu Trọng đứng trách mẹ, ta đã quen mắng ngươi như vậy rồi!

Khấu Trọng và Từ Tử Lăng toàn thân chấn động, nếu phải lúc bình thường Phó Quân Sước mà chịu nhận hai gã làm con, hai gã tất sẽ hoan thiên hỉ địa, nhưng lúc này cả hai lại cảm thấy vô cùng không thỏa đáng.

Phó Quân Sước lại thấp giọng nói:

- Vô luận là xảy ra chuyện gì, hai ngươi đều không được ra khỏi đây, mẹ nhất định sẽ dẫn hai ngươi đi khỏi đây được.

Tiếng cười của Vũ Văn Hóa Cập đã từ xa truyền lại:

- Cô nương vì hai tên tiểu tử này mà đã bại lộ hình tích, đích thực là một hành động bất trí vô cùng. Mấy năm nay, cô nương đã hai lần giả dạng cung nga nhập cung hành thích Thánh Thượng, vậy mà ngay cả cái bóng của cô nương chúng ta cũng không bắt được. Thật không ngờ lần này vì một cuốn quỷ thư, lại có thể khiến cô nương bại lộ hành tung. Nói ra cũng phải cảm ơn hai tên tiểu tử này, nếu không phải vì chúng, Vũ Văn Hóa Cập ta làm sao đấu lại khinh công của cô nương chứ.

Hai gã Khấu Từ đưa mắt nhìn nhau, mặt cúi gằm, thì ra mẹ của hai gã đã từng nhập cung hành thích Dương Quảng, càng không ngờ hơn là mẹ đã vì hai gã mà hy sinh lớn như vậy.

Bằng không dựa vào khinh công mà ngay cả Vũ Văn Hóa Cập cũng tự thẹn không bằng của mẹ, làm sao Vũ Văn Hóa Cập có thể đuổi kịp được?

Phó Quân Sước đặt tay lên đốc kiếm, dưới ánh trăng mênh mang, sắc mặt nàng trở nên nghiêm nghị lạnh lùng:

- Vũ Văn Hóa Cập ngươi một đơn thân độc mã đến đây, không sợ địch không lại thanh kiếm trong tay ta hay sao?

Vũ Văn Hóa Cập cười khẩy nói:

- Kiếm trong tay cô nương tuy lợi hại, nhưng liệu có bao nhiên cân lượng?

Chỉ sợ trong lòng cô nương đã biết thắng phụ thế nào rồi. Nếu muốn hạ Vũ Văn Hóa Cập này, thì hãy lập tức động thủ, bằng không để thủ hạ của bản nhân đuổi tới thì cô nương sẽ mất đi thời cơ tốt này đó!

Phó Quân Sước cười nhạt nói:

- Vũ Văn Hóa Cập đã thiết tha muốn chết như vậy thì ta đây cũng chẳng tiếc gì mà không thành toàn cho ngươi!

Nhân ảnh chuyển động, Phó Quân Sước tung người bay tới, tiếp đó là tiếng khí công giao kích vang lên liên miên bất tuyệt.

Hai gã lo lắng đến suýt nữa thì tự tận, thò đầu ra ngoài, chỉ thấy dưới ánh trăng sáng, Vũ Văn Hóa Cập đang đứng trên một tảng đá lớn, còn Phó Quân Sước thì lại hóa thành một làn khói mỏng như loài quỷ mị, từ bát phương tám hướng tấn công như chớp giật, bảo kiếm trong tay hóa thành muôn vạn đạo hàn quang, từng đợt công kích nối tiếp nhau như triều dâng, đây hoàn toàn là cách đánh liều mạng.

Khuôn mặt dài của Vũ Văn Hóa Cập thần tình nghiêm túc, song thủ hoặc quyền hoặc trảo hoặc chưởng, thi thoảng còn tung chân cấp thoái, tựa như đang thi triển ma pháp ứng phó thế công cường mãnh vô song của Phó Quân Sước.

Hai gã Khấu Từ nhìn như say như mê, thầm phát thệ cả đời sẽ không bao giờ quên hình tượng tướng mạo của y. Tuy đã cách một khoảng xa tới bảy tám trượng, nhưng kình phong của trận kịch chiến vẫn khiến hai gã rát hết cả mặt, hai mắt không mở ra được. Hai gã cùng chịu không nổi, rụt đầu trở lại vào trong hang đá. Đợi đến lúc hai gã thò đầu ra trở lại, tình thế đã lại biến đổi.

Phó Quân Sước bay lên khoảng không phía trên Vũ Văn Hóa Cập, kiếm pháp ngày càng hung ác hiểm độc, chỉ công không thủ, còn Vũ Văn Hóa Cập lại chỉ thủ không công, rõ ràng đã rơi vào thế hạ phong.

Lần này hai gã càng không thể chịu đựng nổi áp lực của cuộc chiến, chỉ trong nháy mắt đã phải rụt đầu trở lại, hai mắt đỏ lựng, đau nhức khôn tả, nước mắt chảy ràng rụa.

Đúng vào lúc này, bên ngoài vang lên tiếng gầm vang tức giận của Vũ Văn Hóa Cập và tiếng "hự" nhẹ của Phó Quân Sước.

Hai gã liền bất chấp tất cả, thò đầu ra xem diễn biến thế nào, mơ hồ chỉ thấy bạch ảnh bay tới, chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì đã bị Phó Quân Sước nhấc bổng lên, thân hình lại một lần nữa lao đi như đằng vân giá vũ.

Hai gã vui mừng như điên, thì ra Vũ Văn Hóa Cập lại bị bà mẹ vô cùng lợi hại của mình đánh lui một lần nữa.

Lần này Phó Quân Sước mang theo hai gã chạy như điên vào trong rừng sâu, dọc đường không nói một lời, cho đến tận khi trời sáng, mới đặt hai gã xuống bên trong một sơn cốc.

Lúc hai gã lồm cồm bò dậy, Phó Quân Sước đã lảo đảo ngồi phệt xuống đất, sắc mặt xanh nhợt như người chết, mặt chẳng còn chút huyết sắc. Hai gã hồn phi phách tán, vội bổ người đến bên cạnh nàng, đau xót kêu lên:

- Mẹ, người bị thương rồi!

Phó Quân Sước nở một nụ cười ấm áp, đưa tay ra kéo hai gã lại, chẳng chút tị hiềm nam nữ, ôm hai gã vào lòng, để đầu hai gã gục lên ngực mình, nhẹ nhàng nói:

- Hai con ngoan của ta hãy nghe đây, Vũ Văn Hóa Cập đã thụ trọng thương, y tất phải tìm chỗ nào đó để liệu thương, cũng phải mất đến nửa năm hay một năm mới hồi phục được nguyên khí, vì vậy coi như là mẹ đã cứu được các con rồi!

Hai gã vội đồng thanh kêu lên:

- Mẹ còn không mau liệu thương đi!

Phó Quân Sước lắc đầu nói:

- Mẹ chỉ hận không có thêm chút thời gian để bồi dưỡng hai con thành tài, thấy các con lấy vợ sinh con, thật không ngờ mẹ đây trước giờ luôn hận người Hán, vậy mà khi nhìn thấy hai con lại quên hết cả quốc cừu gia hận, còn cam tâm tình nguyện nhận các con làm con nuôi. Mẹ vừa liều chết đâm Vũ Văn Hóa Cập một kiếm, nhưng cũng bị hắn toàn lực phản kích một quyền. Huyền Băng Kình Khí của hắn đích thực danh bất hư truyền, mà Vũ Văn Hóa Cập lại là cao thủ kiệt xuất nhất sau Vũ Văn Thương trong gia tộc Vũ Văn. Mẹ đây sinh cơ đã tuyệt, cho dù sư phụ của ta đến đây cũng không cứu nổi đâu. Sau khi ta chết, các con hãy chôn ta ở đây cũng được. Mẹ của các con thiên tính cô độc, sau này hai con cũng không cần bái tế làm gì.

Hai gã không nén nổi xúc động, khóc oà lên, ôm chặt lấy Phó Quân Sước không chịu buông, nước mắt làm ướt cả vạt áo phía trước của nàng.

Phó Quân Sước bình tĩnh, nhu hòa nói:

- Lần này mẹ vượt đường xa từ Cao Lệ tới đây, thực ra cũng chẳng có ý tốt đẹp gì. Mẹ tới Trung Thổ là để hành thích Dương Quảng, làm cho hắn không thể dụng binh với Cao Lệ lần nữa. Nào ngờ nội cung của hắn cao thủ như mây, hai lần hành thích đều chỉ có thể dựa vào chút công phu khinh công mà thoát thân.

Thế nên mẹ mới làm cho chuyện có người lấy được Dương Công Bảo Khố đồn đại khắp trong giang hồ, để cho người Hán tàn sát lẫn nhau, không ngờ lại xảo hợp gặp được hai con.

Hai gã lúc này chỉ quan tâm đến sinh tử của Phó Quân Sước, đối với chuyện Dương Công Bảo Khố, chẳng hề hứng thú chút nào!

Phó Quân Sước nhẹ nhàng xoa đầu hai gã, tiếp tục nói:

- Mẹ đến Dương Châu tìm Thạch Long, chính là vì người của chúng ta bố trí bên cạnh Vũ Văn Hóa Cập cho biết Dương Quảng đã phái hắn đi tìm Thạch Long.

Vì vậy mẹ mới đi tìm y để thăm dò kỹ hơn, bởi thế nên mới gặp được hai bảo bối ngoan này của mẹ. Được rồi, mẹ không thể chịu đựng được nữa đâu. Mẹ còn rất nhiều điều muốn nói, nhưng nghĩ lại tạo hóa trêu ngươi, nói ra cũng bằng như không nói mà thôi. Không biết có phải người sắp chết thì linh cảm đặc biệt chính xác hay không... mẹ đột nhiên cảm thấy hai con nhất định sẽ trở thành bậc phi phàm trong nhân thế, hai con chớ làm mẹ thất vọng đó!

Hai gã buồn bã ngẩng đầu, lòng đau như cắt:

- Mẹ à! Mẹ làm sao bỏ rơi chúng con như vậy được!

Phó Quân Sước đột nhiên thốt lên:

- À, bảo khố đó ở Dược Mã Kiều trong Kinh Đô...

Thanh âm đột nhiên đứt đoạn, Phó Quân Sước đã ngọc nát hương tan, nhắm mắt ra đi trong thời kỳ thanh xuân tươi trẻ nhất của cuộc đời.

Hai gã ôm chặt người thân duy nhất trên đời của mình, khóc lóc thảm thiết vô cùng. Sau khi khóc lóc một hồi, hai gã liền dùng di kiếm của Phó Quân Sước đẽo cây làm thành một chiếc quan tài đơn giản, đặt thi thể của nàng và thanh kiếm vào trong sau đó chôn ở ven rừng.

Hai gã kính ái Phó Quân Sước vô cùng, nhưng cũng biết mối thâm thù này không thể báo nổi, trong lòng đau thương đến cực độ, không chịu đi đâu mà cứ ở lại bên mộ của nàng. Đối với công danh lợi lộc của thế giới bên ngoài chẳng còn chút hứng thú, ngay cả Khấu Trọng thường ngày thích nói chuyện là thế, giờ đây cũng biến thành trầm mặc ít nói. Hai gã chế tạo ra cung tên và xiên cá, để bắt cá và bắn chim, săn thú sống qua ngày, đồng thời còn cất hết y phục ngân lượng đi, chỉ mặc quần đùi ngắn, sống một cuộc sống nguyên thủy hoang dã.

Cũng may lúc đó đang là lúc hai mùa xuân hạ giao nhau, khí hậu phương nam nóng bức, thể chất hai gã lại tốt, nên không phải lo lắng vấn đề bị cảm nhiễm phong hàn. Đêm đến hai gã lại nằm ngủ bên mộ, cuốn "Trường Sinh Quyết" được chèn chặt dưới tảng đá gối đầu, cả hai gã chẳng ai còn hứng thú động đến nó nữa.

Cái đêm Phó Quân Sước dạy "Cửu Huyền Đại Pháp" cho hai gã, nàng còn chưa nói hết phương pháp hành công thì Vũ Văn Hóa Cập đã đuổi tới, vì vậy hai gã chỉ hiểu tâm pháp, vị trí huyệt đạo và cách thức đả tọa, còn luyện công thế nào thì chẳng hề hay biết, thêm vào tâm trạng buồn chán nên cả hai cũng chẳng còn tha thiết luyện công, mỗi ngày đều sống một cách tạm bợ, nắng chiếu mưa sa cũng chẳng hề cảm giác.

Đêm nay, trời đột nhiên đổ cơn mưa rào, gió lạnh thấu xương. Hai gã nằm rúc vào một góc, trong lòng tràn đầy vẻ thê lương, nghĩ đến Phó Quân Sước ở bên cạnh, bốn con mắt lại long lanh ngấn lệ.

Đến lúc lạnh không thể chịu nổi được nữa, Khấu Trọng liền đẩy Từ Tử Lăng ngồi dậy, hai hàm răng va vào nhau kêu lập cập:

- Cứ thế này chúng ta sớm muộn gì cũng sinh bệnh mất thôi, làm sao xứng đáng với kỳ vọng mà mẹ dành cho chúng ta được?

Hơn mười ngày qua, đây là lần đầu tiên gã mở miệng nói chuyện.

Từ Tử Lăng cũng không chịu được cái lạnh đang xâm nhập vào người, run run nói:

- Ngươi lại có ý nghĩ quỉ quái gì nữa?

Khấu Trọng cười khổ:

- Nếu như không chôn thanh kiếm của mẹ theo, có phải bây giờ ít nhất cũng có một mái nhà gỗ che thân rồi không?

Từ Tử Lăng nói:

- Cho dù có chết cóng, cũng không thể làm phiền sự yên tĩnh của mẹ được.

Khấu Trọng gật đầu đồng tình:

- Đương nhiên là như vậy, chi bằng chúng ta thử luyện công theo phương pháp của mẹ xem sao, nghe nói cao thủ trên giang hồ ai ai cũng hàn nhiệt bất xâm cả đó.

Từ Tử Lăng thất vọng nói:

- Làm sao luyện được đây?

Khấu Trọng cũng á khẩu không nói gì, đưa tay ôm chặt lấy Từ Tử Lăng, cứ thế chịu đựng cho tới tận lúc trời sáng.

Tới lúc mặt trời lên cao, hai gã mới khôi phục sinh cơ, chẳng ngờ họa bất đơn hành, những con cá lớn trong khe suối đã bị hai gã bắt sạch chẳng còn một con, chim chóc dã thú dường như cũng biết hai gã là nhân vật nguy hiểm, nên không còn lưu lại trong cốc nữa, không còn cách nào khác, hai gã đành phải ra khỏi cốc để kiếm thức ăn.

Hai gã mang theo cung tiễn, đi ra khỏi sơn cốc, chỉ thấy cỏ mọc um tùm, cây cối tốt tươi, gò thấp bình nguyên đều hoang dã tịch mịch, phóng mắt nhìn khắp nơi cũng không thấy dấu tích gì của con người, bốn bề đều có những rặng núi cao màu thúy ngọc bao quanh, trong lòng cũng không khỏi phấn chấn, bao nhiêu bi thương dồn nén trong lồng ngực cũng bớt đi ít nhiều.

Hai gã đi dọc theo chân núi tìm chim, thú, chẳng mấy chốc đã săn được một con thỏ rừng, vui vẻ quay trở về cốc.

Bởi khí trời nóng bức, nên Từ Tử Lăng bỏ ra suối ngâm mình một lát, khi trở về đã thấy Khấu Trọng lôi "Trường Sinh Quyết" ra, vùi đầu đọc ngấu nghiến, trong lòng không khỏi tức giận.

Nói cho cùng, nếu không phải vì "Trường Sinh Quyết" này, Phó Quân Sước chưa chắc đã thảm tử trong thay Vũ Văn Hóa Cập.

Khấu Trọng vẫy tay gọi gã:

- Đừng trách ta, ta chỉ là nghe theo di mệnh của mẹ, tiếp tục sống cho tốt mà thôi. Những đồ hình này tuy chẳng phải là phương pháp luyện thần công gì, nhưng ít nhất cũng có thể giúp chúng ta kéo dài sinh mạng. Hai chúng ta tuy chẳng hiểu những văn tự giống như quỷ họa này. Nhưng ít nhất cũng có thể thử vận khí theo các đường chỉ dẫn trong đồ hình, sau đó lại luyện công theo tâm pháp của mẹ, có thể sẽ có được thu hoạch gì đó, ít nhất thì cũng không bị chết cóng.

Từ Tử Lăng đang định phản đối thì Khấu Trọng đã vung tay ném vèo quyển sách tới, Từ Tử Lăng theo phản xạ tự nhiên giơ tay bắt lấy, vừa hay mở ra đúng một trang có đồ hình người đang nằm. Lúc trước, vì không biết kỳ kinh bát mạch là gì, nhìn những đồ hình này thật chẳng khác nhìn vào mê cung, nhưng lần này xem lại, gã lập tức đã hiểu ra nhiều điều, liền dần dần bị cuốn hút vào trong đồ hình.

Khấu Trọng gật đầu nói:

- Bức thứ sáu là hữu dụng nhất, tốt nhất đừng nên xem các bức kia vội.

Từ Tử Lăng lật ra xem thử, mới biết mình đang xem trang cuối cùng của "Trường Sinh Quyết", lại lật trang thứ sáu ra xem thử, cảm thấy không dễ hiểu như là tấm đồ hình thứ bảy mà mình đang xem, liền không để ý đến Khấu Trọng nữa, ngồi xuống tiếp tục nghiên cứu bức đồ hình cuối cùng.

Từ ngày hôm đó, ngoại trừ săn bắn và ngủ nghỉ ra, hai gã Khấu - Từ đều y theo các đồ hình mà luyện công, sống một cuộc sống vô lo vô nghĩ, triệt để trở về thời nguyên thủy trong sơn cốc.

Nỗi đau trong lòng không biết có phải vì chuyên tâm luyện công mà cũng dần dần nhạt bớt.

Chẳng mấy chốc, hai gã đã tiến nhập cảnh giới vạn niệm cụ giảm mà "Cửu Huyền Đại Pháp" yêu cầu.Chú thích:

(1) Đau đớn, bi thương đến độ không muốn sống.

Tiếp Tục Lên Đường

Tám ngày sau đó, hai gã mỗi người luyện theo đồ hình mà mình đã chọn, có lúc quên cả đi săn bắn mà chỉ tuỳ tiện hái quả rừng ăn cho qua bữa.

Khấu Trọng luyện theo bức đồ hình người đang đi, kinh mạch huyệt vị dựa vào các điểm đỏ để làm tiêu điểm, mặt này không khác với đồ hình của Từ Tử Lăng là mấy, nhưng phương pháp hành công lại hoàn toàn ngược nhau. Theo đồ hình của Khấu Trọng, mũi tên màu đen biểu thị hành khí bắt đầu từ huyệt Thiên Linh trên đỉnh đầu, sau đó dùng các mũi tên bảy màu đỏ, vàng, cam, lục, lam, chàm, tím để biểu thị con đường vận khí, mỗi màu lại như một bộ công pháp hoàn toàn khác nhau, chẳng những lộ trình vận khí dị biệt, mà các huyệt vị kinh mạch đi qua cũng chẳng tương đồng. Trong đó có rất nhiều huyệt mạnh mà Phó

Quân Sước chưa từng nhắc đến, hoặc giả có nhắc đến nhưng cũng nói rõ là không hề liên quan tới tâm pháp võ công.

Bức đồ hình mà Từ Tử Lăng đang luyện là bức đồ hình người đang nằm, mũi tên đen lại bắt đầu từ huyệt Dũng Tuyền dưới lòng bàn chân phải, còn điểm cuối cùng của các mũi tên bảy sắc lại là huyệt Dũng Tuyền dưới lòng bàn chân trái, không giống như Khấu Trọng, các mũi tên đều quay về Thiên Linh huyệt trên đỉnh đầu, nhưng độ phức tạp của các mũi tên thì cũng chẳng khác nhau là mấy.

Hai gã chẳng mong cầu điều gì, đằng nào cũng chẳng có việc gì làm, nên cứ theo tâm pháp mà Phó Quân Sước truyền lại, bảo tâm thủ nhất, ý niệm tự nhiên mà hành công theo các bộ vị huyệt đạo trong cơ thể,cứ thế mà dần dần tiến vào cảnh giới cao hơn của "Cửu Huyền Đại Pháp". Có lúc hai gã lại luyện công theo đồ hình trong "Trường Sinh Quyết", lúc thì vận khí theo mũi tên màu đỏ, lúc thì theo mũi tên màu lam hoặc vàng... tuy rằng chưa có công hiệu gì đặc biệt, song hai gã cũng chẳng để ý nhiều đến vậy.

Về sau, Khấu Trọng đột nhiên ngộ ra, bắt đầu theo tư thế trong đồ hình, nhắm mắt đi lại khắp nơi trong sơn cốc, còn Từ Tử Lăng thì lại nằm xuống mới có sáng ý luyện công. Hai gã cứ một động một tĩnh, ai làm việc nấy.

Đến đêm hôm thứ chín, đột nhiên trời đổ mưa to, sầm chớp đùng đùng, hai gã không ngủ được, đành thức luyện công cho qua một đêm dài.

Khấu Trọng chầm chậm bước đi trong sơn cốc như thường ngày, còn Từ Tử Lăng lại đến bên bờ suối ngâm mình, chỉ để lộ khuôn mặt lên khỏi mặt nước, mỗi người luyện công theo một đường lối mà bản thân đã chọn.

Không bao lâu sau, hai gã dần dần quên đi bản thân, tiến nhập vào một cảnh giới như ngủ mà không ngủ, như tỉnh mà cũng không tỉnh.

Trong đầu hai gã ẩn ẩn hiện hiện các đồ hình quen thuộc trong "Trường Sinh Quyết", nhưng cũng chẳng thèm để ý xem là mũi tên màu gì, chỉ theo hướng nào, mà chỉ hư hư ảo ảo, tinh thần cố định trong một cảnh giới chẳng thể hình dung.

Chuyện kỳ diệu bắt đầu xảy ra.

Đầu tiên là hai lòng bàn chân của Từ Tử Lăng bắt đầu nóng lên, tựa hồ như có lửa đốt bên dưới, tiếp đó là khí nóng tràn khắp toàn thân, như muôn ngàn sợi tơ nhỏ li ti tràn ngập khắp kỳ kinh bát mạnh, cảm giác này quả thực khó chịu đến cùng cực, Từ Tử Lăng chút nữa thì tự tận để khỏi phải đau đớn, cũng may là nước suối và nước mưa mát dịu đã làm giảm bớt phần nào nỗi đau của gã.

Từ Tử Lăng cũng là kẻ cơ trí thông minh, biết rằng đây là giờ phút quan trọng, nên gã cố không để ý đến nỗi đau của nhục thể, cũng mặc kệ chân khí đang loạn động trong cơ thể mà tịnh tâm vận công, bảo nguyên thủ nhất.

Cũng may Phó Quân Sước còn chưa kịp nói cho gã biết về tình hình khi khí cơ phát động. Nếu đổi lại là "Cửu Huyền Đại Pháp", khi gặp phải tình hình xương sống phát nhiệt, khí lưu nghịch chuyển từ Đốc mạch thì phải xung phá Ngọc Chẩm quan, thông qua Nê Cửu, sau đó trở lại Nhâm mạch, cứ thế vận hành không ngừng nghỉ, khi nào đủ ba mươi sáu vòng chu thiên là đã đạt thành công pháp cơ bản.

Đối với người luyện võ bình thường, đây đã là cảnh giới mơ ước, bởi từ đây có thể bước lên con đường của một nội gia cao thủ rồi. Còn Từ Tử Lăng lúc này căn bản không biết phải làm sao, bởi đây là chuyện gã chưa từng nghe nói hay gặp qua bao giờ, nếu phải người bình thường, chắc chắn sẽ cho rằng mình sắp tẩu hỏa nhập ma, nhẹ thì bại liệt, nặng thì kinh mạch vỡ nát mà chết.

Thạch Long ngày ấy luyện công theo đồ hình cũng vậy, bởi lão sớm đã có thành kiến, nên khi cảm thấy không thỏa đáng, liền không dám luyện tiếp nữa.

Từ Tử Lăng chẳng biết trời cao đất dày, cứ một mực tâm niệm rằng chỉ cần tâm vô tạp niệm thì ngựa chết cũng có thể chữa thành ngựa sống, vì vậy không ngờ lại đạt được những điều mà đồ hình muốn hướng người luyện tới.

Cảnh ngộ của Khấu Trọng lại hoàn toàn khác biệt, một cỗ chân khí chí âm chí hàn xuyên qua đỉnh đầu, chạy khắp các đại mạch tiểu mạch, làm cho gã chút nữa thì đông cứng người lại, cuối cùng không tự chủ được mà gia tăng tốc độ chạy như điên cuồng để khí huyết được lưu thông, không bị ngưng trệ.

Hai gã cứ chịu đựng như vậy hai canh giờ, đến lúc trời sáng thì Khấu Trọng không trụ nổi nữa, mềm nhũn người ngã lăn ra đất.

Chính vào thời khắc trí mạng này, kinh mạch toàn thân gã như muốn nổ tung, con người mất dần tri giác, chìm vào trạng thái hôn mê sâu.

Từ Tử Lăng lại phát giác cỗ khí nóng như đang thiêu đốt kinh mạch toàn thân mình đột nhiên triệt thoái, nhất thời không kịp phản ứng, cũng mất đi tri giác.

Đến chính ngọ, mưa cũng ngớt dần, bầu trời trong xanh trở lại, mặt trời lộ ra sau những đám mây, Khấu Trọng tỉnh lại đầu tiên, chỉ cảm thấy thân thể mát rượi, chẳng hề cảm thấy mặt trời nóng bức, tinh thần sảng khoái, thoải mái vô cùng.

Khấu Trọng vẫn còn chưa hiểu rõ là chuyện gì đã xảy ra, nghĩ lại tình hình tối qua mà vẫn chưa hết sợ, hoang mang ngồi dậy.

Thế giới dường như biến đổi hoàn toàn trong mắt gã.

Chỉ thấy cả trời đất như rõ ràng hơn rất nhiều, không chỉ màu sắc phong phú hơn, mà cả những tình tiết lúc bình thường gã không lưu ý, giờ cũng vẫn cảm nhận được, thậm chí đến cả sự biến đổi của tiếng gió cũng không lọt ra khỏi tri giác linh mẫn của gã.

Kỳ quái nhất là vô luận trời hay đất, một tảng đá hay một ngọn cỏ... tất cả điều như hòa nhập vào cùng sống với gã vậy, còn gã lại như biến thành một phần tử trong đó, chứ không phải là những sự vật không liên quan gì tới nhau như trước nữa.

Khấu Trọng vô cùng ngạc nhiên, thầm nhủ thì ra sau khi khí cơ phát động, thế giới quan của ta lại biến đổi mới hoàn toàn như vậy. Lúc này, một niềm vui không tên trào dâng trong lồng ngực gã, khiến gã không cầm được mà nhảy dựng lên reo vang.

Chợt gã nghĩ đến Từ Tử Lăng, liền lớn tiếng gọi:

- Tiểu Lăng, ta luyện thành đệ nhất trùng rồi, xem này, thân thể ta giờ nhẹ như bông, có thể nhào lộn được rồi này.

Gã nói đoạn nhào lộn liền hai cái rồi mới chạy như bay đi tìm hảo huynh đệ của mình.

Trên thực tế, cho dù có mời vị đại tông sư võ học kiến văn quảng bác nhất đương đại đến đây, e rằng cũng không biết hai gã rốt cuộc đã luyện thành thứ gì, thậm chí là người trước tác ra "Trường Sinh Quyết", chỉ sợ cũng phải trợn mắt há miệng khi thấy tình hình hiện tại của hai gã.

Bất quá, đích thực là hai gã đã vì vậy mà biến đổi thể chất, nhưng nếu phải động thủ động cước, chỉ cần gặp phải một người bình thường biết chút võ công là đã có thể đánh cho hai gã phải quỳ xuống khóc lóc xin tha rồi. Nhưng cứ tiếp tục thế này, nội công của hai gã sẽ đạt tới cảnh giới nào, chỉ sợ rằng không ai nói ra được.

Từ Tử Lăng nghe Khấu Trọng gọi tên mình vang động cả sơn cốc cũng dần dần tỉnh lại, người vẫn ngâm mình dưới dòng suối, toàn thân ướt nhẹp, nhưng gã lại chẳng hề cảm thấy lạnh giá, chỉ vội vã đứng dậy bò lên bờ.

Từ ngày hôm đó trở đi, hai gã cứ tưởng rằng mình đã luyện thành đệ nhất trùng cảnh giới của "Cửu Huyền Đại Pháp", đồng thời ký ức về sự đau đớn của buổi đêm hôm trước cũng in sâu vào trong não, nên tạm thời cũng không dám tiếp tục luyện công. Nhưng tính tình hiếu động hoạt bát không thể nào kềm nén nổi lâu hơn, cứ sáng sớm là hai gã thức dậy ra ngoài cốc săn bắn, cho tới khi mặt trời khuất núi thì mới trở về sơn cốc, vô luận là mệt mỏi thế nào, nhưng chỉ cần thức dậy là hai gã lập tức vác cung vác tên đi săn.

Ngày hôm nay, vừa mới tỉnh dậy, Khấu Trọng đã dẫn Từ Tử Lăng đi tới trước mộ Phó Quân Sước nói:

- Nếu chúng ta tiếp tục thế này mẹ nhất định sẽ không vui, huống hồ mẹ còn mong chúng ta lấy vợ sinh con, kiến công lập nghiệp, trở thành nhân vật bất phàm.

Từ Tử Lăng trầm mặc giây lát, gật đầy nói:

- Ta cũng muốn ra ngoài tìm hiểu một phen, có điều tuy rằng chúng ta luyện công đã có chút ít thành tích, nhưng so với cao thủ chân chính e rằng vẫn còn kém tới một vạn tám ngàn dặm, nếu chỉ làm một tên tiểu tốt chạy cờ thì lại không cam tâm, mẹ của chúng ta lợi hại như vậy, chúng ta làm sao để cho người mất mặt được.

Khấu Trọng cười hì hì nói:

- Chuyện này đương nhiên rồi, đúng như mẹ nói, Vũ Văn Hóa Cập đã quyết ý lấy cho bằng được "Trường Sinh Quyết", hắn nhất định sẽ không bỏ qua cho chúng ta. Nói không chừng đã cho người họa hình, truy nã toàn quốc rồi chứ chẳng chơi, vì vậy hai chúng ta tốt nhất vẫn nên tránh mặt thì hơn. Nơi ẩn tránh tốt nhất vẫn là nơi này nhưng có điều nếu cứ tiếp tục sống như vậy, ta chỉ sợ chẳng bao lâu nữa thì chúng ta trở thành dã nhân mất.

Từ Tử Lăng nói:

- Vậy ngươi có kế hoạch gì không?

Khấu Trọng vỗ ngực nói:

- Đầu tiên chúng ta tìm một nơi chôn giấu "Trường Sinh Quyết" đã, sau đó sẽ đi về hướng Nam, gặp phải huyện thành nào thì nghĩ cách ở lại đó, xem xem có thể tìm được công việc gì đó hay không, đợi sau khi tìm hiểu rõ tình thế rồi thì mới tiếp tục tiến hành đại kế đi theo nghĩa quân của chúng ta.

Từ Tử Lăng không biết thế nào nhưng cũng rất muốn ra ngoài một chuyến.

Hai gã liền bái tế Phó Quân Sước, chôn giấu "Trường Sinh Quyết" trong sơn cốc rồi lấy y phục mặc vào, gói ghém tiền bạc, rời khỏi tiểu sơn cốc mỹ lệ đã khiến hai gã đau lòng đứt ruột, suốt đời không quên.

Lúc này trời đã vào thu, thời tiết mát mẻ.

Hai gã rốt cục vẫn là thiếu niên, dần dần cũng khôi phục lại sau sự đả kích của cái chết của Phó Quân Sước, bắt đầu cười cười nói nói, đồng thời sau khi sơ ngộ được một chút "Trường Sinh Quyết", lòng tin đối với bản thân cũng tăng lên rất nhiều.

Đi về hướng Nam được bảy ngày, hai gã gặp phải một thôn làng nhỏ, chỉ có hơn mười hộ dân, trong đó còn ánh đèn lại chỉ có hai ba nhà mà thôi, có lẽ tại nơi này chiến loạn liên miên nên đời sống nhân dân thập phần khó khăn, ai ai cũng phải sống tằn tiện.

Khấu Trọng và Từ Tử Lăng cảm thấy như vừa từ cõi khác trở lại nhân gian, sãi bước chạy như bay về phía thôn trang, chợt có tiếng chó sủa húng hoắng vang lên, tiếp đó là quần khuyển tương ứng, mấy con chó lớn gầm gừ, hầm hè dần dần tiến lại gần hai gã.

Hai gã thầm kinh hãi đề phòng, may sao lúc này có người chạy ra, quát đuổi bầy chó, còn nhiệt tình mời hai gã vào nghỉ qua đêm.

Sáng sớm hôm sau, hai gã để lại tiền phòng, hỏi rõ ràng đường đến trấn huyện lớn nhất ở vùng phụ cận, sau đó lại tiếp tục lên đường.

Đi thêm hơn chục ngày nữa, hai gã đến được một trấn lớn tên gọi Thúy Sơn ở phía Quận Tân An, phía Tây sông Chiết, ước chừng có khoảng hai ba ngàn hộ.

Thúy Sơn Trấn nằm phía đông Phàn Dương Hồ, nơi đây cuộc sống tương đối hưng vượng, nhà ngói cầu đá nhiều vô số kể, là một thị trấn phồn thịnh của vùng Giang Nam, quy mô tuy chỉ bằng một phần tư của Đơn Dương, cũng chẳng có thành cao hào sâu hay cửa thành gì cả, nhưng hai gã vừa nhìn thấy nơi đây đã lập tức nảy ra ý định muốn lưu lại rồi.

Điều hấp dẫn hai gã nhất là phụ nữ trong trấn rất coi trọng việc ăn mặc, vô luận là kiểu dáng cắt may hay chất vải đều biểu hiện ra vẻ đẹp lung linh, yêu kiều của nữ nhi vùng sông nước.

Đặc biệt là giờ đây trong đầu hai gã đã có thêm vài chữ, không còn vẻ du đãng như ngày xưa nữa, tâm tính cũng biến đổi gần hết, ngực cũng ưỡn lên thẳng hơn trước rất nhiều.

Hai gã tìm một khách điếm nhỏ trông có vẻ không sang trọng lắm, thuê một căn phòng nghỉ ngơi, sau đó mới lấy hết can đảm lần mò đến trấn công sở, nếu chẳng may gặp phải tôn dung của mình ở trên bảng treo thưởng thì đành phải lập tức cao bay xa chạy đến một nơi khác vậy.

Các thương điếm trong trấn đa phần là tiền điếm hậu phường, người thì ở trên lầu, tác phường và kho hàng đều nằm gần bên sông, triệt để lợi dụng sự thuận tiện của con đường sông nước để vận chuyển hàng hoá.

Đến trấn công sở, hai gã chỉ thấy trên bảng dán đầy thông cáo trưng binh mộ tốt chứ chẳng có bảng văn truy nã nào cả.

Khấu, Từ lòng như hoa nở, ôm nhau hoan hô, tung tăng dạo khắp nơi trên phố.

Một đám nữ tử trẻ tuổi cười nói vui vẻ đang đi về phía này, nhìn thấy hai gã mỗi người một vẻ, tướng mạo hiên ngang liền đưa mày đánh mắt, khiến cho hai tên tiểu tử sướng như lên tiên.

Từ cha sinh mẹ đẻ đến nay, lần đầu tiên hai gã được người khác, đặc biệt là người khác giới thưởng thức như vậy, tự nhiên lòng tin cũng tăng thêm rất nhiều.

Trên thực tế, sau một mùa hè ẩn cư trong sơn cốc, bởi vận động nhiều và tham luyện tâm pháp thượng thừa nên hai gã gần như đã thay da đổi cốt, biến thành hai thiếu niên thân hình tráng kiện, hiển lộ thần khí ra ngoài, tạo nên một thứ mị lực thiếu niên khó mà miêu tả được bằng lời.

Chẳng mấy chốc hai gã đã bị phong tục tập quán, tình quê nồng hậu nơi đây chinh phục, thầm nhủ cho dù lưu lại nơi này, lấy vợ sinh con cũng không phải là chuyện tồi lắm.

Ngày ấy ở Dương Châu hai gã suốt ngày mơ mộng cũng bởi vì bất mãn mới hiện tại, lại thường bị người ta ức hiếp, bây giờ đến nơi thế ngoại đào viên này, dân tình nồng hậu, cảm giác hoàn toàn mới mẻ, thế nên lập tức thay tâm đổi ý, không muốn đầu nhập nghĩa quân làm gì nữa.

Khấu Trọng liếc nhìn thấy một tấm bảng lớn viết "Lưu Xuân Viện", kéo tay Từ Tử Lăng, nháy nhó nói:

- Tiểu Lăng, còn chút nữa là ngươi mười sáu tuổi rồi, còn ta cũng sắp mười bảy, người ta mười bốn mười lăm đã lấy vợ nạp thiếp, vậy mà hai người chúng ta đến giờ vẫn còn là thân đồng tử...

Từ Tử Lăng mất kiên nhẫn ngắt lời:

- Ta hiểu ý của ngươi rồi, có ngân lượng rồi, tên tiểu tử ngươi lại ngứa ngáy đúng không? Ta không phản đối bỏ ra một phần làm phí mở mắt, nhưng ít nhất cũng phải đợi chúng ta tìm được việc làm, bố trí thu xếp nơi ăn chốn ở cho ổn thỏa xong đã, lúc ấy mới nghiên cứu việc tầm hoan tác lạc cũng chưa muộn, hơn nữa đây là vốn mà mẹ để lại cho chúng ta, chúng ta có thể xây một căn nhà tương đối, còn có thể kinh doanh một cửa hàng nho nhỏ, nhưng tuyệt đối không thể tiêu xài hoang phí được.

Khấu Trọng thấy gã cũng không phản đối, cười hì hì nói:

- Đương nhiên, đương nhiên, giờ chúng ta đi ăn một bữa no đã, sau đó đi thăm dò xem có công việc gì đang thiếu người làm hay không?

Hai gã đi đến trước cửa một tiệm ăn, đang định bước vào thì một hán tử cao lớn tráng kiện eo kẹp gói đồ xông ra như một cơn gió, y ra khỏi tiệm ăn, liền rẽ luôn sang bên phải, cứ thế mà đi. Một lão hán vừa gầy vừa lùn đuổi theo, lớn tiếng gọi tên hán tử kia, nhưng y chẳng thèm quay đầu, cứ tiếp tục lầm lủi bỏ đi.

Lão hán vừa lùn vừa gầy kia ngồi phệt xuống đất, dựa vào cửa, miệng không ngớt trù úm chửi rủa.

Hai gã chẳng hiểu gì cả, đang định bước vào trong thì lão hán đã gắt lên:

- Hôm nay không mở cửa, từ nay cũng không mở cửa nữa!

Giờ hai gã mới biết đây là ông chủ của tiệm ăn, người ông ta toàn mùi dầu mỡ, hiển nhiên cũng kiêm luôn cả chức hỏa đầu quân.

Khấu Trọng trời sinh đã hiếu kỳ, liền lên tiếng hỏi:

- Tại sao sau này không buôn bán nữa?

Lão hán liếc nhìn hai gã một cái, "hừ" nhẹ rồi nói:

- Tên phá gia chi tử đó bỏ đi rồi, nữ nhân của ta cũng bỏ đi từ tháng trước, ta chỉ có một mình làm sao liệu lí được cả căn tiệm to thế này?

Nói đoạn lại cúi đầu thở dài:

- Nói về tài nghệ trong bếp, nếu lão Trương ta nhận mình là đệ nhị, thử hỏi có ai dám nhận là đệ nhất không? Nào là cơm chiên dầu, cơm thanh phong, cơm ngọc cảnh, có thứ nào mà lão Trương ta không làm được? Chẳng ngờ tên phá gia chi tử kia lại không muốn kế thừa tuyệt kỹ, cả ngày chỉ đòi tham gia nghĩa quân kiến công lập nghiệp, ngươi xem, ngày sau nó mà mang bộ dạng ăn mày trở về đây, ta quyết không nuôi nó nữa! Hừ, ta sẽ bỏ về quê, để nó muốn tìm ta cũng tìm không được.

Hai gã đưa mắt nhìn nhau, cùng lúc ngồi xổm xuống. Khấu Trọng nói:

- Vậy thì thật đáng tiếc, căn tiệm lớn như vậy phải đóng cửa thì phí quá, chi bằng hãy nhận chúng tôi vào làm việc cho lão, đồng thời cũng làm đồ đệ luôn, như vậy thì tuyệt kỹ của Trương công sẽ không bị thất truyền. Cùng lắm thì chúng tôi nhận lương ít một chút, mỗi tháng cứ đưa chúng tôi hai trăm tiền là được.

Lão Trương ngạc nhiên đưa mắt quan sát hai gã một hồi lâu rồi tò mò hỏi:

- Hai ngươi là người ở đâu?

Nghe Khấu Trọng huyên thuyên một hồi, lão lại hỏi tiếp:

- Có phải cả hai người là hai mươi quán tiền không?

Mỗi quán mười tiền, hai mươi quán tức là hai trăm tiền, đối với một người thì đây đã là số tiền công vô cùng rẻ mạt rồi, vậy mà ở đây những hai người, lão cũng chỉ trả có hai trăm tiền, quả thật lại càng rẻ mạt hơn, chẳng trách ngay cả con lão cũng chịu không nổi mà bỏ đi.

Khấu Trọng chỉ muốn học nghề nấu ăn của lão, để sau này mở tiệm kinh doanh, có điều gã cũng là tay tính toán lợi hại, không nghĩ ngợi gì nói luôn:

- Vậy phải bao ăn, bao ở!

Lão Trương nheo mắt nhìn hai gã, nói giọng hết sức khó nghe:

- Bao ăn bao ở cũng được, nhưng tất cả công việc quét dọn tạp vụ hai người đều phải làm hết!

Khấu Trọng cười cười nói:

- Xong rồi! Bây giờ chúng tôi đang đói gần chết, bữa cơm này đương nhiên phải tính cho sổ của Trương lão bản rồi!

Hai gã liền dọn đến ở trên căn phòng mà nhi tử của lão Trương bỏ lại, hàng ngày trời chưa sáng đã phải thức dậy làm việc, sau bữa trưa lão Trương đi ngủ một giấc thì hai gã phải đi mua bán vật thực, đến tối dọn cửa hàng, lão Trương đi tắm rửa nghỉ ngơi thì hai gã lại phải rửa bát quét nhà, mệt đến thở không ra hơi, đừng nói đến thanh lâu mở mắt, ngay cả ngủ một giấc hai gã cũng chẳng còn thời gian.

Có điều, quả thực lão Trương có bản lĩnh, danh tiếng như cồn, những thương khách qua đường đều ghé vào đây thưởng thức.

Tiệm ăn này chỉ bán có ba loại cơm, đó là "cơm chiên dầu", "cơm Thanh Phong" và "cơm Ngọc Cảnh", nhưng tài nghệ của lão Trương không chỉ dừng lại ở đó.

Từ khi có Khấu Trọng và Từ Tử Lăng, lão cũng bất thời làm thêm những món mà thực khách yêu cầu.

Hai gã có tâm học nghệ, lão Trương lại tuổi già sức yếu nên cũng ngày càng tín nhiệm hai gã, dần dần truyền hết tuyệt kỹ của mình.

Ba tháng sau, hai gã đã tràn đầy lòng tin có thể tự mở động quyền động cước rồi, nhưng mặt khác, cả hai cũng bắt đầu cảm thấy mệt mỏi cái nghề nấu nướng này. Đồng thời hai gã cũng sợ sẽ nếu mình bỏ đi, lão Trương sẽ chịu đựng không nổi.

Tối hôm ấy, sau khi đóng cửa, nhân lúc lão Trương đã lên lầu, hai gã liền ngồi xuống thương nghị.

Khấu Trọng nói:

- Chúng ta đã quyết định không gia nhập nghĩa quân hay là làm võ lâm cao thủ gì đó rồi đúng không?

Từ Tử Lăng dựa lưng vào ghế, thở dài nói:

- Bận đến tối mắt tối mũi, chẳng còn chút thời gian rỗi thế này xem ra cũng chẳng hứng thú gì!

Khấu Trọng nói:

- Nếu khổ như vậy, chi bằng chúng ta ở đây thêm ba tháng nữa đến hết năm, mùa xuân tiết trời ấm lại, chúng ta sẽ rời khỏi chỗ này.

Từ Tử Lăng khổ não nói:

- Nhưng ta có chút không nỡ!

Khấu Trọng cười khổ nói:

- Ta cũng có chút không nỡ, nhưng ta nghĩ thế này, đã gọi là nam nhi chí tại bốn phương, chúng ta tại sao không đến phương Nam đầu nhập Tống Gia, cái người Tống Lỗ kia đối với chúng ta cũng không tồi, nếu có thể bái ông ta làm thầy, nói không chừng chúng ta lại có thể đạt thành ước nguyện chứ chẳng chơi.

Nói đoạn nghiến răng kèn kẹt:

- Nếu luyện thành võ công, ta nhất định sẽ giết chết tên gian tặc Vũ Văn Hóa Cập đó!

Từ Tử Lăng thê lương nói:

- Đêm qua ta nằm mơ thấy mẹ, mẹ mắng ta không có chí khí, không dám báo cừu rửa hận cho mẹ!

Khấu Trọng thở dài, buồn bã nói:

- Quả thật là chúng ta đã quá nhát gan, không đáng là nam tử hán đại trượng phu, đánh không xong thì chết là cùng chứ gì. Những ngày này chúng ta hết sợ luyện công gian khổ thì lại sợ tẩu hỏa nhập ma, không dám tiếp tục vậy thì làm sao xứng đáng với mẹ được, ta quyết định sẽ thay đổi, kể từ ngày mai sẽ tiếp tục luyện công, luyện đến khi nào giết được tên Vũ Văn Hóa Cập đó mới thôi.

Trong mắt Từ Tử Lăng lóe lên một vẻ tinh anh trước giờ chưa từng thấy, nắm chặt tay gã nói:

- Ngươi nói như vậy ta thật là mừng quá, trước đây chúng ta ở Dương Châu chí còn cao hơn cả trời, bây giờ làm sao có thể biến thành loài rùa rút đầu được?

Chi bằng ngày mai lập tức lên đường đi!

Khấu Trọng ngạc nhiên nói:

- Tại sao lúc nãy nhãn thần của ngươi lại đột nhiên sáng rực lên giống như mẹ ngày trước vậy?

Từ Tử Lăng ngần ngừ giây lát rồi trầm ngâm nói:

- Nói thật, tuy ta không có ý luyện công, nhưng mỗi đêm nằm xuống thì trong đầu lại hiện lên đồ hình trong sách, chân khí cứ thế mà tự động chuyển lưu đi khắp cơ thể.

Khấu Trọng hối hận nói:

- Sớm biết thế này ta cũng cần cù luyện công như ngươi có phải hay không, sau này tuyệt đối không thể lười biếng thế này nữa. Được rồi! Sáng mai chúng ta lập tức lên đường!

Từ Tử Lăng trầm ngâm:

- Vậy ai sẽ lên nói với lão Trương đây?

Khấu Trọng cười khổ:

- Cùng lên đi, lão quỷ keo kiệt này cũng cần phải được giáo huấn một chút!

Phấn Đấu Quên Mình

Ngày hôm sau, trời còn chưa sáng hai gã đã xách hành lý lên đường.

Chính quyết định đột biến này đã thay đổi cuộc đời hai gã, cũng thay đổi cả vận mệnh của thiên hạ và võ lâm.

Đích đến là Lạc Dương, vùng đất phía Đông của Đại Tùy.

Ngày ấy Tống Lỗ từng nói sau khi đến Tứ Xuyên làm công chuyện, y sẽ đến Lạc Dương thử vận may tìm Hòa Thị Bích trong truyền thuyết, bởi đây không phải là chuyện dăm bữa nửa tháng có thể làm xong, nên mặc dù đã cách nửa năm, nhưng hai gã vẫn muốn thử đến Lạc Dương một chuyến, xem xem có thể gặp được Tống Lỗ không.

Càng đến gần Trường Giang, hai gã càng cảm nhận được sự áp bức của chiến loạn tới gần kề, trên đường bất thời đều gặp phải người đang chạy loạn, khi được hỏi đến thì chẳng ai biết mình đang chạy trốn người nào nữa, ngay cả Tùy Quân hay Nghĩa quân cũng không phân biệt được.

Ngày hôm đó, hai gã đến một huyện thành nhỏ, tìm khách điếm trọ qua đêm. Nửa đêm, đột nhiên nghe thấy tiếng rầm rập trên phố, quang cảnh hỗn loạn phi thường.

Hai gã biết có chuyện chẳng lành, vội thu xếp hành lý, chạy ngay xuống lầu, kéo áo một trong những khách trọ đang định bỏ chạy lại hỏi thăm.

Người kia nói:

- Đỗ Phục Uy đã đại phá quân Tùy ở Đông Lăng, tiến chiếm Lịch Dương, thật không ngờ quân mã của y lại đến nhanh như vậy!

Nói đoạn lại hoảng hốt bỏ đi.

Hai gã cũng không ngờ Lịch Dương lại thất thủ nhanh đến vậy, làm hỏng cả kế hoạch đến Lịch Dương ngồi thuyền lên Bắc của chúng. Ra đến ngoài phố, chỉ thấy người xe tranh đường, giẫm đạp lên nhau mà trốn chạy xuống hướng Nam, dọc đường tiếng trẻ kêu góc gọi mẹ vang động cả trời xanh. Hai gã tuy đảm lượng hơn trời, nhưng dù sao cũng vẫn chỉ hai hai đứa trẻ to đầu, nhất thời bị không khí thê lương, thảm đạm cực độ đó làm cho cảm nhiễm, lòng dạ rối như tơ vò, vội vội vàng vàng đi theo dòng người rời khỏi huyện thành.

Trên đường vứt đầy những thứ người dân chạy loạn bỏ lại, gia cụ, y phục, mũ mão, giầy dép, có thể thấy tình hình hỗn loạn thế nào.

Hai gã cố sống cố chết nắm chặt tay đối phương, sợ bị dòng người xô đẩy làm lạc mất nhau.

Ra đến thành ngoại, thấy khắp nơi đều là người dân chạy nạn đang cầm đèn cầm đuốc dáo dác bỏ chạy, thật không ngờ một huyện thành nhỏ bé, ngày thường trên phố vắng teo, vậy mà lại có nhiều người đến vậy.

Khấu Trọng kéo tay Từ Tử Lăng thay đổi phương hướng, rẽ theo đường nhánh rời khỏi đoàn người, trầm giọng nói:

- Chúng ta vẫn phải lên phía Bắc, cùng lắm thì không đến Lịch Dương nữa.

Từ Tử Lăng gật đầu nói:

- Như thế được lắm, chúng ta chỉ cần cẩn thận một chút là được.

Hai gã thương thảo một hồi, sau liền quay ngược trở lại, tiếp tục ngược lên mạn Bắc.

Từ sau khi rời khỏi Thúy Sơn, đây là lần đầu tiên hai gã đi đường trong đêm, bất ngờ lại phát hiện ra mặc dù chỉ có chút ánh sáng mờ nhạt của mấy vì sao, nhưng hai gã vẫn nhìn đường sáng rõ như ban ngày.

Đi được khoảng hơn một canh giờ, chợt thấy phía trước lửa bốc ngụt trời, cùng với đó là tiếng hò hét vang dội, hai gã sợ đến hồn bay phách lạc, vội vội vàng vàng chuyển hướng bỏ chạy, chính vì vậy, mà cả hai đã mất hết cả cảm giác về phương hướng.

Đến sáng ngày hôm sau, hai gã đến được một thôn làng nhỏ, đang định tìm người hỏi đường thì bất chợt có tiếng vó ngựa rầm rập vang lên, một đội nhân mã lao từ trên triền núi xuống như gió. Hai gã cả kinh, vội vàng nấp vào một bụi cỏ gần đó.

Đội nhân mã này ước chừng hơn sáu chục người, chỉ cần nhìn võ phục hỗn loạn trên mình chúng cũng biết đây là nhân mã của nghĩa quân, trên tay kẻ nào cũng buộc một dải khăn xanh. Toán quân xông thẳng vào thôn làng, phóng tiễn hạ sát mấy con chó đang lao ra cản chân ngựa, tiếp đó xông vào từng nhà một lục soát, dồn hết hơn trăm nam nữ lão ấu trong làng ra ngoài, nhất thời gà bay chó chạy, tiếng kêu than khóc lóc vang trời, khiến hai gã cảm thấy vô cùng bất nhẫn.

Nếu như hai gã có võ công cái thế, lúc này đã xông ra chủ trì chính nghĩa rồi.

Nhưng hai gã cũng biết được một điều, dù là võ nghệ cái thế như Sở Bá

Vương Hạng Vũ thì cũng cần phải có đủ thứ điều kiện khác nữa, bằng không thì cũng đâu có kết cục phải tự vẫn bên dòng Ô Giang như vậy.

Ở trong cái thời đại loạn lạc này, lực lượng của một người nhỏ đến mức căn bản không đáng nhắc đến.

Quân khăn xanh bắt nam nữ trong thôn xếp thành hai hàng riêng biệt, sau đó triển khai vòng vây, đề phòng có ai trốn thoát.

Hai gã giờ mới hiểu tại sao khi nghe tin nghĩa quân sắp tới, cả huyện thành lại bỏ chạy sạch sẽ như vậy.

Đáng thương cho đám người ở thôn làng này tin tức không linh, quân binh vào tận trong thôn rồi mà vẫn chưa biết là chuyện gì xảy ra.

Hai gã nào đã từng thấy qua cảnh tượng như thế này, nhìn thấy đám nghĩa binh, tay cầm đao cầm kiếm, kẻ nào cũng là hạng hung đồ giết người không nháy mắt, nên chẳng dám thở mạnh lấy một hơi. Đặc biệt bọn gã chỉ cách tên nghĩa binh gần nhất có hơn mười bước, quả thật là nguy hiểm vô cùng.

Một tên trong bọn xem ra có vẻ là thủ lĩnh của đám nghĩa quân này dẫn theo bốn gã tùy tùng, thúc ngựa đi chầm chậm xung quanh, chọn ra những thanh niên trai tráng đẩy ra một bên, một tên khác lấy dây thừng ra trói họ lại thành một sâu, thái độ ngang ngược vô đạo phi thường. Người nào dám phản kháng, roi ngựa lập tức quất xuống như điên cuồng, đánh cho thừa sống thiếu chết.

Hai gã nhìn cảnh tượng này mà xanh mặt tím mày, nhưng chỉ có thể nén phẫn hận lại trong lòng mà không dám nói ra.

Những người phụ nữ thấy nhi tử, trượng phu của mình bị bắt đi làm phu dịch, gào khóc thảm thương, nỗi thống hận thấu tận trời xanh.

Nhưng đám người được gọi là nghĩa quân này kẻ nào kẻ nấy đều hung hãn tàn ác, tuyệt chẳng có chút lòng trắc ẩn.

Tên thủ lĩnh đám quân binh sau khi chọn xong nam đinh, đi dạo một vòng xung quanh đám phụ nữ hài nhi, đột nhiên dừng ngựa lại, chỉ roi vào một nữ nhân quát:

- Ngươi ra đây!

Đám thôn dân lập tức làm loạn lên, nhưng nhanh chóng đã bị lũ "nghĩa quân" quát dẹp, đương nhiên cũng không tránh khỏi mấy người bị đánh đến trọng thương, bán sống bán chết.

Hai gã Khấu, Từ nhìn mà lồng ngực như muốn nổ tung, nhưng hai gã cũng biết, dù mình có ưỡn ngực xông ra cũng chẳng được tác dụng gì, ngược lại chỉ chuốc họa vào thân mà thôi. Đến giờ cả hai thấy cái cách nghĩ dựa vào nghĩa quân, gia nhập nghĩa quân của mình trước đây sao mà ngu muội, sao mà ngây thơ đến thế.

Thôn nữ kia bị kéo ra ngoài, quả nhiên là một tiểu mỹ nhân, thân hình đầy đặn, khuôn mặt thanh tú chẳng trách đã làm cho tên đầu lĩnh kia phải động tâm.

Tên đầu lĩnh cười lên một tràng dâm dật, chợt một gã thanh niên nghĩa binh lạnh lùng lên tiếng:

- Kỳ lão đại, Đỗ Tổng quản không phải đã có lệnh là không được gian dâm phụ nữ hay sao? Bây giờ Kỳ lão đại ngươi dừng ngựa trước vực thẳm có lẽ vẫn còn kịp đấy!

Người này mặt đầy chính khí, lại dám dĩ hạ phạm thượng, Khấu Trọng với Từ Tử Lăng không ngờ trong đám nghĩa quân ô hợp lại có nhân vật thế này, trong lòng cũng thầm khâm phục.

Kỳ lão đại "hừ" lạnh nói:

- Lý Tịnh ngươi hãy bớt quản chuyện không phải của mình đi, bây giờ ta đã gian dâm phụ nữ chưa? Ta chỉ muốn dẫn mỹ nữ này về nhà, mai mối cưới hỏi đàng hoàng, nạp làm thê thiếp, như vậy chẳng lẽ không được? Lẽ nào Đỗ gia lại quản cả chuyện hôn nhân của thuộc hạ?

Lý Tịnh đang định lên tiếng thì thôn nữ kia đột nhiên há miệng cắn mạnh vào tay tên quân lính đang giữ chặt mình, tên quân khăn xanh nhất thời đau quá liền buông tay. Cô thôn nữ không biết lấy đâu ra sức lực, lao như điên cuồng ra khỏi trùng vây, chạy thẳng về phía hai gã Khấu, Từ đang ẩn nấp.

Bốn tên quân khăn xanh khác lập tức quát mắng, thúc ngựa đuổi theo.

Hai gã Khấu, Từ thấy vẻ mặt khiếp sợ kinh hãi của cô thôn nữ, tức thì một bầu nhiệt huyết trào lên trong ngực, chẳng kể đến sự an nguy của bản thân, cúi xuống nhặt đá, xông ra ném về phía mấy tên quân khăn xanh đang đuổi theo.

Trước đây ở Dương Châu, công phu lợi hại nhất của hai gã chính là ném đá, có thể nói là công đa nghệ thục, viên đá bay một đường thẳng như kẻ chỉ lao tới mấy tên quân binh. Bọn chúng bởi không phòng bị, nên đã có hai tên trúng đá vào giữa ngực, ngã lăn xuống ngựa.

Lúc này cô thôn nữ cũng sức cùng lực kiệt, ngã nhào xuống đất.

Khấu Trọng chợt cảm thấy toàn thân bừng bừng, nội kình chân khí lan tỏa khắp cơ thể, tựa hồ như có hổ dữ tới đây gã cũng có thể đánh chết hai ba con vậy, những hòn đá ném ra cũng có lực đạo hơn gấp bội phần, trong lòng cao hứng khôn tả, gã quay sang phía Từ Tử Lăng hét lớn:

- Tiểu Lăng, mau cứu người cướp ngựa!

Những hòn đá ném ra liên tiếp, hai tên quân khăn xanh còn lại đang định giương cung nạp tiễn thì đã ăn phải hai hòn đá vào mặt, kêu thảm lên một tiếng rồi ngã lăn xuống đất.

Tiếng vó ngựa rầm rập vang lên, đám quân khăn xanh thấy đồng bọn bị ngã liền lập tức trào lên như nước lũ.

Lúc này Từ Tử Lăng đã đỡ thôn nữ kia dậy, đang không biết làm sao lên ngựa thì thấy truy binh đuổi tới nhất thời hoảng hốt mà quên đi rằng mình không biết võ công, cứ thế đuổi theo một con chiến mã vừa chạy vọt qua, còn đỡ cả thiếu nữ kia nhẹ nhàng bay lên mình ngựa một cách hết sức dễ dàng.

Lúc này Khấu Trọng cũng đã nhảy lên một con chiến mã khác, nhưng chiến mã đã lập tức dựng đứng người lên, hất gã rơi xuống đất.

Từ Tử Lăng cũng bị con ngựa lồng lên, quay mòng mòng mà không có cách nào điều khiển nó lao về phía trước.

Đám quân khăn xanh chỉ còn cách hai gã chừng vài chục bước, mấy tên đi đầu đã giương cung nạp tiễn, song vì sợ đả thương ngựa nên còn chưa tên nào buông tên.

Từ Tử Lăng kêu lớn:

- Trọng thiếu gia mau lên!

Khấu Trọng lúc này không biết làm thế nào, chỉ hét lên một tiếng rồi tung mình lên không, hạ thân xuống lưng ngựa của Từ Tử Lăng, ôm chặt eo gã hét lên:

- Chạy mau!

Chính vào lúc tình thế gấp gáp đến độ có thể khiến người tóc đen biến thành bạc trắng này, thôn nữ đột nhiên nắm lấy dây cương, hô lên một tiếng, đôi chân nhỏ thúc mạnh vào hông con ngựa.

Chiến mã hí lên một tiếng dài, lao về phía trước như một mũi tên, mắt thấy sắp lao vào cây rừng thì đột nhiên trước mặt hiện ra một con đường đất, sau vài lượt rẽ trái ngoặt phải, Khấu Trọng, Từ Tử Lăng và cô thôn nữ đã bỏ lũ tặc binh không quen đường lại phía sau.

Khấu Trọng và Từ Tử Lăng cùng lúc hoan hô vang dội, cùng lúc Từ Tử Lăng cũng giật mình nhận ra mình đang ôm chặt thân thể mềm mại của một vị cô nương hoàn toàn xa lạ.

Cô thôn nữ này chẳng những kỵ thuật tinh thâm, mà đối với địa hình nơi đây cũng nắm rõ như lòng bàn tay, chỉ thấy cô điều khiển ngựa xuyên qua rừng sâu, lên đồi xuống dốc, qua suối vượt đèo, chẳng mấy chốc tiếng hò hét truy đuổi của địch nhân đã hoàn toàn biến mất.

Ba người đang cao hứng thì bỗng nhiên chiến mã sút móng, hất tung cả ba người vào một bãi cỏ, rồi ngã gục xuống đất.

Khi cả ba vừa bò dậy, cô thôn nữ xinh đẹp kia chợt kinh hãi kêu lên một tiếng, dùng hai tay ôm chặt trước ngực. Thì ra trong lúc chạy trốn, y phục của nàng ta đã bị móc rách cả, để lộ ra hai gò ngực trắng như tuyết.

Hai gã vội quay người không dám nhìn.

Khấu Trọng thấy nàng ta chỉ thấp hơn mình chừng ba bốn thốn, liền ném bao phục về phía sau rồi nói:

- Y phục đều sạch sẽ cả đấy, lấy tạm một bộ mà thay đi, chúng tôi sẽ không nhìn lén đâu.

Sau một hồi sột soạt, thôn nữ cất giọng hổ thẹn nói:

- Thay xong rồi!

Hai gã quay người lại, nhất thời đều ngây người ra, trong lòng thầm nhủ:

"Không ngờ nàng ta lại xinh đẹp như vậy!".

Thôn nữ này tuổi chừng đôi mươi, hai mắt đen láy, da trắng như bạch ngọc, mặc y phục của đàn ông vào lại có một vẻ phong vận khác thường.

Chỉ thấy nàng ta đưa tay vẫy vẫy hai gã lại, thấp giọng nói:

- Đi theo tôi!

Hai gã quay đầu lại nhìn con chiến mã đã sùi bọt mép, thoi thóp nằm dưới đất, thở dài một tiếng rồi đi theo nàng thôn nữ.

Đi chừng hơn nửa canh giờ, ba người đến được một thạch động kín đáo trên núi, thiếu nữ đợi cho hai gã ngồi xuống rồi cúi đầu nói:

- Đa tạ hai vị hảo hán trượng nghĩa cứu giúp, tiểu nữ tử vô cùng cảm kích!

Hai gã lần đầu tiên được tôn xưng làm hảo hán, trong lòng sung sướng đến tận mây xanh, nhưng trong lòng cùng lúc dấy lên một mối nghi ngờ. Nữ tử này dáng vẻ không giống như thôn nữ bình thường, hơn nữa cách ăn nói cũng khác hẳn với những cô gái lớn lên trong cảnh nghèo khó ở một thôn làng nhỏ bé hẻo lánh như nơi này.

Nữ tử thấy hai gã tròn mắt nhìn mình, có vẻ như đang hoài nghi gì đó, đồng thời cũng phát giác hai gã này tuy thân hình khôi vĩ, nhưng thực tế vẫn chỉ là hai tên tiểu tử to đầu kém mình vài tuổi, khuôn mặt ngây thơ vô tà, bất giác cảm giác xấu hổ và sợ hãi giảm đi gần hết, nhẹ giọng nói:

- Nô gia tên Tố Tố, không phải là người của Phổ Gia Thôn, chỉ vì bị thất tán với chủ nhân nên mới chạy loạn đến đây, được người của Phổ Gia Thôn hảo tâm lưu lại cho ăn cho uống!

Khấu Trọng làm ra vẻ hiểu biết nói:

- Tố Tố tỷ tỷ xinh đẹp như vậy, dù là có hảo tâm hay không hảo tâm thì cũng có rất nhiều người muốn tranh giành để lưu giữ tỷ lại, đây là chuyện hết sức tự nhiên!

Tố Tố đỏ mặt nói:

- Không phải như vậy đâu!

Từ Tử Lăng thấy gã bắt đầu ba hoa, liền lừ mắt một cái rồi hỏi:

- Tỷ tỷ đã ở đây bao lâu, tại sao lại thông thuộc hoàn cảnh đến vậy?

Khấu Trọng cũng cười hì hì nói:

- Kỵ thuật của tỷ tỷ đúng thật là lợi hại vô song!

Hai gã trước giờ luôn bị người khác khinh khi ăn hiếp, vì vậy khi được người khác đối xử tốt mới mình một chút, cả hai đều vô cùng cảm động. Hiện giờ tự dưng lại có một vị tỷ tỷ xinh đẹp gọi chúng là anh hùng hảo hán, cái thứ cảm giác mới mẻ mà hưng phấn này thiết nghĩ không cần phải nói cũng có thể hiểu được.

Tố Tố không biết vì sao mà hai má bỗng đỏ hồng, nhẹ giọng nói:

- Tôi sống ở Phổ Gia Thôn mới được một tháng thôi, nhưng đã từng ba lần theo dân làng đến đây săn bắn rồi nên mới biết ở đây có một hang động, còn về kỵ thuật thì... đều là tiểu thư nhà tôi dạy cả đấy. Hình như hai người chưa từng cưỡi ngựa thì phải?

Hai gã ngần ngại, thầm nhủ: "Làm gì có anh hùng hảo hán nào lại không biết cưỡi ngựa chứ?".

Khấu Trọng khẽ đằng hắng một tiếng, lảng tránh sang chủ đề khác:

- Tiểu thư của tỷ tỷ không biết là người ở đâu?

Tố Tố thấy hai gã trước sau gọi mình là tỷ tỷ thân thiết như vậy, trong lòng cũng cảm thấy vui thích, liền nhu hòa nói:

- Tiểu thư nhà tối vốn là độc nữ của Trác lão gia Trác Vô Hà, ngày hôm đó, đội ngũ của chúng tôi bị tập kích, mọi người đều chạy toán loạn. Nhưng tiểu thư của tôi võ nghệ cao cường, có lẽ sẽ vô sự, giờ chắc tiểu thư đã đến Vinh Dương rồi.

Trong ba tháng làm tạp vụ nấu bếp trong tiệm ăn của lão Trương, mỗi ngày bọn thương khách qua lại đều bàn tán xôn xao các tin tức, lời đồn từ khắp nơi truyền về, trong đó được nhắc đến nhiều nhất chính là Trác Nhượng và đại tướng của lão Lý Mật.

Năm trước, Lý Mật đầu quân cho Trác Nhượng, khiến thực lực của Trác Nhượng gia tăng đáng kể. Họ Lý này đã đại phá Tùy quân ở Đại Hải Tự, Vinh Dương, đuổi giết Trương Tu Đà. Quân Ngõa Cương từ đó thanh thế đại thịnh, oai trấn bát phương, trở thành đại long đầu của nhiều lộ binh mã, đích thực thế lực không thể xem thường. Chẳng ngờ vị tỷ tỷ xinh đẹp ngồi trước mắt hai gã lại là a hoàn của nữ nhi của Trác Nhượng.

Khấu Trọng kinh ngạc nói:

- Vinh Dương không phải là chỗ ở cách Lạc Dương có gần trăm dặm sao?

Tại sao tỷ tỷ lại lưu lạc đến tận đây như vậy?

Tố Tố đáp:

- Tiểu thư muốn đến Lịch Dương nghe Thiên Hạ Đệ Nhất Tài Nữ Thượng T úPhương hát xướng, nào ngờ tin tức bị tiết lộ, chưa đến nơi thì đã xảy ra chuyện.

Nếu không phải vì ngựa của tỷ tỷ đây chạy nhanh, e rằng đã không có duyên gặp phải các đệ rồi.

Không biết từ lúc nào, nàng đã tự nhận làm tỷ tỷ của hai gã.

Chính vào lúc này, một tiếng ho nhẹ từ ngoài cửa động truyền vào.

Ba người nghe tiếng kinh hãi khôn tả, vội quay đầu ra quan sát. Chỉ thấy một người thân hình cao lớn, tuổi chừng hai hai, hai ba đang bước vào bên trong động. Khấu Trọng tròn mắt nhìn y, thất thanh kêu lên:

- Ngươi không phải là kẻ tên Lý Tịnh ấy hay sao?

Người này chính là gã thanh niên Lý Tịnh đã lên tiếng cảnh cáo tên thủ lĩnh Kỳ lão đại, y tuy không anh tuấn lắm, tướng mạo lại thô hào, nhưng mũi thẳng trán cao, khuôn mặt rộng mở, song mục sáng ngời, làm cho người ta có cảm giác rằng y là một nhân vật vừa trầm tĩnh ổn định, lại túc trí đa mưu.

Lý Tịnh mỉm cười, lộ ra hai hàm răng trắng như tuyết, hoàn toàn tương phản với làn da đen bóng, thô rám của y, gật đầu nói:

- Ta chính là Lý Tịnh, vị tiểu huynh đệ này nhãn lực thật là lợi hại, lúc ấy ta và hai người cách nhau ít nhất cũng phải mười lăm bước chân, vậy mà tiểu huynh đệ vẫn có thể nhận ra tướng mạo của Lý mỗ, vừa liếc thấy đã gọi ra tên. Nhưng thân thủ của các ngươi lại không giống người đã từng luyện qua võ công lắm, điều này mới thật là kỳ quái!

Hai gã đều chấn động trong lòng, Lý Tịnh này chỉ dựa vào một câu nói của Khấu Trọng mà có thể suy luận ra bao điều như vậy, quả thật trí mưu và kiến thức không phải hạng tầm thường.

Tố Tố run run nói:

- Cùng lắm ta cùng với hảo hán quay trở lại, xin chớ làm hại hai đứa nó!

Lý Tịnh cười lên ha hả:

- Chỉ bằng một câu nói có tình có nghĩa này của tiểu thư, Lý Tịnh này dù cóp hải liều mạng cũng phải bảo vệ các vị. Ba người yên tâm, chỉ có một mình ta đến đây thôi, tên Kỳ lão đại kia đã bị ta bắn chết rồi, cái thứ dâm đồ đó có lưu lại trên thế gian cũng chỉ hại thêm nhiều người nữa mà thôi.

Khấu Trọng thấy y khí độ hơn người, dáng vẻ cũng thập phần dũng mãnh, biết rằng dù hai gã có hợp lực lại cũng không phải đối thủ của y, huống hồ trên người Lý Tịnh còn có trường đao cung tiễn. Có điều y nói đã bắn chết Kỳ lão đại, lại nói sẽ liều mạng bảo vệ ba người, trong lòng nghĩ mãi cũng nghĩ không ra lý do để y lừa gạt mình, tinh thần giới bị cũng giảm đi ít nhiều:

- Lý đại ca, mời ngồi!

Lý Tịnh cởi cung tiễn, đặt đao xuống đất, ngồi xuống bên cạnh ba người.

Đợi mọi người ngồi xuống hết mới mỉm cười nói:

- Đáng lẽ ta đến từ lâu rồi, nhưng vì phải quét dọn vết tích của ba người lưu lại nên mới đến trễ một chút!

Từ Tử Lăng và Khấu Trọng đưa mắt nhìn nhau, lắc đầu nói:

- Chúng ta không nghĩ đến điểm này!

Lý Tịnh cười vui vẻ vỗ vào lưng gã một cái, tay kia giơ ngón cái lên nói:

- Kiến nghĩa hữu vi, không sợ cường bạo, là hành vi của hảo hán. Càng khó hơn là hai người còn chưa thành niên đã có đảm lượng, mưu trí và thân thủ như vậy, tương lai nhất định sẽ trở thành nhân vật siêu phàm xuất chúng.

Tiếp đó lại quay sang nói với Tố Tố:

- Kỵ thuật của tiểu thư cũng cao siêu lắm!

Ba người được y tán thưởng, mặt đỏ hồng lên, đồng thời cũng sinh hảo cảm với hán tử này.

Tố Tố nói:

- Đám quân khăn xanh đó liệu có trút giận lên người của Phổ Gia Thôn không?

Lý Tịnh làm như không có chuyện gì nói:

- Đây là nguyên nhân thứ hai khiến ta phải đến muộn, chính là phải phóng thích cho dân làng vô tội, chứ giết Kỳ lão đại và mấy tên chó theo đuôi hắn bất quá cũng chỉ mất nửa tuần trà mà thôi.

Tố Tố tuy hoan hỉ trong lòng, nhưng cũng có chút sợ hãi vì Lý Tịnh hoàn toàn chẳng coi chuyện giết người là quan trọng.

Lý Tịnh cười nhạt nói:

- Giết người có thể đoạt ngựa, nhưng bởi vì ta không đoán được tiểu thư là người nơi khác, nên chỉ dẫn có hai con ngựa tới đây, đến giờ gặp được tiểu thư, mới biết mình đã mang thiếu một con ngựa.

Khấu Trọng và Từ Tử Lăng trong lòng bội phục vô cùng, Lý Tịnh này quả đúng là nhân vật trí dũng song toàn. Nhưng cả hai cũng không cầm được mà nảy sinh chút cảm giác sợ hãi với con người này.

Lý Tịnh quan sát hai gã hồi lâu rồi thành khẩn nói:

- Đây là thời đại mà thiên hạ đại loạn, gặp nhau nói chuyện phải bằng binh đao, người không tử thì ta ắt vong, con người mà không tâm lang thủ lạt tất sẽ bị đào thải. Vì vậy, chúng ta phải nhận định rõ mục tiêu, định ra nguyên tắc của mình, phân rõ hắc bạch thị phi, bạn bè bằng hữu hay oan gia, kẻ thù, như vậy là đã có thể không hổ thẹn với lương tâm của mình rồi.

Tố Tố nói:

- Còn những kẻ mà hảo hán chưa giết, bọn chúng liệu có tìm đến đây không?

Lý Tịnh mỉm cười nói:

- Chủ yếu là chúng sẽ tìm ta để tính nợ, Đỗ Phục Uy danh tiếng tuy lớn, nhưng lại không có đảm lược và tài trí để tranh thiên hạ, lại dung túng thủ hạ, tham cái lợi trước mắt mà cưỡng bức trai tráng gia nhập đội ngũ, làm cho thiên oán nhân nộ, thôn trấn hoang tàn... trước đây ta còn coi y như một nhân vật đáng trọng, bây giờ thì đã nhìn rõ rồi.

Khấu Trọng thích nhất là nói chuyện nghĩa quân, chỉ vì Từ Tử Lăng không hứng thú lắm nên mới không có đối tượng để nói chuyện, nay gặp được Lý Tịnh, thật chẳng khác gì người trong nghề gặp nhau, vui mừng khôn xiết nói:

- Lý đại ca cho rằng đạo nghĩa quân nào là có tiền đồ nhất?

Từ Tử Lăng nghĩ ngợi giây lát, chợt nhớ tới Tố Tố cũng có thể coi là người của Trác Nhượng, liền nhắc nhở gã:

- Trọng thiếu gia, không được nói lung tung.

Lý Tịnh thấy Từ Tử Lăng không ngừng nhìn Tố Tố, sau lại đánh mắt với Khấu Trọng, liền ngạc nhiên hỏi:

- Tiểu thư là người ở vùng nào?

Tố Tố vội nói ra thân thế, sau đó tiếp:

- Tiểu tỳ chẳng biết gì về chuyện đại thế thiên hạ cả đâu, các vị cũng không cần phải vì tôi mà phải úy kỵ điều gì.

Lý Tịnh hiển nhiên rất coi trọng Khấu Trọng và Từ Tử Lăng, nghiêm mặt nói:

- Theo tình thế hiện tại, tuy rằng nghĩa quân ở khắp nơi, nhưng người có thể xem là nhân vật xuất sắc thì lại chẳng có bao nhiêu. Thanh thế thịnh nhất có lẽ là Đại Long Đầu Trác Nhượng, bất quá thủ hạ đại tướng của Trác gia là Lý Mật thanh thế xem chừng còn lớn hơn cả chủ, lại là người thâm mưu viễn lự, am tường binh pháp, nắm giữ trọng quyền, nếu cứ chủ tớ bất phân như vậy, tương lai nhất định sẽ có chuyện.

Tố Tố biến sắc nói:

- Vậy phải làm sao đây?

Lý Tịnh trầm giọng nói:

- Tiểu thư nếu tin lời Lý mỗ thì từ nay hãy rời khỏi Trác Gia, tránh được cái họa thuyền chìm người chết sau này!

Tố Tố thê lương nói:

- Tiểu tỳ từ nhỏ đã được bán vào Trác Gia, lúc ấy lão gia còn đang làm quan ở Đông Quận, về sau vì lão gia giết chết con nhà quyền quý, bị phán tử hình nên mới khởi binh tự lập, còn tiểu thư thì luôn coi tôi như tỷ muội, tôi làm sao có thể rời khỏi tiểu thư cho đành chứ?

Khấu Trọng le lưỡi nói:

- Thì ra Trác Nhượng vẫn còn chưa được coi là lợi hại nhất, vậy thì tên Lý

Mật đó có phải có tiền đồ nhất không?

Lý Tịnh cười khanh khách nói:

- Bốn chữ "có tiền đồ nhất" này rất là hay. Có thể thấy tiểu huynh đệ ngày sau nhất định sẽ là nhân vật hùng tài đại lược. Huynh đệ nói chẳng sai, Lý Mật chẳng những là võ lâm cao thủ thuộc hàng nhất lưu trong thiên hạ, mà còn là một nhà binh pháp dụng binh như thần nữa, hơn nữa hắn cũng rất có mị lực, là một nhân vật đỉnh thiên lập địa. Vấn đề là đối thủ của hắn quá nhiều, trước tiên là Tứ

Đại Môn Phiệt, nhân tài nhiều như vân tập, bọn họ quyết không để thiên hạ của nhà Tùy rơi vào tay người của gia tộc khác đâu. Hơn nữa Tứ Phiệt hùng cứ một phương, lại biết trị quốc an dân, khí độ hơn người, những điều này các đạo nghĩa quân nông dân làm sao bì được, Đỗ Phục Uy chính là một ví dụ điển hình, võ công cao cường thì sao chứ? Dù y có võ công cao hơn nữa e rằng cũng khó mà thành được đại nghiệp.

Hai gã cùng lúc nghĩ tới Vũ Văn Hóa Cập, trên mặt lộ ra vẻ phẫn hận khôn tả.

Lý Tịnh kinh ngạc nói:

- Lý mỗ còn chưa thỉnh giáo cao danh quý tánh của hai vị tiểu huynh đệ.

Khấu Trọng và Từ Tử Lăng biết đã bị y nhìn thấu tâm sự, cố ý muốn dựa vào thân phận lai lịch của hai gã để suy đoán. Từ Tử Lăng nói tên hai gã ra, rồi thẳng thắn nói:

- Vũ Văn Hóa Cập đã giết mẹ chúng tôi, vì vậy chúng tôi muốn tìm hắn báo cừu.

Lý Tịnh nghĩ tới khúc chiết bên trong, còn tưởng Vũ Văn Hóa Cập đã thật sự hại chết mẹ hai gã, cũng giống như rất nhiều người khác đã bị Dương Quảng hại cho gia phá nhân vong vậy, về sau nghe Từ Tử Lăng giải thích rõ ràng, mới biết được tình hình bên trong. Y liền nghiêm mặt nói:

- Hai vị huynh đệ hiển nhiên là mới nhập giang hồ, còn chưa thông hiểu nhân tình thế thái. Hành tẩu giang hồ cần biết một câu này: "gặp người chỉ nói ba phần thật", rất nhiều kẻ bề ngoài thì đáng tin cậy, nhưng nói không chừng, vào một tình thế nào đó, kẻ ấy sẽ trở thành địch nhân đáng sợ nhất của ta. Vì vậy mỗi câu nói của chúng ta trước đó, đều có thể trở thành yếu điểm để địch nhân khai thác.

Lý Tịnh vui vẻ nói:

- Những người khiến Lý mỗ vừa gặp đã thấy hợp ý như hai vị tiểu huynh đệ đây thật ít lại càng ít, còn vừa gặp đã thấy hết hy vọng lại nhiều không kể xiết.

Trên thế gian này có rất nhiều chuyện xem như tuyệt đối không có khả năng, đều do những người có chí khí một tay làm nên, kẻ bố y cũng có thể được phong hầu bái tướng, thậm chí đăng lên bảo tọa cửu ngũ chí tôn, người nghèo rớt mùng tơi cũng có thể trở thành phú gia địch quốc, những chuyện này sớm đã có tiền lệ, vì vậy hai người phải luôn luôn nỗ lực vươn lên.

Khấu Trọng và Từ Tử Lăng nghe mà hai mắt sáng rực lên.

Được nói chuyện với Lý Tịnh, thật chẳng khác gì đang trong màn đêm tối tăm mà gặp được ánh đèn, khiến hai gã nhìn thấy được hi vọng và mục tiêu, làm phấn chấn lại chí khí đã bị đả kích nặng nề bởi cái chết bi thảm của Phó Quân Sước.

Lý Tịnh tiếp tục nói:

- Ngoài Trác Nhượng, Lý Mật, hiện giờ có thanh thế lớn nhất là Vương Bạc, Đậu Kiến Đức và Đỗ Phục Uy, ba thế lực này xem ra... là có tiền đồ nhất.

Khấu Trọng thấy một nhân vật kiến đa thức quảng, tài giỏi hơn người như Lý

Tịnh mà cũng sử dụng câu nói này của gã, trong lòng đắc ý vô song, nói:

- Đỗ Phục Uy thì huynh đã nói qua rồi, còn hai thằng cha Vương Bạc và Đậu Kiến Đức thì có lợi hại không?

Tố Tố cười hì hì nói:

- Sao gọi người ta là thằng cha?

Lý Tịnh mỉm cười nói:

- Khấu tiểu huynh đệ vẫn còn trẻ con mà! Vương Bạc là đệ nhất cao thủ

Trường Bạch Phái, được xưng tụng là "Tiên Vương" trong võ lâm, y tự xưng là Tri Thế Lang, bài Vô Hướng Liêu Đông Lãng Tử Ca do y sáng tác đã đi sâu vào lòng người, nhờ vậy mà y nắm được lòng dân, được dân chúng vùng Sơn Đông rất ủng hộ, so với Đỗ Phục Uy thì mạnh hơn rất nhiều.

Lý Tịnh ngừng lại giây lát rồi nói tiếp:

- Nếu Trác Nhượng và Lý Mật trở mặt, vậy thì kẻ trở thành long đầu thay thế nhất định là Đậu Kiến Đức ở Thanh Hà chứ chẳng nghi, người này là Bá chủ hắc đạo vùng Hà Bắc, trước đây đã từng làm Lý trưởng, về sau do gia tộc thân hữu của y bị Dương Quảng giết sạch, nên mới phẫn hận mà gia nhập quân khởi nghĩa của Cao Sĩ Đạt. Sau khi Cao Sĩ Đạt tử chiến sa trường, quyền bính liền rơi vào tay y. Người này võ công đã tới mức xuất thần nhập hoá, thủ hạ tới hơn mười vạn, hùng cứ nơi Cảo Kê Bạc, thế lực xuyên suốt Hoàng Hà, tuyệt đối không thể xem nhẹ.

Khấu Trọng thở dài than:

- Nghe Lý đại ca một hồi còn hơn cả nghe trộm trong tiệm ăn con bà nó kia ba tháng, cái gì mà Dương Huyền Cảm, Tống Tử Hiền, Vương Tu Bạt, Ngụy Đao Nhi, Lý Tử Thông, Lư Minh Nguyệt, Lưu Vũ Châu chứ, tên thì nghe rõ là hay, khiến cho đầu đệ ong hết cả, thì ra lợi hại nhất lại là mấy người này.

Lý Tịnh lấy lương khô chia cho mọi người rồi nói:

- Chúng ta phải qua đêm ở đây rồi mới đi được, lúc ấy truy binh đã người mệt ngựa mỏi, cho dù chúng ta có gặp phải chúng cũng không có gì phải sợ.

Hai gã sớm đã kính Lý Tịnh như bậc thần minh, nghe y nói mà gật đầu lia lịa.

Tố Tố chợt hỏi:

- Lý đại ca rời khỏi Đỗ Phục Uy, sau này có dự liệu gì hay không?

Lý Tịnh không đáp mà hỏi ngược lại:

- Ba người định đi đâu?

Tố Tố cúi đầu đáp:

- Tôi muốn đến Vinh Dương tìm tiểu thư để xin tiểu thư nhắc nhở lão gia đềp hòng Lý Mật.

Khấu Trọng cũng đáp:

- Chúng tôi phải đến Lạc Dương tìm một vị bằng hữu.

Lý Tịnh gật đầu nói:

- Ta lại muốn đến Đại Đô xem khí số của người Tùy thế nào, dù sao cũng phải ngược lên mạn Bắc, để ta tiễn ba người một đoạn vậy! Dọc đường có thể tiện thể truyền cho hai vị tiểu huynh đệ một ít kỵ thuật, xạ tiễn và võ công căn bản.

Hai gã Khấu, Từ cả mừng thốt:

- Sư phụ!

Lý Tịnh vội nói:

- Ngàn vạn lần không được gọi ta là sư phụ, chúng ta chỉ dùng bối phận ngang hàng mà nói chuyện thôi, huống hồ mẹ hai người đã truyền cho hai người căn bản nội công vững chắc, có thể nói là cao thâm khó dò, thêm vào hai người có căn cốt tuyệt thế, con người lại linh hoạt cơ trí, tương lai nhất định sẽ trở thành cao thủ tuyệt đỉnh, xưng hùng vũ nội, hiện giờ hai người có thể chưa tin vào bàn thân mình, song sự thực trong tương lai sẽ chứng minh rằng ta tuyệt đối không sai.

Hai gã đưa mắt nhìn nhau, chưa biết nói gì thì Lý Tịnh đã dài người đứng dậy nói:

- Để ta dậy cho hai người kỵ mã trước, sau đó sẽ truyền đao pháp. Đao pháp của ta tính đi tính lại cũng chỉ có hơn mười thức, rất thích hợp để xung sát trong chốn thiên quân vạn mã, còn để tranh hùng trong giang hồ thì e rằng không đủ, nhưng khi xung phong trên chốn sa trường thì uy lực vô cùng, đặc biệt là khi đối phương nhân số đông hơn gấp bội. Còn tiễn thuật của Lý mỗ là ngộ được từ thuật xạ kỵ của người Hồ, về mặt này ta cũng có mấy phần tự tin.

Hai gã không ngờ gặp được kỳ ngộ như vậy, vội vàng quỳ xuống bái tạ.

Lý Tịnh cười lên ha hả, dẫn theo hai gã bước ra khỏi thạch động.


Quay lại  l Xem tiếp 


BigKool BigKool
Vườn Hoàng Cung - Nông Trại Online Vườn Hoàng Cung
Khu Vườn Thần Kỳ Khu Vườn Thần Kỳ
Vườn Thủy Cung Vườn Thủy Cung
goPet Online goPet Online

C-STAT