watch sexy videos at nza-vids!
doc truyen
Trang ChủTruyện
http://aff.mclick.mobi/ctxd/bigbang3g

Bá Chủ Tam Quốc

http://aff.mclick.mobi/swift-wifi/bigbang3g

Swift Wifi

http://aff.mclick.mobi/uc-in/bigbang3g

UC Browser

Bộ Bộ Sinh Liên 

Quyển 5: Khai Hoa Thập Trượng Ngẫu Như Thuyền
Chương 196:Rượu mạnh đã đến, mỹ nhân ở đâu


Tác giả: Nguyệt Quan
Nguồn: Sưu tầm




Trước mắt là một Đường đại tiểu thư e lệ, kiều diễm, hàm răng trắng, môi đỏ mọng, mắt long lanh như nước mùa thu. Dương Hạo không khỏi si mê.

Mấy ngày nay Đường Diễm Diễm đem theo quân đến Lô Lĩnh Châu, lúc hắn còn đang ngây người ra, thì Bích Túc chạy vào, lớn tiếng kêu:

“Phủ đài đại nhân, binh sĩ của Mộc Ân bao vây Đông Dương Trại, bọn chúng sắp bị chém đầu rồi”.

“Cái gì?”

Dương Hạo hoan hỉ, đứng hẳn dậy nói:

“Được, haha, có thể ngay lập tức tập trung lực lượng đánh rồi. Mau, mau đi chuẩn bị vài thứ lễ vật cho ta, chúng ta phải nhanh chóng lên đường đi Đông Dương Trại”.

Dương Hạo như trút được gánh nặng, quay sang Đường Diễm Diễm nói:

“Đường cô nương, Dương mỗ phải đi xem tình hình quân sự, bàn cờ này…”

Đường Diễm Diễm đang cầm con tượng chuẩn bị đánh, nghe thấy những lời này của Dương Hạo, vội nói:

“Công sự quan trọng hơn, mời đại nhân”.

Dương Hạo chắp tay cáo biệt, vội đi theo Bích Túc ra ngoài, đi đến cửa thì quay đầu nhìn lại, thấy Đường Diễm Diễm đang cười với hắn, lồng ngực hắn tim đập thình thịch, hắn tiếp tục đi, không quay đầu lại nữa.

Sau khi hắn rời đi, Đường Diễm Diễm quay người lại đến bên giường, sờ trong đệm lấy ra một chiếc bình, ôm vào ngực và nghĩ: “Trận này đánh xong. Được. Đợi chàng quay về, ta sẽ đập vớ bình này…Chiết Tử Du…ha ha”.

Đang vui mừng, đột nhiên nhớ tới cảnh nam nữ, nàng nhớ đến cuốn “Tố nữ kinh”, quyển sách này nói về tình cảm trai gái, nghĩ đến sắp có chuyện tốt xảy ra, Đường Diễm Diễm mơ màng như đang trong giấc mộng, chân như đang dẫm lên mây vậy.

***
Đông Dương Trại là nơi dừng chân của Đông Dương Thị người Khương Hoành Sơn, nó rộng khoảng mười dặm, tộc trại có tám trăm chiếc, không được coi là lớn so với bộ lạc người Khương Hoành Sơn, nhưng thế lực lại rất mạnh, không thể coi khinh. Trong trận chiến giữa các bộ lạc, Đông Dương Thị vẫn ít chịu thiệt nhất, không ai dám đưa đại quân đánh trực tiếp Đông Dương Thị để tiêu diệt bộ lạc có một đội quân dũng mãnh có hơn một nghìn người, trong mấy trăm bộ lạc người Khương Hoành Sơn dù lớn dù nhỏ, cũng chỉ có Dã Ly Thị mới chịu nổi sự mất mát như vậy.

Đông Dương Thị ngoài có tám trăm lều ra, ở đây còn có vô số dân tị nạn từ các nơi chạy đến, có nhiều dũng sĩ trong đó, dễ dàng nhặt ra khoảng nghìn dũng sĩ. Với tình hình như vậy, thủ lĩnh của Đông Dương Thị Nhật Mạch Đan Tăng vô cùng vui mừng. Tộc người chạy đến đây, bộ lạc và lều trại không còn nữa, từ nay về sau, chúng chỉ có thể phụ thuộc vào Đông Dương Thị. Đông Dương Trại vì vậy mà xây tường lớn bao quanh, với vị trí nước dâng thì thuyền dâng. Của cải ở nơi đây còn hơn Lô Lĩnh Châu đến hàng trăm lần.

Nhưng, niềm vui của hắn chỉ được vài ngày, sáng nay, khi hắn vừa dậy ngủ thì nhận được một tin: Đông Dương Thị bị vây. Nhật Mạch Đan Tăng nghi ngờ chạy lên tường bao quan sát, mới phát hiện ra có người Hán vây Đông Dương Thị, là đội quân người Hán của Lô Lĩnh Châu. Thủ lĩnh Nhật Mạch Đan Tăng vô cùng phẫn nộ, lập tức sai người thổi kèn, triệu tập võ sĩ, ra khỏi thành quyết chiến với địch. Hắn tuyệt đối không cho phép người khác tới xâm phạm lãnh thổ của hắn, hơn một ngàn kỵ binh người Hán dám xâm phạm, từ thuở nhỏ sống trên lưng ngựa đã hun đúc cho hắn tính dũng mãnh của các dũng sĩ người Khương.

Nhưng sau trận chiến, hắn mới giật mình phát hiện ra, nghìn kỵ binh đến từ Lô Lĩnh Châu, cưỡi ngựa bắn cung hơn hẳn bọn chúng, bọn chúng sống ở khu vực hỗn tạp người Hán, du canh du cư, cưỡi ngựa bắn cung tuy không thành thạo lắm, trình độ bắn cung cưỡi ngựa không bằng các bộ lạc trên thảo nguyên, song chắc chắn dũng mãnh thiện chiến hơn một nghìn kỵ sĩ trên thảo nguyên.

Cũng cần phải biết rằng, Lý Quang Sầm mấy năm lưu lạc trên thảo nguyên, mang theo mấy chục người hầu, dần dần đã phát triển mạnh lên. Giữa các bộ lạc người Khương trên thảo nguyên Hạ Châu lúc đó tuy cũng xảy ra chiến tranh, nhưng địa bàn rộng như vậy lại tương đối ổn định, giữa các bộ lạc rất ít xảy ra cuộc chiến một sống một còn, chỉ có cướp đoạt đồng cỏ và nguồn nước với người Thổ Phiên, cả đời chúng không phải sống mãi trên lưng ngựa, mà chỉ chiến đấu trên lưng ngựa, trong môi trường ác liệt ấy, chúng không những không bị tiêu diệt, mà ngược lại dần lớn mạnh, có tộc người nào dũng mãnh hơn chúng?

Nhưng vì cuộc sống như vậy quá gian khổ, tộc người cả ngày đều sống trong trong cảnh chiến tranh, mà tộc dân lại không ngừng lớn mạnh, dần dần bộ lạc lớn Thổ Phiên đã thức tỉnh. Lý Quang Sầm biết rằng những ngày như vậy không đáng tồn tại nữa, mà tộc lại thiếu đi một thủ lĩnh trí dũng cầm đầu, mới nghĩ trăm phương nghìn kế, nhất định phải tìm con đường ra cho tộc người này, cho chúng có một cuộc sống ổn định.

Sức chiến đấu của kỵ sĩ người Hán mạnh hơn kỵ sĩ của Đông Dương Thị, nhưng dù cho như vậy, thì Đông Dương Trại vẫn chiếm lợi thế, dũng sĩ có gấp đôi quân địch, Nhật Mạch Đan Tăng dốc toàn lực lượng, đánh tan toàn bộ quân địch. Không ngờ, hai nghìn kỵ binh tinh nhuệ lao ra, quân Hán lại rút lui, lúc đang thừa dịp thắng thì lại có hai nhánh kỵ binh đánh úp hai bên.

Nếu như Nhật Mạch Đan Tăng không nhanh chóng phát hiện, lập tức bảo vệ cho thủ lĩnh phía sau thì đến hắn, một thủ lĩnh của tộc người này cũng phải bỏ mạng trong trận mưa kỵ binh của hai nhánh quân đó. Hai nghìn đấu với ba nghìn, sức chiến đấu của từng binh sĩ lại hơn hẳn so với bọn chúng, hơn nữa xét về sự chuẩn bị, trận này làm sao có thể đánh được nữa? Lượng kỵ sĩ rút được về Đông Dương Thị không đến bảy trăm tên.

Trận chiến tàn khốc ấy, đã đánh sập đi dũng khí của Đông Dương Trại, những người mất con, mất chồng, mất người thân kêu la khóc lóc thảm thiết, khắp nơi đều là tiếng khóc, sự kiêu căng của Nhật Mạch Đan Tăng lại một lần nữa nhắm thẳng vào bọn địch, nhưng tận đáy lòng hắn lại cảm thấy sợ hãi.

Hắn phái gần trăm người thân xuất quân, thừa lúc đêm tối phá vây trốn ra ngoài, đến hai bộ lạc lớn kề gần xin chi viện, giá phải trả là hai đồng cỏ màu mỡ của Đông Dương Thị. Đồng cỏ màu mỡ này vốn là của Đông Dương Thị, hắn thực sự không nỡ làm vậy, nhưng người Hán lần này không tha cho hắn, mà hắn lại không thể chống đỡ nổi nữa, nếu không xin được quân Hạ Châu chi viện, Đông Dương Thị sẽ bị người ta diệt tận gốc, sau mươi mười năm nữa, sẽ chẳng còn ai nhớ đến ở đây đây đã từng có Đông Dương Trại và người Đông Dương Thị.

Trát Tây đã về, gần trăm dũng sĩ ra ra vào vào, giờ số còn sống trở về chỉ còn có năm người. Con trai hắn Trát Tây, một chiến sĩ Đông Dương Thị dũng mãnh đã chặt đứt một cánh tay, chột một bên mắt, cả cơ thể be bét máu lết về trại, mang đến cho hắn một tin khiến hắn tuyệt vọng vô cùng: Hai bộ lạc lớn đã yên binh bất động, thấy chết không cứu. Thậm chí Trát Tây còn tự tiện quyết định nhường cho chúng bốn mảnh đất, khi nào tiếp viện sẽ cho nốt toàn bộ đồng cỏ của Đông Dương Thị, nhưng bọn chúng vẫn bặt vô âm tín.

Nhật Mạch Đan Tăng ngồi trên ghế đần người ra, nghe tiếng chém giết bên ngoài tường bao, hắn không biết phải giải quyết tình cảnh này như thế nào. Quân đội người Hán đang chế tạo ra những loại công cụ tấn công tường bao. Đông Dương Trại không có thành lũy kiên cố như người Hán, không cần những công cụ quá lớn và những chiếc thang leo thì cũng có thể tiến vào trại, đêm nay, hắn còn thủ được, ngày mai thì sao? Giờ già trẻ trai gái đều được lệnh xông ra trận rồi.

“Cha à, con ở trong bộ lạc Tề Phong Thị, nhìn thấy có người mang tin của Dã Ly Thị đến rồi, không phải là Dã Ly Thị đến phá rối đó chứ? Mà cũng chỉ có Dã Ly Thị mới có thể uy hiếp hai bộ lạc kia viện trợ cho chúng ta”. Trát Tây chăm chú nhìn về phía xa, nói với Nhật Mạch Đan Tăng.

Nhật Mạch Đan Tăng nhìn đứa con, Trát Tây lại gằn giọng nói: “Dã Ly Thị? Tộc người của chúng ta làm gì có thù oán gì với Dã Ly Thị, chúng tại sao lại giúp người Hán? Nếu Dã Ly Thị ra tay với chúng ta, hà tất phải mượn gió bẻ măng?”

Sau một lúc trầm tư, Nhật Mạch Đan Tăng ngẩng đầu lên, buồn bã nói:

“Chúng ta…hiến trại xin hàng…”

“Gì cơ ạ?”

Trát Tây giận tím mặt:

“Cha à, chúng ta không thể đầu hàng, một khi xin hàng rồi, từ nay về sau chúng ta sao có thể ngẩng mặt lên với người Hán được nữa? Các bộ lạc Hoành Sơn sẽ coi thường chúng ta, chúng ta không thể đầu hàng, thề chết cũng không xin hàng!”

Nhật Mạch Đan Tăng Tăng không ngờ là đứa con trai của mình lại không biết suy nghĩ như vậy, hắn chua sót nói:

“Nếu như không hàng, sẽ làm cho chúng giết tận gốc Đông Dương Thị ta. Con à, tình thế bức bách như này, sát nhập vào bộ lạc khác”.

Lúc đó, Trát Khả Đặc Nhĩ tiến lên phía trước nói: “Đan Tăng đại nhân, ta có ý thế này…”

“Hả?”

Nhật Mạch Đan Tăng quay sang nheo mắt nhìn Trát Khả Đặc Nhĩ. Trát Khả Đặc Nhĩ nói rành rọt từng từ một:

“Chúng ta…giả hàng!”

***

Bích Túc cười nhạt nói:

“Này đại nhân Đặc Nhĩ, Dương Hạo đại nhân chúng ta thực sự cũng không muốn xung đột vũ trang với các bộ lạc người Khương làm gì, không giấu gì ngươi, giờ đã có vài bộ lạc người Khương đầu hàng đại nhân chúng ta, đại nhân chúng ta đãi ngộ rất tốt và bình đẳng với chúng. Ngươi dẫn người ra đầu hàng, mà còn giúp chúng ta đánh lừa mở tường vây, đây là một công lớn, một khi được chuyện, chúng ta nhất định sẽ tiến cử ngươi với triều đình, triều đình sẽ cho các ngươi đặc ân, dù sao thì cũng sẽ cho ngươi một chức quan chỉ huy sứ, đến lúc đó, tại hạ gặp ngươi, cũng phải cúi đầu mà gọi đại nhân đó chứ”.

“Không dám, không dám, Bích đại nhân quá khách khí rồi”.

Trát Khả Đặc Nhĩ cười nói:

“Dưới thiên binh thiên uy, Trát Khả Đặc Nhĩ chỉ mong có thể bảo toàn tộc người của mình, chức quan thì thực là không dám nghĩ đến”.

Hắn lo lắng quay đầu lại nhìn, nghi ngờ nói:

“Bích Túc đại nhân, giờ đã muộn rồi, ta mang các ngươi đi đánh trại, trong bóng đêm, các ngươi chẳng phải thừa dịp mà mai phục tấn công trại sao? Chỗ ta chọn cách cửa tây rất gần, bên cạnh lại toàn là rừng cây, dễ mai phục vô cùng, mà các ngươi muốn ta đưa đến đó kiểu gì?”

Bích Túc cười nói:

“Cái này ngươi không hiểu sao? Thực ra ta cũng không hiểu, đại nhân chúng ta nói, vào rạng sáng mới là lúc mọi người buồn ngủ nhất, đợi lúc trời sắp sáng thì đi đánh trại, lúc đó chúng ta càng dễ dàng đoạt được Đông Dương Trại. Các ngươi cứ ở trong cốc nghỉ ngơi đi, Mộc Ân đại nhân chúng ta chuẩn bị rất nhiều rượu thịt cho các ngươi rồi, các ngươi cứ ăn no, đợi đến khi trời sắp sáng chúng ta sẽ hành động”.

“Được, được, Mộc tướng quân thật cao minh, thực sự là thật cao minh…”

Trát Khả Đặc Nhĩ quay đầu lại nhìn hơn hai trăm tên, thầm lo lắng, trong rừng ngoài tây môn, có rất nhiều cung tên mai phục, đợi hắn dẫn người Hán đi đánh trại, lúc đó sẽ đột nhiên ra tay, dựa vào tài bắn cung của chúng, tuyệt đối sẽ thắng, sẽ giết chết hơn nửa lũ người Hán chưa vào trại. Đến lúc đó đóng cửa trại vào, bắn tên giết chết lũ người Hán tấn công trại, lúc đó tình thế địch ta sẽ xoay chuyển, ai bảo Mộc tướng quân ngu xuẩn kia tự cho mình là thông minh, nào thì đợi rạng sáng tấn công, xem ra đợi lát nữa tìm được cơ hội, phái người chạy về báo tin mới được.

Trát Khả Đặc Nhĩ đang nghĩ ngợi, Bích Túc đột nhiên ôm bụng cười nói:

“Ôi chà, ta hơi mót, các ngươi đợi lát, ta sang bên kia đi đại tiện một lúc”.

“Vâng, Bích Túc đại nhân xin cứ tự nhiên”.

Trát Khả Đặc Nhĩ mừng rỡ, vội đồng ý, chờ Bích Túc chui vào bụi cỏ, hắn lập tức gọi một tên đến, vội vàng dặn dò:

“Ngươi mau nấp vào trong bụi cỏ đi, lát nữa chúng ta đi trước, ngươi lẻn về, nói với Đan Tăng đại nhân là người Hán vào rạng sáng sẽ đi tấn công thành, bảo hắn bảo vệ cẩn thận”.

“Vâng”.

Tên đó thi lễ, rồi nhanh như mèo trốn vào trong bụi cỏ, Trát Khả Đặc Nhĩ cười quay đầu sang nhìn vào bụi cỏ mà Bích Túc đang ngồi xổm. Đợi một lát, hắn bỗng hét ầm ĩ lên:

“Bích Túc đại nhân, Bích Túc đại nhân”.

Bích Túc ngồi chồm hỗm vẫn không nhúc nhích, Trát Khả Đặc Nhĩ mặt tái mét, bước qua đó, đến gần thì hắn không khỏi ngạc nhiên, quần áo vẫn còn đó, trùm vào cây cỏ cao bằng nửa người, nhưng không thấy bóng dáng Bích Túc đâu nữa.

“Không xong rồi, mau tản ra, chuẩn bị lùi lại”.

Trát Khả Đặc Nhĩ hô hét ra lệnh, tộc dân nghe vậy nháo nhác chạy loạn lên, lúc này sau sườn núi có mấy chục tên xuất hiện, đôi mắt hung dữ nhìn bọn chúng, rồi cầm cung bắn tên rào rào.

Tình thế nguy cấp, bên phải, phía trước, phía sau đều có vô số tên người Hán cầm cung nhảy từ trong bụi cỏ ra, bao vây dày đặc bọn chúng.

Trát Khả Đặc Nhĩ giận dữ, một tên đàn ông râu quai nón cầm thanh đao bầu xuất hiện ở cửa cốc, hét lớn:

“Lũ chó chết, dám giả hàng hả, giết không tha!”

Trát Khả Đặc Nhĩ nhận ra người đàn ông to lớn đoàn luyện sứ Mộc Khôi, vội kêu lên:

“Tướng quân chờ đã, ta thực sự thành tâm thành ý đầu hàng Dương Hạo đại nhân, tướng quân không thể giết chúng ta được”.

Mộc Khôi ngửa mặt lên trời quát to:

“Trát Khả Đặc Nhĩ, ngươi nghĩ rằng chúng ta đều là người Hán sao, mặc quần áo vậy chỉ là để che mắt bọn người qua đường mà dễ hành động thôi. Ha ha ha…trò mèo của ngươi, che mắt được người ngoài, chứ sao che mắt nổi ta?”

Rồi hắn giơ đao lên, quát to:

“Người Khương ta đều ký hiệp ước liên minh, ai cũng thật thà với Bạch thạch đại thần, ngươi đến hàng, vì sao lại không dám nhắc đến Bạch thạch đại thần vậy? Bộ lạc người Khương ta, trong nhà không có đao, nhưng nhà nhà có cung tên, còn các ngươi người người đeo đao bên sườn khi lâm trận, cung tên thì có là bao? Ngươi đến đầu hàng, đêm tối xông vào thành, ai cũng không thể chăm chút chu toàn cho người bên cạnh, nhưng người ngươi mang đến đều là những tên trai tráng, không có một ai là người nhà ngươi cả, hơn nữa cũng không thấy đám người đó lo lắng gì”.

“Ta…”

Trát Khả Đặc Nhĩ chưa nói được lời nào, Mộc Khôi đã quát to:

“Giết!”

Những mũi tên được bắn ra, cách mười hai mươi trượng, tiếng bắn tên vèo vèo, ngực trái của Trát Khả Đặc Nhĩ bị trúng một tên, Trát Khả Đặc Nhĩ ngã sấp xuống, mặt đập thẳng vào đất, bên tai chỉ nghe thấy tiếng tên bắn không ngừng, bội đao đeo bên người không có cách nào rút ra mà ném về phía bọn địch, tất cả đều lần lượt ngã xuống.

Sau một lát, không còn một tên nào còn đứng được nữa, tất cả đều nằm rạp xuống đất, các tay cung tiễn ngừng bắn, vác cánh cung trên vai, lệnh cho người đi dò xét, còn thấy tên nào còn hơi thở thì giết cho bằng chết, bọn chúng tiến đến phía trước, đi dò xét từng tên một, thấy tên nào còn thoi thóp hơi thở thì cho một nhát, hoặc đâm vào cổ họng, hoặc đâm vào ngực như giết gà, đến khi không còn tiếng thở nào nữa, không gian yên ắng trở lại mới thôi, Bích Túc ngồi vắt vẻo trên cây thấy cảnh tượng đó mà mặt cũng biến sắc.

Mộc Khôi lại cao giọng hét:

“Để lại một đội quân thu dọn chiến trường, những người khác thì theo ta tiến đánh Đông Dương Trại tây môn, mai phục người ngựa của Đông Dương Thị, không cho chúng trốn ra ngoài…”

Mấy trăm bộ lạc hùng mạnh của Đông Dương Thị đã bị tiêu diệt, khi Dương Hạo đến nơi, tất cả đã bị Mộc Ân giết chết, những bãi đất đẫm máu, xác người chết la liệt.

Mộc Ân trước mặt con gái mình là một người cha hiền lành, nhưng khi đứng trước tộc người của mình là một vị trưởng bối dũng mãnh; Đứng trước Dương Hạo Lý Quang Sầm là một người hầu trung thành, nhưng đứng trước quân địch lại là một tên sát nhân, trái tim của hắn như làm bằng sắt vậy. Những lần bỏ mạng hụt trên thảo nguyên đã tôi luyện cho hắn tính cách đặc biệt này, mỗi chiến sĩ trong bộ lạc dường như đều giống hắn, giống một con sói, đối với đồng bọn thì có tình có nghĩa, đối với quân địch thì có thể giở bất cứ thủ đoạn tồi tệ nào.

Lúc chúng phục tùng nghe lệnh, can tâm tình nguyện trung thành với “Lang vương” Dương Hạo, nhưng trong con mắt lại lộ vẻ không bằng lòng. Dương Hạo có thể bày mưu nghĩ kế đưa ra những phán đoán đúng đắn, cũng có thể phân rạch ròi Đại nhân và Tiểu nhân trước mặt Đường Diễm Diễm, nhưng hắn cuối cùng cũng vẫn thiếu sự tôi luyện trên chiến trường, khi hắn đối mặt với hiện trường này, hắn không thể không bị tình cảm chi phối.

Nhưng hắn không nói gì cả, những điều mà Mộc Ân làm mới đúng với những nguyên tắc tồn tại trên thảo nguyên: Ngươi muốn thắng được quân địch, ngươi cần thích ứng được với những hình phạt mà khi thất bại ngươi sẽ phải chịu. Nếu như Dương Hạo là kẻ thất bại, hắn sẽ không được phân thiệt hơn với quân địch trên chiến trường, nên hắn chỉ có thể làm theo nguyên tắc này, thích ứng với nó, không được nói chuyện nhân nghĩa với bọn sói dốt nát.

Tất cả công cụ, vũ khí, của cải mà Nhật Mạch Đan Tăng Đông Dương Trại tập trung trong phòng đều đã được dọn sạch sẽ, tất cả đã bị san bằng. Đông Dương Trại đã biến thành những mảnh phế liệu, hắn muốn cho tất cả những ai đi qua đều phải nhớ chuyện gì đã xảy ra ở đây, nếu mạo phạm đến Lô Lĩnh Châu thì sẽ phải chịu hình phạt như thế này.

Dương Hạo đi ra từ nhà lớn của Nhật Mạch Đan Tăng Đông Dương Trại, nói với Mộc Ân đi sau:

“Bảo Mộc Khôi áp giải đàn bà và trẻ em về trước, ngươi và Bích Túc ở lại đây, đưa ta đi gặp Tề Phong Thị, Ma Cô Thị, lần này tấn công bộ lạc Đông Dương Thị, bọn họ án binh bất động, không giúp viện trợ, tuy nói là Dã Ly Thị ra mặt uy hiếp, song cũng coi là Lô Lĩnh Châu ta nhận một phần ơn huệ của họ. Công của Mộc Ân cũng lớn, công của Mộc Khôi cũng lớn, song khi nhắc đến chiến thắng này, nó không chỉ là công của chúng ta mà còn có công của bọn họ nữa. Công của hai bộ lạc này không nhỏ, ta sẽ mang lễ vật sang biếu, mời bọn họ cùng với các bộ lạc người Khương Hoành Sơn đến tập hợp bộ lạc Dã Ly Thị, bắt chước chuyện liên minh Đảng Hạng Thất Thị, tạo mối quan hệ tốt với họ.

Thấy Mộc Ân ngạc nhiên, Dương Hạo cười nói:

“Ha ha, đương nhiên là rất đông rồi, các bộ lạc xa gần kéo dài hết núi Hoành Sơn là không thể lập cộng chúa, ta phải thống nhất lợi ích, xóa đi sự tàn bạo của họ, ít nhất cũng phải đứng về phía chúng ta. Giờ chỉ cần bọn họ không gây phiền phức với ta thì coi như chúng ta đạt được mục đích rồi”.

Nói đến đây, hắn đột nhiên dừng bước, nhìn về phía một vài tên bị các binh sĩ trông coi, những người này có nam có nữ, có già có trẻ, là tộc người Đông Dương Thị mà lúc nãy hắn nhìn thấy trong trại, những người này quần áo tả tơi, da xanh xao, giống như một đám dân tị nạn. Điều mà Dương Hạo cảm thấy kì lạ là những thanh niên trong Đông Dương Trại đều đã phải đền tội, vậy mà những tên ở đây phần lớn lại là thanh niên. 

Thấy hắn nhìn chăm chú về phía đó, Mộc Ân giải thích:

“Đại nhân, những tên này không phải là tộc người của Đông Dương Thị, bọn chúng thuộc những bộ lạc khác, sau những trận chiến thì bị Đông Dương Thị bắt về làm tù binh, làm nô lệ cho Đông Dương Thị, làm việc rất cực khổ.

“Hả?”

Dương Hạo chớp mắt, dặn dò:

“Bảo người rút lui, không cần đối xử với bọn chúng như nô lệ đâu, tộc người Đông Dương Thị đã bị các ngươi bắt được, chi bằng theo quy tắc của các ngươi mà cho bọn chúng làm dân thường, cho chúng dời đến Lô Lĩnh Châu ta, làm dân của ta, Lô Lĩnh Châu sẽ sắp xếp ổn thỏa cuộc sống cho bọn chúng”.

Ánh mắt khó hiểu của Mộc Ân nhìn Dương Hạo, nhưng vẫn chấp hành mệnh lệnh của hắn, xua tay cho các sĩ tốt lui ra, lớn tiếng truyền lại mệnh lệnh mà Dương Hạo vừa nói, các nô lệ nghe xong vừa mừng vừa sợ, sau một lúc rối loạn liền quỳ xuống bái Dương Hạo, mồm lẩm bẩm nói gì đó, Dương Hạo qua lại với người Khương nhiều, tuy nghe không hiểu bọn chúng nói gì, nhưng cũng vẫn biết có ý là cảm ơn, ca ngợi hắn.

Có một tên cao ráo quỳ xuống ngay chân hắn, tên này phải cao hơn người ta hai cái đầu, Dương Hạo đặc biệt chú ý đến hắn, hắn rất khôi ngô, hai bên tóc mai hơi nâu nâu, da ngăm đen.

Tên này cũng giống như các tên khác quỳ xuống cảm ơn, thỉnh thoảng lại vụng trộm liếc nhìn Dương Hạo, khi bắt gặp ánh mắt của Dương Hạo nhìn hắn, hắn hoảng sợ, cúi gằm mặt xuống, không dám ngẩng đầu lên nữa. Dương Hạo mỉm cười nói:

“Các ngươi không cần cảm ơn ta. Thiên hạ này là của Đại Tống, các ngươi cho dù là người Hán hay người Khương, đều là con dân của Đại Tống. Xảo trá, ngoan cố như Đông Dương Thị, bản quan mới đưa ra hình phạt nghiêm khắc như vậy. Chỉ cần các ngươi theo nề theo nếp, tuân thủ vương pháp, bản quan tuyệt đối không làm khó các ngươi. Đứng cả lên đi”.

Dương Hạo vỗ tay, an ủi:

“Các ngươi không cần câu thức, Đông Dương Trại sẽ không còn tồn tại nữa, bản quan muốn đưa các ngươi đến Lô Lĩnh Châu, tới đó, các ngươi sẽ không là nô lệ nữa, cho dù chăn thả, săn bắt, đánh cá hoặc làm việc gì đó kiếm kế sinh nhai, bản quan nhất định sẽ sắp xếp thỏa đáng cho các ngươi”.

Tay những tên này đều là vết chai sạn, vết chai ấy rất cứng, dày hơn da thịt rất nhiều, không biết bình thường làm những việc gì, nghe Dương Hạo nói vậy, bọn chúng chỉ gật đầu, tỏ vẻ đồng ý, Dương Hạo cười với bọn chúng rồi qoay người đi.

“Đại nhân, lũ tù binh ấy, làm nô lệ là được rồi, đại nhân không nên đối xử với chúng khách khí như vậy”.

Đi được một quãng, Mộc Ân mới nói với Dương Hạo.

“Bọn chúng đều là người Khương Hoành Sơn, Lô Lĩnh Châu muốn có chỗ đứng ở đây, thì phải kết giao được với người ở đây. Bản phủ qua lại với các bộ lạc chính là mục đích này. Chỉ có kết giao, thân thiết với dân chúng thì mới có được sức mạnh, thông qua những người này, sẽ có cầu nối với muôn dân”.

Mộc Ân nghĩ một lúc, ngộ ra điều gì đó rồi nói:

“Đại nhân nói vậy là…”

Đúng lúc này, Điềm Tửu chạy từ đâu đến, hét lớn:

“Cha, ta tìm được một giống dưa, mang về trồng, mùa hè sang năm sẽ có quả ăn”.

Dương Hạo nhìn vào tay nàng thấy hạt giống dưa hấu, nghĩ đến khi ở Đinh gia, mọi loại dưa đều có, nhưng xem ra dưa hấu đến giờ vẫn chưa được thịnh hành ở Trung Nguyên. Số phận! Thật là kỳ diệu, nếu ta không đến thế giới này nhìn thấy giống dưa hấu này, hôm nay sẽ thành thế nào nhỉ? Ở Trung Nguyên chỉ cần trồng giống dưa này, bán qua ngày mà sống.

Dương Hạo nghĩ thầm rồi tự cười, Mộc Ân lại không xem giống dưa đó, lườm Điềm Tửu:

“Không biết lớn biết nhỏ gì cả, đại nhân ngay trước mặt mà không biết chào”.

Điềm Tửu lè lưỡi, nhìn trái nhìn phải không thấy ai, liền thi lễ:

“Điềm Tửu bái kiến thiếu chủ”.

Mộc Ân thấy thái độ đó của nàng, lắc đầu hỏi: “Bắt được những tên bỏ trốn chưa?”

Điềm Tửu lắc đầu nói:

“Chưa ạ, chúng con không thuộc địa bàn nơi đây, chúng chạy lung tung trong rừng, giờ vẫn không thấy bóng dáng đâu, chúng con chỉ bắt được một tên bị thương, chạy mất hơn hai mươi tên, trong đó có Trát Tây con của Nhật Mạch Đan Tăng, nhưng hắn đã chặt đứt một cánh tay, chột một bên mắt, hắn sẽ chẳng sống được lâu đâu”.

Dương Hạo nghe vậy vội hỏi:

“Sao, cá lọt lưới hả?”

Mộc Ân nói:

“Vâng, Trát Tây vì bị thương, lúc ấy chỉ mai phục bên ngoài và phía trước trại, mà hắn lại nghỉ ngơi ở phía sau trại. Khi chúng ta tấn công trại, hắn biết không thể làm gì được, liền cùng một vài tên chạy trốn”.

Điềm Tửu cướp lời nói:

“Nhưng chỉ có mười hai mươi tên chạy trốn thôi, không quan trọng”.

Mộc Ân ngắt lời nói:

“Diệt cỏ phải diệt tận gốc. Xưa cha ngươi chạy đến địa bàn người Thổ Phiên, giờ đã có ba nghìn kỵ binh tinh nhuệ đó thôi, không thể nói là không quan trọng được”.

Dương Hạo gật đầu, chậm rãi nói:

“Tiếp tục truy tìm chúng, nhất là…phải xem xem có bộ lạc nào dung chứa bọn chúng không…”

Ánh mắt Mộc Ân sáng lên, trầm giọng nói:

“Đại nhân yên tâm, thuộc hạ hiểu”.
Người của hai bộ lạc Tề Phong Thị, Ma Cô Thị vô cùng khách khí với tri phủ người Hán Dương Hạo, là hai bộ lạc lớn của Hoành Sơn, dù chúng không lệ thuộc vào Dã Ly Thị, nhưng mối quan hệ giữa chúng vẫn rất mật thiết.

Dã Ly Thị phái người mang tin, cảnh cáo bọn chúng không được đếm xỉa đến, tuyệt đối không được nhúng tay vào cuộc chiến giữa Lô Lĩnh Châu và bọn cướp bóc Lô Lĩnh Châu, thì bọn chúng cảm thấy rất lạ. Bình thường tộc người chúng nhìn thấy bộ lạc khác bị xâm chiếm thì cũng phải ra tay viện trợ, nhưng lại bị thủ lĩnh của hai bộ tộc ngăn lại.

Quả nhiên không sai, người Hán từ trước đến nay chưa từng có phản ứng gì, chưa từng có sự phản kích trả thù nào, giờ phản kích lại, khiến người ta ngạc nhiên, kết cục của Đông Dương Thị, đến bọn chúng nhìn cũng cảm thấy ghê sợ. Giờ thấy Dương Hạo cười ha ha, tóm lại khi tri phủ Lô Lĩnh vui vẻ, hai thủ lĩnh cũng phải cảm thấy kính nể hắn.

Cái được tôn trọng trên thảo nguyên chính là thực lực, Dã Ly Thị có tầm ảnh hưởng rất lớn với họ, ngăn cản chúng hành động, lại không thể để chúng kính nể một người, sự kính nể này chỉ có thể xuất phát từ những hành vi mà người này thực hiện. Dương Hạo giờ đã có cái này.

Lời mời của Dương Hạo, bọn họ vui vẻ đáp ứng. Nếu địa điểm mời là Lô Lĩnh Châu, thì họ hơi lo lắng, nhưng nếu như họp ở bộ tộc Dã Ly Thị Hoành Sơn thì vấn đề an toàn không phải lo lắng. Hai người đồng ý đi dự, hơn nữa còn thông báo cho các thủ lĩnh của bộ tộc khác cùng có thái độ hợp tác.

Dương Hạo đến đây chính là để mời hai vị thủ lĩnh này, thông qua họ, sẽ liên hệ được với càng nhiều thủ lĩnh, bày tỏ được thiện chí của mình. Không có chiến tranh không mục đích, cuộc chiến này phục vụ mục đích chính trị, mục đích kinh tế, trận chiến này bản thân đã đạt được kết quả mà mình mong muốn, hơn nữa có một lượng dân cư, của cải dồi dào, giờ lợi dụng kết quả này, từng bước mở rộng ảnh hưởng đến càng nhiều lợi ích chính trị và lợi ích kinh tế. Nay đạt được mục đích rồi, Dương Hạo liền từ biệt hai vị thủ lĩnh, mang theo Bích Túc, Mộc Ân và gần nghìn thị vệ trở về Lô Lĩnh Châu.

Trên đường trở về, cờ chữ Dương tung bay trong gió, dù những tên không biết chữ thì cũng nhận ra được cờ “Dương”, con đường biên giới với Lô Lĩnh Châu yên bình làm sao, phía trước phải quẹo qua một ngọn núi, thì đến cửa Lô Lĩnh Châu.

Bên trái là cây cỏ và núi nham thạch, bên phải là thảo nguyên rộng mênh mông, tầm mắt phía trước có hạn, con đường bên núi kéo dài về bên trái, mới có thể thấy con đường phía trước. Người đi dưới chân núi phải đi vòng vèo. Các thị vệ đi trước dẫn đường đã đến chỗ ngoặt, ghìm ngựa lại nhìn. Lúc này, trên vách núi có vài tên đứng dậy, giương cung bắn tới tấp vào dòng người phía dưới.

Dương Hạo chạy vội, lấy lại bình tĩnh, nhìn trái nhìn phải, có vài tên đã bị hắn phát hiện, xung quanh hắn đều là những kỵ sĩ đang bảo vệ hắn. Những tên này nép vào vách núi, chỉ dám liếc mắt nhìn, dò xét vị trí mà hắn đứng, rồi thấp thỏm đứng lên bắn nhưng bắn không chuẩn, chỉ có hai mũi tên được bắn tới thì lại bị Dương Hạo dùng kiếm cản được.

“Bảo vệ đại nhân!”

Vài tên thị vệ chạy đến phía trước Dương Hạo, giơ mấy lá chắn lên che chở cho Dương Hạo, đội ngũ nhất thời loạn lên. Trên núi có một tên, miệng hắn ngậm một thanh đao, một tay men theo vách núi nhảy xuống dưới khiêu chiến, có sáu bảy hòn đá rơi xuống theo, vết thương ở cơ thể hắn được băng sơ sài, hắn ngậm đao nhảy xuống chỗ Dương Hạo. Tên này cụt một tay, chột một mắt, chính là tên đào tẩu Trát Tây.

Những tên khác cũng nhảy từ trên núi xuống, dũng mãnh không sợ chết lao về phía Dương Hạo. “Za” Dương Hạo đẩy mạnh tấm chắn, nhảy xuống ngựa, cầm kiếm tiến đến tên Trát Tây. Kiếm thuật là kiếm thuật, giờ không cần đẹp mà chỉ cần giết được địch, kiếm thuật mà bản thân tôi luyện được chỉ được nâng cao khi tham gia vào trận chiến.

Cánh tay còn lại của Trát Tây cầm đao đánh về phía hai tên thị vệ, thế như hổ vồ, đao được vung lên chém đứt hai chân ngựa, chiến mã hí vang, hắn chạy nhanh đánh về phía Dương Hạo.

Mộc Ân thấy gặp thích khách, không nghĩ ngợi gì giương cung ngắm bắn, hàng loạt mũi tên bay ra khỏi cung của hắn, tiếng tên xé gió bay vù vù về phía địch. Những tên thích khách còn chưa nhảy xuống đất thì đã bị tên bắn trúng, có sáu bảy tên bị bắn chết trên vách núi, những tên nhảy xuống không đến mười tên, rồi bị lẫn trong biển người.

Dương Hạo khẽ quát một tiếng, kiếm được rút ra, kiếm giơ lên “Keng” chạm vào đao của Trát Tây, nhằm hướng cổ họng hắn mà đâm. Lúc này có một tên thích khách khác nhảy tới gần, Dương Hạo đổi thế kiếm, chỉ nghe thấy “Phụp” một tiếng, mũi kiếm đã đâm vào tim của tên thích khách, lúc đó, đao của Bích Túc cũng đâm vào bụng tên thích khách đó.

Trát Tây nhận một kiếm của Dương Hạo liền lùi lại, lảo đảo vài bước, hai mắt đỏ ngầu, đánh như điên tới, trong chớp mắt hắn đã bị chiến sĩ dũng mãnh bên cạnh Dương Hạo cho một đao, đâm hai nhát, tấn công không có chút lực nào, người hắn đẫm máu, mắt nhìn Dương Hạo hằn học.

Dương Hạo đổi thế kiếm như bay, nghiêng người xuất kiếm, nhanh chóng đâm một nhát vào ngực Trát Tây, Trát Tây không hề đỡ kiếm, ngược lại hắn còn vọt tới, bất chấp liều mạng chết cũng không để cho Dương Hạo đâm đến chết, Dương Hạo giật mình, không đoán được hắn lại có cách đánh này. Dương Hạo lập tức lui về phía sau, lúc này Trát Tây cũng lui lại phía sau.

Chết chắc rồi mà vẫn còn lui lại phía sau được sao? Dương Hạo vung kiếm lên phía trước ngực, nhìn chằm chằm vào tên thích khách, lại nhìn thấy trong đám người có hai móc câu xuất hiện, móc vào hai đùi của Trát Tây kéo lại.

Có năm sáu tên đứng bảo vệ Trát Tây, Dương Hạo nhướn mũi, lắc đầu:

“Lũ người này đứng trước ta ngoan hiền như cừu, nhưng khi thấy có người chết, thì động tác nhanh nhạy hẳn lên.

Những tên còn xót lại của Đông Dương Thị đã bị các chiến sĩ dũng mãnh bao vây, như bảy tám con sư tử xâu xé một con linh dương. Sau khi giết xong bọn chúng, Mộc Ân vội vàng chạy tới trước mặt Dương Hạo, vội nói:

“Hạ quan đáng trách, đã làm đại nhân sợ hãi”.

“Không sao, như này ta cảm thấy hài lòng lắm rồi”.

Dương Hạo cười, hắn không sợ đám người này đánh úp mà chỉ sợ bọn chúng chạy mất. Nếu chúng được ăn cả ngã về không, thì không có gì phải sợ hãi cả. Đông Dương Thị đến tận đây, cuối cùng cũng bị hắn xóa sạch dấu vết.

Dân chúng trong cốc và những thương nhân còn lại trong cốc không dám ra ngoài đến lúc thấy tri phủ đại nhân trở về. Phản kích của quân đội Lô Lĩnh Châu làm cho bọn họ cảm thấy hãnh diện, nếu như nói những dân chúng này ủng hộ Dương Hạo, vốn chỉ là ân tình đối với hắn, giờ mới là quyết một lòng vì hắn vì hắn là người luôn tình nguyện hy sinh tính mạng mình. Trong mắt họ, Dương Hạo không chỉ là quan phụ mẫu, mà còn là một người trụ cột chính của đại gia đình bọn họ, họ tin tưởng và không nghi ngờ Dương Hạo bất kỳ vấn đề gì, vì Dương Hạo làm mọi điều đều muốn tốt cho họ.

Đội quân của Dương Hạo xuất hiện ở cửa cốc, đám người hoan hô rền vang, Dương Hạo dặn dò với đội quân:

“Chuyện bị tập kích không được để lộ”. Rồi mỉm cười nói: “Đi thôi, dân chúng đang chào đón ta và các ngươi, được dân chúng ủng hộ ta cảm kích vô cùng, mỗi chiến sĩ được tạo nên bởi máu tươi và tính danh, các chiến sĩ hãy giữ vững tinh thần này, nhận sự chào đón của bách tính môn dân”.

“Đại nhân, phủ đài đại nhân!”

Lý Ngọc Xương chặn trước ngựa, hơi xấu hổ nói:

“Ta thay mặt toàn thể thương nhân mời rượu đại nhân để tỏ lòng cảm ơn, dùng cốc thì tầm thường, dùng bát thì không được…vậy ta dùng chiếc bình này đừng rượu. Tuy chiếc bình này không lớn lắm, chí ít cũng có thể chứa được năm lạng rượu, Dương đại nhân uống xong rồi mới vào cốc có được không?”

Rượu này thực sự rất ngon, nó vốn là rượu mà Lý Ngọc Xương để lại chút ít uống, vừa nhìn thấy Đường Diễm Diễm đứng cạnh vại rượu, dặn dò Lý Ngọc Xương bảo hắn uống càng nhiều càng tốt, Lý Ngọc Xương không hiểu ra làm sao, nhưng cũng đành đồng ý.

“Đại nhân vì bảo vệ sự bình yên của Lô Lĩnh Châu, bảo vệ sự an nguy của dân chúng, tự mình xuất chinh, diệt trừ bọn trộm cướp, càng vất vả thì công lao càng lớn, ta nhận trách nhiệm mà dân chúng và các thương nhân giao cho là mời rượu đại nhân bày tỏ sự cảm ơn”.

Lý Ngọc Xương vung tay lên, dân chúng và các thương nhân cùng hò vang, đưa từng bát rượu ngon ra mời các chiến sĩ, còn Lý Ngọc Xương mời rượu Dương Hạo bằng chiếc bình ngọc.

Dương Hạo vội nhảy xuống ngựa, hai tay nhận lấy bình rượu, trong lòng sinh nghi:

“Quái, người khác dùng bát, sao lại cho ta cái bình này? Chẳng lẽ là để phân biệt với đám binh sĩ?”

Trong đám người, khuôn mặt nhỏ nhắn của Đường Diễm Diễm ửng đỏ, hai mắt sáng lên nhìn hắn cầm bình rượu, thầm hét: “Uống! Uống! Uống!” 

“Các vị tướng sĩ, tính mạng dân chúng Lô Lĩnh Châu ta đều nhờ có các tướng sĩ mà được bảo toàn, đã báo được cái thù cho môn dân, nay các tướng sĩ trở về, mời rượu ngon, nói chuyện biểu thị lòng biết ơn, mời mọi người, cạn!”

Lý Ngọc Xương nói xong, cầm bát rượu ngửa cổ uống, “Ực” uống cạn bát rượu.

Đàn ông đất bắc có mấy ai không biết uống rượu? Huống chi nói đến Dương Hạo và đám thị vệ đều từ Trung Nguyên đến, càng coi rượu như tính mạng mình.

Lý Ngọc Xương lấy ra rượu ngon năm xưa, chỉ cần ngửi mùi rượu thôi đã làm người ta tiết nước miếng, vừa nhìn thấy Lý Ngọc Xương uống cạn bát rượu, các tướng sĩ cùng hưởng ứng uống. Dân chúng vỗ tay hoan nghênh, bọn họ vui mừng khôn xiết, bát rượu ngon, lòng càng ngọt.

Nhưng Dương Hạo lại cảm thấy khó xử, sao lại là bình rượu, hắn chau mày nhìn “Bát rượu”, dân chúng đang tha thiết nhìn hắn uống, không thể chối từ, hắn giơ bình lên, uống từng ngụm.

Chỉ uống được nửa bình thì dừng lại không uống nổi nữa, cũng may đây là cái bình, không sợ người ta nhìn thấy là chưa uống hết, Dương Hạo ngửa đầu, làm bộ dáng uống cạn rượu, sau đó đưa bình rượu cho Lý Ngọc Xương, cười nói: “Đa tạ Lý viên ngoại, đa tạ bà con. Bảo đảm sự an nguy của dân là trách nhiệm của ll đoàn luyện ta, mọi người thực sự quá khách khí, giờ ta và các tướng sĩ đã trở về rồi, cũng muốn nghỉ ngơi chút, mọi người cũng có nhiều việc phải làm, mau trở về đi!”

Dương Hạo chắp tay nói lời cảm ơn với dân chúng, rồi quay sang nháy mắt với đoàn luyện phó sứ Lý Quang Sầm, hai người nhảy lên ngựa, lại một lần nữa chắp tay bái kiến bách tính môn dân, rồi thúc ngựa đi.

Lý Ngọc Xương đứng ở ven đường, vui mừng nhìn các quân sĩ vào cốc, Đường Diễm Diễm lòng tràn ngập niềm vui đứng cạnh hắn, chộp lấy chiếc bình.

Lý Ngọc Xương ngẩn người ra, thấy nàng, ngạc nhiên nói: “Diễm Diễm, cháu làm gì vây?”

Đường Diễm Diễm vô cùng vui sướng, làm mặt quỷ với hắn rồi cười nói:

“Cậu à, cậu làm việc của cậu đi, cứ kệ cháu, lát nữa cháu về”.

Dứt lời nàng lẩn vào đám người, không biết là đi đâu. Lý Ngọc Xương lắc đầu cười, đứa cháu gái này của hắn như con ngựa hoang vậy, từ nhỏ đã học được các thói xấu của các trưởng bối Đường gia, hắn hết cách đối phó với đứa cháu ngang ngược này.

Đường Diễm Diễm cầm chiếc bình, chạy đến chỗ không có người, trốn vào phía sau của khối nham thạch, giơ bình lên lắc lắc, nghe thấy trong bình vẫn có tiếng nước, Đường Diễm Diễm tiu nghỉu nói:

“Không uống hết rồi…”

Nàng nghiêng đầu nghĩ ngợi gì đó, rồi lại nở nụ cười nói:

“Bà nội chỉ nói chiếc bình này để khấn thầy cúng, làm phép, chỉ cần dùng nó uống rượu là được, mà còn chưa nói uống nhiều hay ít, hì hì…cho dù uống một ngụm cũng có tác dụng rồi”.

Nàng nuốt nước bọt, nhìn vào chiếc bình, rồi rót rượu còn lại trong bình xuống đất, sau đó trợn mắt, ném chiếc bình về phía tảng đá. “Keng” một âm thanh vang lên, chiếc bình bắn nẩy lên cao, Đường Diễm Diễm há hốc mồm, tròn mắt nhìn chiếc bình…

Chương 197:Gặp hồng


Tác giả: Nguyệt Quan
Nguồn: Sưu tầm




Dương Hạo trở lại tri phủ nha môn, tất cả võ tướng đều ở đó, quan văn và phụ tá lại dạt sang đứng bên Phạm Tư Kỳ, cảm thấy khó hiểu, Dương Hạo nói:

“Tư Kỳ, Trình phán quan và Lâm lão, bọn họ đi đâu rồi?”

Phạm Tư Kỳ vội khom lưng nói:

“Khởi bẩm phủ tôn, gần đây Lô Lĩnh Châu ta được số lượng lớn thịt thú, da lông, cung nỏ, đao kiếm, trâu dê ngựa và châu báu, ngoài ra còn có mấy nghìn dân chúng người Khương Hoành Sơn, các loại vật tư, việc sắp xếp bố trí dân chúng mới đều là việc cần phải làm ngay, mấy vị ấy vội ra sau cốc xử lý việc rồi ạ. Về phần Trình đại nhân, vì giờ người trong cốc đã tăng, bố trí ổn thỏa không kịp thời, gần đây liên tiếp xảy ra các vụ cướp bóc, giờ Trình đại nhân đang đi điều tra ạ”.

Dương Hạo khẽ nhau mày nói:

“Những người nào phạm tội vậy?”

Phạm Tư Kỳ nói:

“Phần lớn là người Hán của châu này, có tên vì báo thù cho hả giận, có tên thì là lưu manh, dân chúng người Khương đều là tù binh, nên họ không có phản ứng gì”.

Dương Hạo tức giận nói:

“Buồn cười, đục nước béo cò, nhân lúc cháy nhà thì vơ vét các thứ của người khác, phải lấy trọng hình mà xử phạt, bọn chúng mới biết thân biết phận, ngươi đi đi, tìm mấy vị chủ bộ và Trình phán quan về đây cho ta, bổn phủ cần biết một số tình hình mấy ngày qua trong cốc, có vài việc không nói không được”.

Phạm Tư Kỳ tuân lệnh rồi đi ra, Dương Hạo quay sang hỏi việc phòng ngự của đám người Kha Trấn Áp, thấy bọn họ bố trí phòng ngự đâu vào đấy, liền cười và khen ngợi. Sau đó cho mọi người lui, chỉ có Lý Quang Sầm ở lại.

Các quan tướng lui ra, Dương Hạo mới mời Lý Quang Sầm ngồi xuống ghế chủ, còn mình thì ngồi xuống bên cạnh, nói:

“Nghĩa phụ, nay Lô Lĩnh ta đã mạnh lên, khí thế hừng hực, vừa nãy ở cửa cốc thấy có rất nhiều thanh niên trai tráng tình nguyện nhập ngũ, chúng ta giờ phải rèn sắt khi còn nóng, tranh thủ thời cơ, tổ chức lập đội quân thôi”.

Lý Quang Sầm nghe nói việc tổ chức lập đội quân, trong lòng cũng hoan hỷ, nhưng hắn còn đang băn khoăn điều gì đó, chần chừ nói:

“Hạo Nhi, triều đình ủy thác cho con làm Lô Lĩnh tri phủ kiêm châu đoàn luyện sứ, vốn là bao gồm cả quyền tổ chức lập đội quân, nhưng triều đình lại chưa từng trích cấp binh khí áo giáp cho con. Biết rằng tri phủ thì sẽ kiêm chức đó, nhưng cái gọi là đoàn luyện sứ chỉ là một chức suông, không cần thiết phải thực sự tổ chức quân đội, nếu con tùy tiện tổ quân, có kiêng kị gì với Triệu Quan Gia hay không?”

Vị trí của đoàn luyện sứ thấp hơn tiết độ sứ, phòng ngự sứ thì cao hơn chức luận chức quyền, tiết độ sứ giờ tương đương với bộ tư lệnh, phòng ngự sứ tương đương với sở tư lệnh, mà châu đoàn luyện sứ tương đương với quân phân khu tư lệnh, nhất định là có quyền được tổ chức quân đội. Nhưng binh lính, xây dựng chế độ, quân lương, võ trang cũng cần được triều đình thống nhất và phê chuẩn. Mà ý chỉ thánh thượng chưa bao giờ đề cập đến, nên chức vụ này chỉ là ảo mà thôi, chỉ giao cho hắn một chức suông. Còn hắn lại muốn tổ chức quân đội. Trừ phi triều đình hạ chỉ rõ ràng, nếu không thì không thể làm được.

Dương Hạo cúi đầu nói:

“Những điều mà nghĩa phụ lo lắng là một chuyện, Lô Lĩnh xây dựng quân đội là một chuyện, đã được Phủ Châu Chiết đại tướng quân cho phép, nhưng về phần triều đình, thì không muốn lập quân đội tại đây, quân quyền là do ta nắm bắt, nếu ta trực tiếp tấu lên triều đình, nói cần phải lập quân đội, triều đình không cần nhúng tay vào, mà là do một tướng khác đến chỉ đạo, ta cần phải đề bạt ngay, để cho Trình phán quan kiêm luôn chức này.

Ta cũng không ôm đồm, ham quân quyền, nhưng tình hình hiện nay của Lô Lĩnh Châu, trên dưới phải cùng nhau thoát khỏi khó khăn này, Trình Đức Huyền tuy luôn khách khí với ta, khoảng cách ta và hắn so với trước đây càng xa, để hắn cầm quân, ta thực sự không yên tâm, quân quyền này vẫn cần ta nắm giữ.

Nói đến đây, hắn nhô người về phía trước, mỉm cười nói:

“Cho nên, con nghĩ ra cách này để giải quyết vấn đề trước mắt”.

Lý Quang Sầm vuốt râu cười nói:

“Con ta xưa nay túc trí đa mưu, có cách chắc chắn là cách tốt, con nói đi, là diệu kế gì vậy?”

Dương Hạo nói:

“Nghĩa phụ, triều đình để trấn an các tộc người Khương, từ trước đến nay đều ban cho chúng chức quan và trọng thưởng, các thủ lĩnh của hàng trăm lều thì phong cho chức quân chủ, dưới trăm thì phong chức chỉ huy sứ. Giờ tộc dân của nghĩa phụ già có trẻ có cũng phải đến năm nghìn người, mà các bộ lạc người Khương Hoành Sơn hoặc là quy thuận hoặc là đầu hàng làm tù binh, tổng số cũng phải có mấy nghìn người, Lô Lĩnh nay được thêm gần vạn người rồi. Con chỉ cần báo tình hình bọn họ lên trên, bổ sung vào tộc người của nghĩa phụ và dân tráng của châu này, là lấy được rất nhiều chức quan, khi đó có thể dùng tên của các bộ lạc người Khương mà tổ chức quân đội.

Đương nhiên là quan sứ của các bộ lạc người Khương mà triều đình phong thưởng chỉ có ban bổng lộc, không ban thưởng vũ khí, nói trắng ra là, cũng chỉ là cái hư danh để trấn an bọn họ, nhưng trong đó vẫn có khe hở. Đó chính là tuy triều đình không cho bọn họ vũ khí, nhưng nếu các bộ Đảng Hạng người Khương lại tự mình huấn luyện dũng sĩ, đúc binh khí, luyện tập võ nghệ, triều đình cũng không thể khống chế được…”

Lý Quang Sầm vừa nghe thì hiểu liền, vỗ tay khen:

“Quả là diệu kế, chỉ cần có vậy thôi, vũ khí binh giáp, cung nỏ chiến mã, chúng ta đều có thể tự thân vận động được”.

Dương Hạo nhướn mày nói:

“Cái này không cần phải lo lắng, Lô Lĩnh Châu ta trong vòng mười năm không cần nộp thuế cho triều đình, chỉ cần buôn bán vào cầu, dùng số tiền đó để xây dựng quân đội thì còn dư. Huống hồ triều đình hàng năm còn trích cấp tiền bạc cho dân chúng. Hơn nữa, Phủ Châu Chiết đại tướng quân đã đồng ý viện trợ áo giáp binh khí cho ta rồi”.

Lý Quang Sầm gật gật đầu, nói:

“Nhưng, hoàn toàn dựa vào người ngoài, sẽ bị người ta khống chế. Phủ Châu không biết xuất phát từ mục đích nào mà lại nguyện để con tổ chức quân đội, nhưng binh khí ắt phải sẽ không ngừng cung cấp cho ta. Trên thảo nguyên, vũ khí chiến trận sắc bén nhất là cung tên, mà trong các binh khí, cái tiêu hao nhiều nhất chính là mũi tên, con lấy danh là các bộ lạc người Khương ngầm tổ chức quân đội, hay gọi là dấu triều đình, nhưng một khi nhập số lượng lớn mũi tên về, triều đình lại không phát hiện ra hay sao?”

Dương Hạo nói:

“Trong các bộ tộc đều có thợ rèn, việc làm ra mũi tên thực sự là không khó, con nghĩ có thể phân cho các bộ tộc làm”.

Lý Quang Sầm hỏi:

“Thế sắt từ đâu mà ra? Mua số lượng lớn sắt, quan sát sứ các châu chẳng nhẽ không phát hiện ra? Hơn nữa, trong mắt chúng ta còn có Trình Đức Huyền mà, hắn tuy không hiểu tình hình ở đây lắm, nhưng mua nhiều sắt thép như vậy, làm sao qua khỏi mắt hắn”.

Dương Hạo nghe xong, nhướn mày, chắp tay sau đít, bước đi thong thả trong sảnh, cuối cùng cũng không nghĩ ra hai kế nào diệu kế, tự nhiên ngẩng đầu lên thì thấy Bích Túc đang đi qua sân, nhìn qua thì thấy hắn như tên hòa thượng, một sáng kiến chợt lóe lên trong đầu Dương Hạo, Dương Hạo mỉm cười nói:

“Có rồi”.

Lý Quang Sầm vội hỏi:

“Kế từ đâu ra?”

Dương Hạo lại cười nói:

“Nay dân chúng trong thiên hạ, dân sùng kính phật như sen nở rộ. Phụ cấp vào xây dựng chùa chiền, sẽ có ối người vứt bỏ của cải mà theo phật.

Mộc đại nhân, tộc người của đại nhân cũng đã thuộc Đại Tống, từ Thổ Phiên thảo nguyên nghìn dặm đến đây, được đãi ngộ như dân chúng Lô Lĩnh Châu ta, Người Khương và người Hán là một nhà, các trưởng lão trong tộc đối với triều đình Đại Tống và Quan Gia đều rất cảm kích, để thỏa chí nguyện to lớn, Lô Lĩnh Châu là ngọn núi cao nhất, đúc một cái pho tượng bằng sắt, lấy ý là cảm ơn hồng ân của triều đình, đại nhân nói xem…Quan Gia nếu thấy thiên uy của Đại Tống, nhân đức của Thiên Tử như vậy, có lấy làm vui mừng hay không?”

Lý Quang Sầm ngây người ra, rồi cười ha ha.

***

Dương Hạo rời tri phủ nha môn, đi tìm Đường Diễm Diễm.

Lần trước liên kết đồng minh với Đảng Hạng Thất Thị, là việc bí mật cho nên trên dưới Lô Lĩnh Châu không ai biết chuyện, chỉ có Lý Quang Sầm đi theo thì biết. Lần này liên kết đồng minh với bộ lạc Dã Ly Thị lại là việc lớn, niềm hãnh diện của người Hán, chẳng những không sợ triều đình biết, mà còn mong sao triều đình biết.

Một khi triều đình biết được người Khương Hoành Sơn ngang ngược kiêu ngạo trở nên lễ độ với quan lại Đại Tống, ngưng chiến liên minh, thì đó là công lao rất lớn, nhất định sẽ có được một chức quan to của triều đình, đặc biệt là sẽ lấy được thiện cảm của các võ tướng, triệt tiêu những ảnh hưởng trái chiều về người Khương hay làm loạn, giết người bằng những thủ đoạn tàn khốc. 

Cho nên lần này đi gặp bộ lạc Dã Ly Thị để liên kết đồng mình các bộ lạc người Khương, không những rầm rộ sôi nổi mà còn mang theo một vài thương nhân đi cùng, sau khi liên kết đồng minh xong, lập tức sẽ buôn bán trở lại, một phần có lợi ích trực tiếp thì bộ lạc người Khương có thể chân chính mà ngụ ở đây, mặt khác cũng triệt tiêu được những ảnh hưởng của chiến loạn lúc trước, mau chóng khôi phục lại sức sống vốn có của Lô Lĩnh Châu.

Giờ đã là mùa thu, phải nhanh chóng khôi phục lại sự yên bình của Lô Lĩnh Châu và sự giao thương tấp nập của các thương nhân, thì mới có thể có một món lời lớn trước mùa đông. Sau mưa tuyết, dân chúng Lô Lĩnh Châu phải nghỉ đông, việc làm ăn buôn bán cũng kết thúc, chỉ có những vật tư được gom góp để qua mùa đông, để mùa đông qua đi không khắc nghiệt quá, hơn nữa có thể là nền tảng tốt cho việc làm ăn buôn bán mùa xuân mới.

Đường gia có ảnh hưởng rất lớn đối với các toàn thương nhân tây bắc, hơn nữa do Đường gia đã đứng ra mời chào các thương nhân tới đây, sức thuyết phục còn hơn cả việc tri phủ ra tay bảo đảm sự an toàn. Như vậy, Đường Diễm Diễm tự nhiên mà trở thành nhân vật quan trọng, chỉ có thuyết phục nàng, mới có mối quan hệ tốt với Đường gia.

Mà Đường Diễm Diễm…nếu hắn có điều cần nhờ vả, chắc chắn Đường Diễm Diễm sẽ không từ chối. Nghĩ đến điều này, Dương Hạo tự nhiên có cảm giác xấu hổ, vì sao hiệu buôn đầu tiên ở Lô Lĩnh Châu mà hắn nghĩ đến không phải Lý Ngọc Xương mà lại là Đường Diễm Diễm. Có phải là hắn thấy thuyết phục Đường Diễm Diễm dễ hơn là Lý Ngọc Xương?

Dương Hạo thúc ngựa tới trước cửa hiệu của Lý Ngọc Xương, ghìm ngựa nhìn lên nhà hầm trên vách núi, thầm nghĩ:

“Ta…lợi dụng tình cảm mà nàng ấy dành cho ta, có phải là đê tiện quá không?”

Rồi hắn tự nhiên giật mình, khẽ thở dài một tiếng:

“Một núi không thể chứa hai hổ, trừ phi là hai con hổ một đực một cái. Tử Du và Đường đại tiểu thư ai cũng có cái uy của mình, cho dù là ta có cưới thiếp, thì trong hai người ai sẽ cam tâm tình nguyện làm thiếp? Ta đã hứa với Tử Du rồi, sao lai có ý nghĩ kì quái này được nhỉ.

Ít nhất lần này ta làm không phải vì bản thân mình. Hơn nữa, Đường gia cũng thấy rõ cái lợi của mình, về sau làm ăn buôn bán được, đối với Đường gia mà nói con đường tiền tài không phải là mới mẻ gì, ai còn sợ tiền nhiều bao giờ. Chỉ là…chỉ là ta nợ mối tình cay đắng quá…Nàng ấy tuy đanh đá, nhưng khi đối với ta thì lại không còn gì để nói…”

Ý chí hơi dao động, hắn dắt ngựa đi chậm về phía trước, gió thu lùa vào từng kẽ lá, lá rơi xuống vai hắn, gió mang đến sự hiu quạnh trong lòng hắn, hắn thò tay phủi chiếc lá kia xuống, khẽ thở dài:

“Thôi, quyên đi, không để chuyện này làm tâm gan mình rối bời nữa, đợi khi mưa tuyết mùa đông, dân chúng Lô Lĩnh được nghỉ ngơi, ta sẽ bỏ chút thời gian về Phách Châu, chấm dứt ân oán kia, làm quan mấy năm rồi, mấy ngày đó sẽ cho tâm hồn không bị ràng buộc gì hết. Những mỹ nhân giống Tử Du, Diễm Diễm, nếu có thêm một mạng nữa, ta không biết thế nào là đủ, giờ sao trong đầu lại có cái ý niệm được voi đòi tiên thế này? Lòng tham không đáy, ắt sẽ bị quả báo”.

Dương Hạo chậm rãi bước vào hiệu Lý gia, người hầu Lý gia liền ra chào, Dương Hạo thường xuyên đến đây, nên hắn đã trở nên quen thuộc với những người này. Người hầu toan đi bẩm Lý Ngọc Xương, Dương Hạo cười nói:

“Không cần phiền tới Lý viên ngoại, lần này ta đến, ta muốn gặp Đường cô nương, ngươi thấy ta định đi bẩm Lý viên ngoại đó hả?”

Nói xong, bảo người hầu đi gọi Đường Diễm Diễm ra sân.

Bên ngoài cửa hiệu của Lý gia có một cái sân lớn, trong sân lại được ngăn ra những sân nhỏ. Nơi Đường Diễm Diễm ở có một cái sân nhỏ. Trong sân lại được phân ra ngoài sân và trong sân, tuy sân này xấu xí nhưng cũng được coi là đẹp hơn các sân khác.

Đến trước sân, Dương Hạo chỉnh lại mũ cánh chuồn của mình, sửa sang lại quần áo rồi bước vào sân, không có ai cả, yên tĩnh, Dương Hạo thấy cửa thứ hai mở, liền bước qua đi vào cổng bên trong.


Cái bình mà Đường Diễm Diễm ném, chẳng những không vỡ, ngược lại nó còn kêu “Keng” một tiếng rồi bắn lên cao, khiến nàng kinh ngạc. Nhặt chiếc bình đó lên xem, phát hiện ra chiếc bình bị vỡ phần gốm, để lộ ra màu đồng trắng. Chiếc bình đồng trắng ấy có được gọi là đã bị nàng đập vỡ rồi không? Đường Diễm Diễm thấy không thể hiểu nổi.

Hóa ra, năm đó Đường lão thái gia theo lệnh của phu nhân mà làm thêm một chiếc bình giống hệt cái cũ, lúc đó không có nghề làm gốm, mà ông ta lại là chủ nhân của Đường gia, còn nhiều việc lớn cần phải làm, sao có thời gian đi Giang Nam tìm vị cao thủ làm gốm để làm lấy một cái thật giống. Vì thế chỉ tìm một người thợ rèn sắt làm nó, bên ngoài là lớp gốm, vẽ hình hoa lan, Đường lão phu nhân thì không hiểu gì về gốm sứ nên chiếc bình đó đã che mắt được bà.

Ai ngờ người thợ đó làm theo chiếc bình cũ đã không cẩn thận làm chiếc bình cũ ấy vỡ, Đường lão thái gia chỉ biết đó là của hồi môn của phu nhân, sợ khi về sẽ bị bà ấy giận, nên đã giở thủ đoạn vàng thau lẫn lộn, làm ra hai chiếc bình đồng trắng giống nhau y sì rồi mang về nhà, hai chiếc bình đó giống hệt nhau, chỉ là nghề thủ công đúc đồng bấy giờ kém hơn một chút so với máy móc đúc đồng bây giờ. Vì đồng cũng nặng nên không phát hiện ra sự khác biệt về trọng lượng.

Đường lão thái gia đã qua đời, chuyện này Đường Diễm Diễm không thể biết. Nàng vô cùng ngạc nhiên, lại còn tưởng chiếc bình này dùng chất liệu đồng mới có hiệu nghiệm, cho nên nàng cũng không nghĩ nhiều, cá tính của nàng là bám riết không tha, còn cái việc cỏn con này sao làm nàng phiền lòng được.

Sau khi nàng trở về hiệu buôn Lý gia, liền mượn người hầu cái búa, rồi một mình tới sân, đuổi hết người hầu đi, mang chiếc bình kê lên một phiến đá, nghiến răng nghiến lợi dùng búa đập.

Nàng dù có võ nghệ, nhưng vẫn chỉ là một nữ nhi, sức có hạn, hơn nữa lại chưa bao giờ cầm chiếc búa to như vậy, lần đầu đập xuống không chính xác, đập lệch sang một bên, chỉ nghe thấy “Bụp” một tiếng, phiến đá vỡ vụn, còn chiếc bình kia thì bay thẳng đến cửa sân.

Dương Hạo đang mải miết đi đến cửa sân, vừa mới ngẩng đầu lên thì thấy một vật gì đó trăng trắng bay đến, mặc dù hắn có võ, giác quan thứ sáu hơn người thường, nhưng chiếc bình bay như tên, khi hắn phát hiện ra có vật lạ bay đến, cố né sang một bên nhưng đã muộn.

Dương Hạo vừa ngẩng đầu nên cũng không thấy rõ vật đó là vật gì, chiếc bình đồng trắng nhằm mặt hắn mà bay tới, Dương Hạo không kịp né thì đã “Cộp” một tiếng, chiếc bình gõ vào đầu hắn, da đầu hắn bị bong, máu chảy xuống mặt be bét.

Ông lão Lâm Bằng Vũ và Trình Đức Huyền hùng hổ tới hiệu buôn Lý gia.

Bọn họ vốn đang ở đằng sau cốc giải quyết vài việc, vì cái vụ án tranh chấp, đúng vào lúc đó, Phạm Tư Kỳ vội đến thông báo là tri phủ đài đại nhân đã trở về, mời họ nhanh chóng trở về, có việc cần bàn, nên hai vị này mới gấp rút về. Hai người đến tri phủ nha môn mới biết Dương Hạo đi hiệu buôn Lý gia, hai người không chần chừ lại đi đến đây.

Bọn họ giải quyết chuyện gì vậy?

Hóa ra, hôm trước Mộc Khôi trở về, mang theo rất nhiều tù binh Đông Dương Trại và dân chúng người Khương. Trai tráng Đông Dương Trại những tên đã bị chết không nói làm gì, còn đàn bà trên thảo nguyên thì như hàng hóa vậy, ai là chủ nhân của họ thì có quyền xử lý, nên đàn bà và những đứa trẻ theo quy tắc trên thảo nguyên thì được phân cho các kỵ sĩ. Về phần này, Dương Hạo và người Khiết Đan tiến hành phân thể chế giống nhau, cũng là một châu hai chế độ.

Còn về phần người Khương vốn trở thành nô lệ sau cuộc chiến với Đông Dương Thị, đã được Dương Hạo coi là dân chúng bình thường, sắp xếp ổn thỏa. Lâm Bằng Vũ ở trong cốc cho bọn họ ở cùng một khu với nhau, rồi lại có người giúp đỡ họ làm lều trại, nhà tranh, phân phát lương thực, tạm thời dàn xếp như vậy, chuẩn bị cho họ đăng kí làm hộ tịch, hỏi họ các công việc trước đây của họ rồi sắp xếp nghề nghiệp.

Có vài dân chúng nhàn cư vi bất thiện. Có một tên họ Hoa tên Vô Nguyệt, vốn là cậu ấm quần là áo lượt của Bắc Hán, đất Bắc thường xảy ra chiến loạn, gia đình xuống dốc, Hoa công tử sa cơ lỡ bước liền gia nhập vào nhóm một bọn lưu manh, chơi bời chác táng, rồi sinh ra những ý đồ hãm hại lừa gạt người khác.

Sau khi đến Lô Lĩnh Châu, tên này hết ăn lại nằm, không làm gì cả, về sau thì lại kinh doanh sòng bạc. Nhưng gần đây vì người Khương thường đến cướp bóc, thương nhân không dám tới Lô Lĩnh Châu buôn bán, sòng bạc vắng vẻ, hắn không có việc gì làm, cả ngày chỉ đi chơi.

Hắn đến đây đi dạo, gặp Lâm Bằng Vũ tiên sinh đang bố trí nhà cửa cho người Khương, trong đó có một thiếu nữ, dáng người yểu điệu, khuôn mặt khả ái, tuy lam lũ, sắc mặt không được tươi tắn, song cũng gọi là có sắc, hắn bỗng động lòng.

Đám người Khương vừa từ kiếp nô lệ trở thành thường dân, lại được bố trí sống giáp ranh với người Hán, thấy ai cũng nơm nớp lo sợ. Thấy bọn họ yếu đuối như vậy, tên Hoa Vô Nguyệt này mới nảy ý định muốn bọn người Khương làm tù binh tiếp, biết quan phủ cũng sẽ không phân xử cho bọn chúng, bởi vậy mà hắn nhắm túp lều của thiếu nữ kia, đến ban đêm thì lén lút vào trong trại, giở trò đồi bại.

Cha của thiếu nữ đó biết tin liền tới ngăn cản, thì bị Hoa Vô Nguyệt cho một đao mà chết tươi, sự việc đó vỡ lở, hắn vội vàng trốn chạy, thì bị một thợ rèn cao to người Khương tóm được. Nếu như theo lệ cũ thì sẽ bị đánh chết thì thôi, xác vứt cho chó, nhưng ở đây dù sao cũng là Lô Lĩnh Châu, bọn họ mới đến, sợ tùy tiện xử lý người Hán sẽ bị giam giữ, đợi đến khi trời sáng liền đến chỗ Lâm chủ bộ đăng kí hộ tịch khóc lóc om sòm.

Lâm chủ bộ nghe thấy vậy giận tím mặt, lập tức sai người đi bẩm chủ quản tư pháp luật lệnh Trình phán quan, mời hắn đến xử lý.

Trình Đức Huyền mấy ngày nay ở Lô Lĩnh Châu cảm thấy không thoải mái, dù hắn giờ đã làm việc cần cù và thành khẩn, chịu mệt nhọc, rất cung kính với Dương Hạo, nhưng quan lại phủ nha lại không thân thiết với hắn, hơn nữa lại không chiếm được sự khen ngợi và cảm tình của bách tính môn dân. Tất cả dân chúng Lô Lĩnh đều coi Dương Hạo như phụ mẫu tái sinh, mà hắn thì lại không có cái uy gì trong mắt dân chúng.

Vì sau khi Lô Lĩnh thiết lập châu phủ, dân chúng cũng không biết là ai, chỉ biết ân oán ban đầu trên đường xảy ra với khâm sai Dương Hạo, nên hắn bị dân chúng xa lánh. Tuy nói hắn hiện giờ là phán quan của phủ này, mọi người không dám có ý kiến gì với hắn, nhưng trong mắt thì tỏ rõ sự khinh thường.

Cũng không biết ma xui quỷ khiến thế nào, hắn cảm thấy đến nha dịch cũng không coi hắn ra gì. Ở Lô Lĩnh Châu này, hắn thực cô độc, hắn không có tác dụng gì, ngay cả đến một người bạn cũng không có, sự cô độc và sự lạnh nhạt của người khác khiến Trình Đức Huyền ngấm ngầm chịu đựng, nhưng như vậy, hắn ở Lô Lĩnh Châu sau này làm sao có thể hoàn thành sứ mạng thành phủ doãn đại nhân được đây?

Song xích mích giữa người Hán và người Khương dẫn đến án mạng thì lại mời Trình Đức Huyền, Trình Đức Huyền tự thấy cơ hội quan trọng nâng hình tượng bản thân trong mắt bách tính môn dân đã đến. Dân chúng Lô Lĩnh Châu vốn là bốn vạn người, được sự ủng hộ của họ, mới có thể trở thành chủ của Lô Lĩnh Châu, mới có thể bảo đảm cho việc thực hiện lệnh thông suốt, theo thể từ cao xuống thấp. Mà người Khương, dù không nói đến mối thù cướp bóc và giết hại với dân chúng Lô Lĩnh Châu, thì họ cũng chỉ là bọn tù binh bị bắt vì thua trận, dám dựa vào cái gì để thừa hưởng quyền lợi và sự bảo đảm giống người Hán?

Hắn tin rằng, nếu như xử lý tốt vụ án này, đứng sang phía người Hán, nhất định sẽ nhận được sự ủng hộ của toàn thể dân chúng, triệt tiêu đi tình hình bất lợi xoay quanh hắn.

Ban đầu, Dương Hạo quyết định dùng cách ăn miếng trả miếng với người Khương, lấy máu phải trả bằng máu, hung hăng đả kích dáng vẻ kiêu ngạo và bệ vệ của bọn họ, Trình Đức Huyền phản đối làm vậy, hắn thấy chó cắn người một miếng thì người không được chấp chó, người phải giữ được uy phong của người, nên lấy lòng nhân nghĩa, vương đạo mà trị, mà cảm hóa những người dân thiếu văn minh. Nhưng cách làm của Dương Hạo lại có hiệu quả rõ ràng, bọn người Khương bị đánh một đòn đau thì mới trở nên cung kính, lễ độ như vậy.

Trình Đức Huyền vội đến hiện trường, phán xét vụ án trước rất nhiều dân chúng người Hán và người Khương. Hoa Vô Nguyệt lấp liếm xảo quyệt trước mặt hắn, chỉ nói thiếu nữ người Khương kiếm kế sinh nhai bằng việc làm **, lúc đó chủ động mời chào hắn. Hắn không nghĩ rằng người Khương lại ngang ngược vô liêm sỉ như vậy, chặn đường hắn đi, cướp tiền bạc của cải của hắn, hai bên xảy ra tranh chấp, khi hắn rời đi, cha của thiếu nữ đó bèn rút ra một con dao nhỏ đe dọa, trong lúc hắn tự vệ, đã vô ý giết lão kia.

Hoa Vô Nguyệt tuy là tên lưu manh vô lại, nhưng cũng là kẻ đã từng học hành, nên bịa lời khai rất giỏi, người Hán khu đó vốn chẳng có cảm tình gì với lũ người Khương, trong lời khai của hắn lại vô tình nhắc đến sự hãm hại của người Khương Hoành Sơn đối với dân chúng Lô Lĩnh Châu trong những ngày qua, kích thích mối thù của mọi người, nhiều người nhất thời không phân đúng sai đã cổ vũ ủng hộ hắn.

Hoa Vô Nguyệt tuy bịa lời khai rất thành công, bên trong kỳ thực không phải không có sơ hở, hung khí giết người kia rõ ràng không phải là dụng cụ mà người Khương quen dùng, huống hồ dân chúng người Khương vào cốc đều đã được kiểm tra kĩ càng, làm sao có chuyện dấu dao nhỏ trên người được? Nếu tinh tế một chút, dựa vào kinh nghiệm mấy năm làm ở phủ Khai Phong thì có thể tìm ra rất nhiều sơ hở.

Nhưng Trình Đức Huyền vội vàng thẩm tra xử lý, rồi lấy luôn lời khai của Hoa Vô Nguyệt, vu cho người Khương kia làm kỹ viện, không nộp thuế, lừa bịp tống tiền khách, tự rước họa vào thân. Mà Hoa Vô Nguyệt là vì tự vệ mà giết người, vốn không có gì sai, nhưng hắn chơi bời lêu lổng, không làm việc đoàng hoàng, mới xảy ra chuyện đó thì chỉ phạt cảnh cáo hắn mười roi.

Trình Đức Huyền đổi đen thành trắng, rõ ràng là che chở cho hành vi sai trái của người Hán, bọn người Khương thất vọng liền làm loạn. Bọn họ vốn đã lo lắng, không dám tin vào sự bảo đảm của Dương Hạo, không dám tin vào bọn người Hán, nay đại quan người Hán che chở cho cái tên hành hung giết người, hãm hiếp thiếu nữ, nên bọn họ không dám tin rằng sau này tộc người của mình sẽ nhận được đãi ngộ gì.

Rất nhiều người Khương của các bộ lạc ra nhập vào Lô Lĩnh Châu, cùng đến nghe hắn xử lý vụ án, thấy hắn xử lý bất công như vậy cũng xôn xao. Chẳng qua nơi này là địa bàn của người Hán, bên ngoài là đại quân người Hán, bọn họ cũng thấy sợ, người nhà, tộc dân đều ở đây, họ không có dũng khí bạo loạn phản kháng, chỉ có thể xôn xao bàn tán.

Lâm Bằng Vũ ngồi ở một bên nghe xử, cũng bị Trình Đức Huyền chọc giận, thấy tên cổ hủ này không biết đường thay đổi, lúc đầu Dương Hạo quyết định chế độ tàn bạo thì hắn không đồng ý, nguyên nhân chủ yếu là sợ người Khương làm loạn, một khi dùng thủ đoạn khốc liệt trả thù, có thể bảo đảm an toàn cho bách tính môn dân, nhưng ngược lại bất lợi cho con đường làm quan của Dương Hạo. Hắn vốn là chủ bộ trong nha môn của Dương Hạo, thế hệ con cháu của hắn cũng làm quan dưới quyền Dương Hạo, tiền đồ của chúng nằm trong tay Dương Hạo, làm sao không vì Dương Hạo mà lo lắng được?

Nhưng giờ Dương Hạo có công rất lớn, có danh tiếng có gièm pha, ưu và nhược hòa lẫn nhau. Không muốn dùng cách lấy bạo mà trị bạo nhưng cuối cùng cũng phải dùng, giờ chiến tranh đã kết thúc, nếu Dương Hạo có thể đồng hóa được bọn người Khương, bảo đảm cho sự ổn định của Lô Lĩnh Châu, thế thì tiếng tăm sẽ còn vang xa hơn.

Nhưng Trình Đức Huyền lại bất công như vậy, ngộ nhỡ đám người Khương này lại quyết tâm tạo phản lần nữa, không biết sẽ lại chết bao nhiêu dân chúng, cho dù quân đội có đem quân đi đàn áp thì không thể làm lành được mối quan hệ giữa hai bên, việc này một khi đến tai triều đình, không phải là bằng chứng Dương Hạo lấy bạo trị bạo mà làm hằn sâu mối thù của dân chúng sao?

Cho nên Lâm Bằng Vũ đã để ý và có sự tranh chấp xảy ra với Trình Đức Huyền ngay tại hiện trường. Trình Đức Huyền quản luật pháp, ngoài chủ quan của phủ này, người khác không có quyền vung tay múa chân trước mặt hắn. Đặc biệt là khi phán quyết của hắn đưa ra, người Hán nghe phán xét đều hoan hô ca ngợi hắn, Trình Đức Huyền nhất thời kích động: Khuôn mặt u sầu của hắn đã bao lâu rồi không được nghe dân chúng ca ngợi?

Trình Đức Huyền được dân chúng hoan hô, thì càng thêm lâng lâng, vốn không để ý đến ý kiến của Lâm Bằng Vũ, tranh chấp hai người chưa đâu vào đâu thì nghe tin Dương Hạo đã trở về, vì thế cùng nhau quay về, muốn nghe quyết định của hắn. Trình Đức Huyền không sợ đi gặp Dương Hạo, làm việc với Dương Hạo lâu như vậy rồi, hắn cũng phần nào hiểu được con người của Dương Hạo, ngay cả khi hai người có oán giận gì đó, Dương Hạo cũng không phải là loại người công tư lẫn lộn, huống hồ khi nghe nói người Khương đến đánh úp thì Dương Hạo phản ứng rất kịch liệt, hắn cực kỳ coi trọng và ủng hộ người Hán, phản ứng của hắn với người Khương kịch liệt như vậy, coi là thù địch, há lại không đồng ý với cách phán quyết của mình. Nếu hắn phản đối, không phải nện cho dân chúng một cú sao?

Chương 198:Nhân đao, bá đao, pháp đao


Tác giả: Nguyệt Quan
Nguồn: Sưu tầm




Trình Đức Huyền không hề sợ hãi, Lâm Bằng Vũ nổi giận đùng đùng. Hai người mặt lạnh lùng tiến vào hiệu buôn Lý gia, người hầu hiệu buôn Lý gia thấy tri phủ đại nhân vừa đến, phán quan và chủ bộ cũng đến, lấy làm kinh ngạc. Tên hầu cúi đầu nghênh đón nói:

“Hai vị đại nhân, tới tìm Lý viên ngoại hay là tới tìm tri phủ đại nhân vậy?”

Lâm Bằng Vũ trừng mắt nói:

“Phủ tôn đại nhân ở chỗ Lý viên ngoại sao?”

Tên hầu cười nói:

“Không ạ, tri phủ đại nhân vừa mới đến tìm Đường đại cô nương ạ”.

Trình Đức Huyền và Lâm Bằng Vũ đã tới hiệu buôn Lý gia, nhưng lại không biết chỗ ở của Đường Diễm Diễm, liền hừ một tiếng nói:

“Ta có việc quan trọng muốn bẩm phủ đài, đưa chúng ta tới đó”.

“Vâng, vâng, mời hai vị qua bên này”.

Tên hầu dẫn hai người tới sân Đường Diễm Diễm, vừa đi vừa nói:

“Chúng ta đang nói, tri phủ đại nhân của chúng ta thực là văn võ song toàn, chiến đấu bảo vệ dân, thật là kỳ tài. Vừa ở ngoài cốc thì gặp hơn hai mươi tên thích khách, tri phủ đại nhân chúng ta liền xuống ngựa, rút kiếm giết địch, thực là dũng mãnh…”

Lâm Bằng Vũ vừa nghe, không khỏi ngạc nhiên, vội vàng dừng lại hỏi:

“Cái gì, tri phủ đại nhân gặp thích khách ngoài cốc? Có…có hơn hai mươi tên thích khách? Đại nhân có bị thương không?”

Tên hầu cười nói:

“Nếu không phải đại nhân chúng ta văn võ song toàn, thì…hắc hắc…hơn hai mươi tên thích khách, chưa động đến được cái lông của đại nhân, Dương đại nhân chúng ta không sao cả”.

Hắn còn chưa nói hết, thì thấy một người đầu đầy máu lảo đảo đi đến, Lâm Bằng Vũ nhìn thấy người này đầu be bét máu, nhìn không rõ mặt mũi, hắn há hốc mồm đứng nguyên chỗ cũ. Trình Đức Huyền thì như con thỏ nhảy dựng lên, toan rút kiếm, mắt hắn như tia lửa điện, ngơ ngác nhìn tên đó, thấy khó nhận ra hắn, nhưng quan phục thì rất quen, hơi do dự.

Tên đó nghe thấy có tiếng nói, liền lau máu trên mặt, tiến đến nhìn rõ ba người họ, thì vui mừng, kéo tay áo Lâm Bằng Vũ nói nhỏ:

“Lâm lão cẩn thận, bên trong…có thích khách…ta bị trúng…một ám khí vô cùng lớn, ngươi mau…phái người…đi…bảo vệ…Đường cô nương…”

Dương Hạo nói xong, nghiêng người, đổ sụp xuống đất.

***

“Cha, cha à, có tên quan người Hán phúc thẩm vụ của Mẫu Y Kha tỷ tỷ rồi”.

Một đứa bé kháu khỉnh chạy đến trước lều nhà mình, quay mặt ra người đàn ông cao lớn đang bện cỏ. Người đàn ông cao lớn này là nô lệ được Dương Hạo cứu từ Đông Dương Trại, nghe đứa con nói vậy, tay hơi run run rồi lại buồn rầu không nói gì.

“Hoành Nhi, lại đây”.

Người đàn bà trung niên ngồi xổm ở bên cạnh đang bện cỏ gọi một tiếng, kéo đứa trẻ vào lòng mình, lấy ống tay áo lau mồ hôi trên trán nó, nhỏ giọng nói:

“Hoành Nhi, đây là đất của người Hán, con không được tự tiện chạy ra ngoài chơi, tránh xảy ra chuyện, nếu bọn trẻ người Hán bắt nạt con, chắc chắn sẽ rất tàn nhẫn, không được gây chuyện với chúng, nhớ chưa con?”

“Tại sao?”

Đứa trẻ tên Hoành Nhi tròn mắt, ngạc nhiên nói: “Cha không phải nói rồi đó sao, chúng ta tới Lô Lĩnh Châu rồi, sẽ là con dân của đại quan kia giống như người Hán, chỉ cần trung thành với đại quan mặc y phục màu xanh thì sẽ không bị người ta bắt nạt sao?”

“Ngươi…ôi, đứa trẻ này, đi đi, vào trong rừng mà chơi đi, nhưng không được đi xa nhé”.

Người đàn bà vỗ vào mông đứa trẻ một cái, đuổi nó đi. Chờ đứa con chạy xa, người đàn bà nhìn người đàn ông của mình, u sầu nói: “Cha nó à, ta nghe ngóng, tên người Hán thẩm phán hôm qua là quan rất to, gọi là Phán quan, là quan chuyên quản lý phạm nhân biên giới người Hán, hắn xử thiên về người Hán như vậy, còn cái tên quan to hơn hắn có xử công bằng được không?”

Người đàn ông đó không nói lời nào, tay tiếp tục bện cỏ, ngón tay của hắn thô xù xì, trên bàn tay đầy những vết chai, nhưng mười ngón tay vô cùng nhanh nhạy, xem ra hắn bện còn nhanh hơn cả người đàn bà kia.

Không đợi câu trả lời của chồng, người đàn bà thở dài, lại lo lắng nói:

“Chàng còn nói, vị quan người Hán đó có cái tâm, sẽ không bạc đãi chúng ta. Nhưng ta thấy, chúng ta cuối cùng vẫn là người ngoài tộc, hắn sẽ không đối xử với chúng ta như con dân của mình đâu. Cái tên người Hán họ Hoa kia tối qua nếu như chạy thì không nói làm gì, cũng là do chàng bắt được hắn, nếu lão gia người Hán tìm cớ trách tội chàng…”

Người đàn ông kia trừng mắt, không nhẫn nhịn được nữa, quát:

“Y Na, đừng nói nữa. Nàng muốn ta phải làm gì đây? Thấy chết mà không cứu sao? Thật là đàn bà phụ nữ, nghĩ nông cạn thế không biết”. Nói xong hắn ném mạnh cỏ xuống đất, cất bước đi.

Người đàn bà giơ tay lên, người đàn ông cũng không quay đầu lại mà cứ bước đi, người phụ nữ thở dài, lắc đầu nói:

“Tức giận gì không biết, không nghe lời khuyên của người khác, nếu không phải tính chàng như vậy, chúng ta làm sao mà thành những kẻ bỏ gia nghiệp, còn bị làm nô lệ cho Đông Dương Thị…”

Nàng mới nói đến đây, thì thấy có bốn tên công sai hông đeo đao đến chặn trước mặt người đàn ông của mình, nàng hoảng loạn, lập tức chạy tới phía bốn tên công sai đội mũ ô sa, Dương Tấn Thành liền hỏi:

“Ngươi…chính là Lý Hưng?”

“Ồ, bốn vị công gia là…”

Người đàn ông kia cảnh giác nhìn bọn họ, lo lắng hỏi.

“Ha ha, ngươi không phải sợ như vậy, lão gia tri phủ chúng ta sẽ phúc thẩm lại vụ thiếu nữ người Khương kia bị hãm hại, lão gia có chỉ, ngươi là nhân chứng quan trọng, đi cùng chúng ta thôi”.

“Các vị lão gia, các vị lão gia, xin các người buông tha cho chúng tôi”.

Người phụ nữ kia đuổi theo, chặn trước người đàn ông, giống như gà mẹ che chở gà con. Một mực cầu xin nói:

“Chồng ta không biết gì cả, là tên người Hán họ Hoa chạy ra từ trong lều, nên chồng ta mới đuổi theo tóm được hắn. Rốt cuộc là tên người Hán đó nói sự thực hay là lời Mẫu Y Kha nói là thực, người đàn ông của ta không biết gì hết”.

Dương Tấn Thành dở khóc dở cười, nói:

“Ngươi sợ gì, chỉ là gọi người đàn ông của ngươi đi hỏi vài điều mà thôi, chúng ta nào có làm gì đâu, ngươi nghĩ chúng ta đến giết người bịt miệng sao?”

Những lời hắn vừa nói khiến người phụ nữ đó càng thêm sợ hãi, mặt trắng bệch không còn giọt máu, Dương Tấn Thành thấy vậy, vội an ủi: “Đừng sợ, đừng sợ, nếu như chúng ta có ác ý gì với các ngươi, thì sao lại chỉ có bốn người bọn ta vào Khương trại các ngươi được. Nói thực với ngươi nhé, hôm qua Trình phán quan xử án, người Khương vẫn còn oán trách. Đại nhân ta hiểu rõ sự tình, hôm nay mở công đường thẩm phán, đồng thời là chủ quan thẩm phán, người đàn ông của ngươi là một nhân chứng quan trọng, cần phải lên công đường làm rõ sự việc, nơi xét xử vẫn ở chỗ cũ, chính là khoảng đất trống ngoài Khương trại các ngươi, chắc chắn sẽ không mang hắn đi xa đâu”.

“Được, ta đi cùng các ngươi”.

Người đàn ông đó nói xong, gạt tay người vợ sang một bên.

“Cha nó à, cha nó…”

Người phụ nữ giật giật ống tay áo của hắn, nước mắt lưng tròng dặn dò:

“Lão gia người Hán bảo ngươi nói gì thì ngươi nói cái ấy nhé, nhất định không được cãi, nhé…”

Người đàn ông không nói gì, chỉ lẩm bẩm gì đó, không biết đồng ý hay không đồng ý, liền cất bước đi về phía trước, bốn người Dương Tấn Thành đi theo sát phía sau, người phụ nữ kia hồn bay phách lạc đứng tại chỗ cũ nghĩ ngợi gì đó, chực đuổi theo.

***

Hôm nay tri phủ phúc thẩm lại vụ án hôm qua Phán quan xử, cả Lô Lĩnh Châu náo động hẳn lên, người Hán sống ở trong ngoài mười lăm mười sáu trại, trong thị trấn và người Khương biết tin đều đến, người đứng khắp sườn núi, ngay cả cách sườn núi đó trăm thước cũng kín mít người.

Phạm nhân, khổ chủ, nhân chứng, tất cả đều đã được dẫn tới, tam ban nha dịch đứng một bên, chia ra hai bên trái phải, đứng chen chúc nhau, ở giữa là một chiếc bàn bát tiên, phía trên có một lệnh tiêm đỏ đen, bên cạnh một quyển sách và bút mực giấy nghiên.

Tri phủ đại nhân không ở trong nha môn thẩm phán, mà đến nơi này thăng đường thẩm vấn, rõ ràng là muốn cho bách tính môn dân đều biết được tin xử vụ án này mà đến xem, cho nên ngoài tam ban nha dịch, hai bên còn có gần trăm người hông dắt bội đao, có dân tráng để duy trì trật tự, cho nên tuy nói người đông như kiến trước trại người Khương nhưng lại không có tiếng ồn ào nào. 

“Cọc…cọc…” Kiệu lớn từ xa đi đến, hiện trường nín thở, yên ắng. Nơi này núi cao Hoàng Đế ở xa, chức quan to nhất là tri phủ một châu nắm trong tay quyền sinh tử của dân chúng, nên có kẻ nào là không sợ.

Lô Lĩnh Châu vì mới được lập, nên phủ nha có rất nhiều thứ vẫn còn chưa có, nghèo khó hơn các châu phủ khác, kiệu quan chỉ có một chiếc, hơn nữa bình thường Dương Hạo cũng không dùng đến, ra khỏi cửa là cưỡi ngựa, giờ Dương Hạo lại ngồi kiệu quan, những viên quan khác đều là cưỡi ngựa đi theo. Các quan gần đến nơi thì lần lượt xuống ngựa, đi đến chỗ ngồi hai bên chờ.

Dân chúng mở to mắt thấy một tên thanh niên nhảy xuống ngựa cực kỳ nhẹ nhàng, bước nhanh đến trước kiệu, vén màn kiệu. Người thanh niên đó mặt mày tuấn tú, tóc rất ngắn, nếu người không mặc công phục nha môn thì chắc chắn là hòa thượng của thảo nguyên Thổ Phiên.

Hắn vén màn kiệu sang một bên, một người chậm rãi bước ra từ bên trong kiệu, giầy quan màu đen, quần áo màu xanh nhạt, bên hông đeo một túi cá bạc, chỉ có quan mới được đeo nó, đó không phải ai khác chính là quan Đại Tống, Lô Lĩnh Châu tri phủ kiêm đoàn luyện sứ Dương Hạo Dương đại nhân.

Dương Hạo không đội mũ, đầu được băng một lớp vải trắng như người Ấn Độ, khu vực tây bắc không ít những người này qua lại. Thấy hắn với bộ dạng lạ như vậy, nhiều người không biết hắn hôm qua bị thương, những người mới tới không biết lai lịch hắn, còn tưởng rằng vị Dương đại nhân này là người trời. Từ thời Đường đến nay, người ngoài tộc làm quan ở Trung Nguyên không hiếm, vì vậy trong đám người có những tiếng chậc chậc.

Dương Hạo đi đến nơi cao nhất rồi ngồi xuống, Trình Đức Huyền và các vị quan lúc này mới lần lượt ngồi xuống, Dương Hạo nhìn hai bên, Dương Hạo cầm lấy kinh đường mộc gõ một cái. Ở một nơi trống trải như này, tiếng kinh đường mộc gõ không có tác dụng làm người ta sợ hãi, nhưng đây là thể thức tất yếu, nha dịch hai bên thấy tri phủ đại nhân cầm kinh đường mộc gõ liền nói “Uy vũ”.

“Các vị dân chúng, từ khi Lô Lĩnh Châu ta thành lập tới nay, phần lớn dân chúng đều tuân theo vương pháp, làm việc theo quy củ, nhưng không phải không có bọn cường đạo hoành hành. Trình phán quan đã dạy bảo khuyên răn, ít trừng phạt, nhưng vẫn có vài tên không biết hối cải, thậm chí còn làm tình hình trầm trọng thêm, như vậy gọi là làm loạn thế. Đương nhiên rồi, Đại Tống ta quốc thái dân an, tuyệt đối chưa có loạn thế, nhưng vì Lô Lĩnh Châu mới thành lập, lại có người Khương Hoành Sơn làm loạn, không tránh khỏi có những kẻ xấu nhân cơ hội đó mà đục nước béo cò, làm những việc không đúng với vương pháp. Hôm nay, bổn quan mở công đường xét thẩm thiếu nữ người Khương Mẫu Y Kha bị lăng nhục, cha bị giết theo vương pháp. Người đâu, mang nguyên cáo đến”.

Vì nơi này không phải công đường, nên không có cánh cổng và áp ban hậu thẩm, cho nên nguyên cáo, bị cáo và nhân chứng đều đã đứng ở hiện trường. Dương Hạo dứt lời, Mẫu Y Kha liền bị đưa lên quỳ xuống trước án, thiếu nữ này còn chưa nói lời nào thì đã bật tiếng khóc.

Mẫu Y Kha trong tiếng Khương có nghĩa là mặt trăng, tuổi của thiếu nữ này không lớn, mới chỉ có mười ba mười bốn tuổi, quả nhiên người nhỏ bé như vầng trăng, khuôn mặt thanh tú, thực rất có sắc. Dương Hạo thấy nàng còn nhỏ tuổi, mặt mũi non nớt, ngây thơ, không có chút phong trần nào lại bị tên táng tận lương tâm kia lăng nhục, còn bị vu là làm **, thầm tức giận trong lòng.

Y Na đứng trong đám người, nghe thấy vị quan người Hán này nhắc tới chuyện bị người Khương Hoành Sơn làm loạn, thấy lo lắng, lại thấy Mẫu Y Kha khóc trước án, mặt tên quan người Hán lộ ra sự tức giận, hai mắt đằng đằng sát khí, trong lòng càng thêm hoảng sợ, nàng đứng trong đám người cố gắng vẫy tay với chồng ra ám hiệu, bảo hắn không được nói ra những lời khiến quan người Hán không vui. Lý Hưng thấy ám hiệu của vợ mình, liền quay người đi, khiến Y Na tức giận.

Cha của thiếu nữ kia chết thảm, bản thân lại còn bị người ta lăng nhục, giờ chỉ còn lại một mình, cái tên quan hôm qua còn không phân xử công bằng cho nàng, nàng không biết quan hôm nay có phân xử cho nàng công bằng hay không, nàng quỳ trước án mà khóc.

Dương Tấn Thành thấy nàng khóc như vậy không phải cách hay, liền tiến đến gần, lớn tiếng nói:

“Nguyên cáo, ngồi phía trên kia là tri phủ Dương đại nhân của châu này, ngươi có gì oan khuất, thì cứ nói thẳng với đại nhân. Đại nhân chúng ta xét xử công minh, sẽ phân xử công bằng cho nhà ngươi”.

Nói xong thì nói nhỏ vào tai cô nương đó:

“Khóc gì mà khóc, khóc có giải quyết được gì, hãy nói oan khuất của ngươi ra, đại nhân nhà ta sẽ xét xử công bằng cho ngươi”.

Mẫu Y Kha được nhắc nhở, lúc này mới lau nước mắt, nghẹn ngào kể lại sự tình tối hôm trước từ đầu đến cuối.

Thực ra vụ án này vô cùng dễ điều tra, người Khương vốn là nô lệ của Đông Dương Thị, thiếu ngữ đó vốn không phải là kỹ nữ. Bọn họ đến Lô Lĩnh Châu mới được một ngày, vừa mới sắp xếp ổn thỏa cho họ, họ theo một đường đến cốc này sống, lúc nào cũng có người cảnh giới, làm sao có thể nảy sinh ý đồ xấu xa nhanh được, lại còn mời chào khách làng chơi nữa.
Hơn nữa cái tên họ Hoa lúc bị bắt, trên người chỉ có mấy quan tiền, tiền của mà hắn nói ở đâu? Nếu như thiếu nữ ấy có thật là kỹ nữ đi chăng nữa, lẽ nào đến lúc ra về mới đòi tiền? Huống hồ chẳng tìm được thứ gì trong lều của thiếu nữ đó, có thể nói là nghèo rớt mùng tơi. Hơn nữa, con dao nhỏ đó ở đâu mà ra? Người Khương khi vào cốc đều đã được khám xét cẩn thận. Đã hỏi tên tiểu nhị ở sòng bạc kia, vì thấy Dương Hạo uy vũ quá, nên tên tiểu nhị liền ngoan ngoãn xác nhận con dao đó vốn là của tên họ Hoa thường mang theo người. Ngay hiện trường bắt được Lý Hưng, nhân chứng, vật chứng, người bị hại, hắn còn muốn che dấu gì nữa?

Hoa Vô Nguyệt vốn muốn chối cãi trước mặt Dương Hạo, xúi dục mối thù hằn trước đây của dân chúng với người Khương, Dương Hạo hiểu rõ ý định đó của hắn, hắn chỉ nói lung tung được vài câu thì bị Dương Hạo sai người tát cho hắn mấy cái vào miệng, đánh đến nỗi hai má của Hoa Vô Nguyệt sưng lên, máu mũi chảy ròng ròng. Tên này tuy là tên lưu manh, song cũng không tàn nhẫn côn đồ, khi bị đánh, hắn không phản ứng gì, ngoan ngoãn nhận đánh.

Dương Hạo đứng lên, lớn tiếng nói: “Bà con, triều đình thiết lập châu này, các ngươi ở đây mà an cư lạc nghiệp, từ nay về sau sẽ có rất nhiều người Khương Hoành Sơn qua lại. Trong đám người Khương, sẽ có vài tên xảo trá, ngoan cố, kiêu ngạo, cho rằng Lô Lĩnh Châu ta yếu đuối mà cậy thế cướp bóc. Như vậy thì chỉ có dùng binh đao giáo huấn cho chúng một bài học. Ngược lại đối với những dân chúng lương thiện, những người bình thường thì cũng là con dân Đại Tống ta, sẽ được đối xử bình đẳng, không thể bị ức hiếp như người Khương này.

Người Khương từ mạt Tùy đầu Đường đến nay, đã tồn tại mấy trăm năm, dân chúng sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, sống ở đây. Mấy vạn dân Bắc Hán ta di dời đến đây, bám rễ ở đây thì phải hòa thuận với dân chúng bản địa. Nơi này dân cư phức tạp, bách tính cần được đối xử công bằng như nhau, quan phủ nếu như biết được kẻ nào thiên vị, kẻ nào coi khinh khiến mối quan hệ giữa hai tộc sẽ mãi mãi không thể nào hòa hợp được với nhau, thù oán giữa hai tộc từ nay về sau sẽ không còn nữa thì sẽ bị xử theo luật pháp. Trong mắt bản quan không phân biệt người Hán hay người Khương, chỉ phân biệt con dân Đại Tống với bọn cường đạo, cưỡng dâm, hành hung giết người, không thể tha thức cho những bọn đó, theo luật Đại Tống phải xử trảm!”

Dân chúng im phăng phắc, rồi có những tràng pháo tay hoan hô. Dù vẫn còn có người không hiểu gì, nhưng người biết cách phán xử hợp tình hợp lý vẫn chiếm số đông, đặc biệt là những lời Dương Hạo nói, dân chúng Lô Lĩnh đã mù quáng tin tưởng.

Hoa Vô Nguyệt nghe vậy người run bần bật, mặt trắng bệch, dập đầu xuống đất xin tha mạng, hai gò má hắn sưng húp, dù có xin bao nhiêu lần cũng không có tác dụng. Trình Đức Huyền nghiến chặt răng, mặt tái mét, ngồi ở đằng kia không nói lời nào. Dương Hạo biết lần này ý kiến của hai người lại không hợp nhau, chắc chắn hắn sẽ rất hận, nhưng đứng trước lẽ phải, không thể hàm hồ được.

Hơn nữa lúc này để Lô Lĩnh Châu có thể yên ổn tồn tại, thì nhiều việc hắn làm đều không thể hành sự theo khai phủ được nên không tránh được thiếu sót, mà trên dưới Lô Lĩnh Châu chỉ có một người Trình Đức Huyền là hắn thấy kị, không tín nhiệm. Hắn vốn có ý niệm sẽ không qua lại với con người này.

Dương Hạo nhận được sự hoan hô của dân chúng, chắp hai tay cảm tạ dân chúng, công đường im bặt không một tiếng động, mà đến ngay cả người Khương mới đến cũng có kỷ luật nghiêm minh.

Dương Hạo lại nói:

“Theo luật của Đại Tống ta, phàm là giết người đều phải xử trảm, theo quy chế phúc thẩm, phủ châu sẽ định tội, tấu lên Quan Gia quyết đoán, phê duyệt, sau mùa thu sẽ trảm,

Nhưng, đây là vụ án đặc biệt, bản quan kiêm nhiệm bản châu đoàn luyện sứ, án này vì xích mích giữa dân chúng mà xảy ra, bản quan cũng dựa vào quân pháp mà xử lý.

Những tiếng bàn luận, xôn xao phía dưới, không phải những tên cầm đại đao, mà là hai tên dân tráng Lô Lĩnh mặc áo xanh, dắt bội đao ở hông, hai người bước đến, quỳ xuống trước mặt Dương Hạo, chắp tay chào theo nghi thức quân đội nói:

“Xin đoàn luyện sứ đại nhân hạ lệnh”.

Dương Hạo giờ làm theo quân pháp mà không phải luật lệ của dân chúng. Dương Hạo vung tay lên, trầm giọng quát:

“Đem tên tù Hoa Vô Nguyệt trảm!”

Trình Đức Huyền sững sờ, hai hàng lông mày hơi nhướn lên, cười nhạt hai tên dân tráng đang kéo tên Hoa Vô Nguyệt run rẩy đến một gốc cây, cây đã bị chặt làm nhà, giờ chỉ còn lại phần gốc, vừa vặn làm cái bàn chặt đầu.

Hai tên dân tráng này thực sự là người Hán, tuy nói là nông dân, nhưng tâm vẫn vững như sắt, giết người không chớp mắt, một người trong đó ấn tên Hoa Vô Nguyệt áp mặt xuống gốc cây, dùng chân đạp vào lưng hắn, còn tên kia thì rút đao ra, lưỡi đao sáng chói, nhằm đầu hắn mà chém… “Phập”…một tiếng, đao chém thẳng vào gốc cây, một cái đầu người lăn ra mặt đất, máu tươi đỏ cả gốc cây, tay chân của cái xác không đầu kia run rẩy, một lúc sau thì không còn động tĩnh gì nữa. Đây là lần đầu tiên Dương Hạo khai đao trước mặt dân chúng, cả công đường im bặt không một tiếng động.

Đoạn cầu ở Trục Lãng Xuyên là cái đao của nhân nghĩa. Trong mắt dân chúng, Dương Hạo là một vị quan phụ mẫu chân chính, vì dân chúng mà có thể hy sinh quên mình, khiến họ thấy mang ơn hắn.

Cuộc chiến với người Khương lần này, Dương Hạo là cây đao chính, hắn quả quyết dùng cách xử lý dã man, khiến cho dân chúng nhận thức thêm được một điều là, vị quan phụ mẫu của mình không chỉ là vị hiền lành, đối với kẻ địch thì dũng mãnh, kiên quyết vô cùng, điều này khiến họ không chỉ kính yêu Dương Hạo, mà còn càng thêm tự hào và kính trọng.

Giờ Dương Hạo lại dùng pháp đao, không chút do dự chém tên phạm tội, xử lý việc như vậy, khiến họ tự nhiên nảy sinh sự kính nể.

Lý Hưng đứng đó, nhìn thấy Dương Hạo ra lệnh chém Hoa Vô Nguyệt, không khỏi vô cùng kinh ngạc nghĩ hắn không giống với đại đa số dân chúng thiếu kiến thức. Hắn ở Lô Lĩnh, cũng là một người có kiến thức rộng rãi, hắn tự hiểu được người của luật pháp, càng hiểu được Dương Hạo không phụng theo mệnh Hoàng Đế, kiên quyết xử Hoa Vô Nguyệt có ý gì. Ánh mắt ngạc nhiên của hắn nhìn cách ăn mặc của Dương Hạo, tự nhiên cảm thấy hoang mang, khó hiểu vị quan này.

Dương Hạo đích thân dẫn đại quân, vô số lần từng trải và có kinh nghiệm, theo luật pháp mà giết người đã không thể lay động trái tim hắn, hắn không nhìn cái xác chết không đầu kia, gấp thư án lại, ra nâng thiếu nữ kia đứng dậy, nhỏ giọng nói:

“Mẫu Y Kha cô nương, ngươi đứng lên đi. Ngươi bị lăng nhục, cha chết thảm, là do bản quan không cai quản tốt dân chúng, là sai lầm của bản quan, giờ ngươi chỉ có một mình, không kế sinh nhai, bản quan đã bàn bạc với Lý viên ngoại của châu này, giúp ngươi tìm một công việc nhẹ nhàng ở hiệu buôn Lý gia, lát nữa, ngươi theo bọn họ đi xem xem, nếu vừa ý thì ở đó mà làm, coi như cũng có cái nghề”.

“Đại nhân…”

Mẫu Y Kha lại quỳ xuống lần nữa, theo tập quán trên thảo nguyên khi nhận ơn của người khác thì quỳ xuống hôn giầy, nên nàng quỳ xuống ôm lấy giầy hắn mà khóc.

Kha Trấn Áp ngồi ngay bên cạnh, thấy vậy liền nhẹ thở dài, cảm thấy rất thoải mái. Bên cạnh tai Mục Thanh Tuyền giật giật, ghé sát tai hắn nói nhỏ:

“Giờ ngươi yên tâm rồi nhé!”

Mục Thanh Tuyền không có chức tước gì, nhưng tài trí của nàng thì không ai sánh bằng, khi ở Mục Kha Trại, nàng được toàn quyền phụ trách các công việc canh phòng, đến Lô Lĩnh Châu, cũng trở thành trợ thủ đắc lực, dù không có chức danh đoàn luyện gì, nhưng lại tương đương danh đoàn luyện, vì nàng thích mặc quần áo con trai, ra vào không có trở ngại gì lớn, nên nơi này cũng có vị thế của nàng.

Kha Trấn Áp nhẹ gật đầu, Mục Thanh Tuyền mỉm cười theo.

Thủ lĩnh các trại thuộc phủ châu, tuy không phải quan lại, thực ra đều kiêm chức quan Phủ Châu Chiết Thị Tư phong, cũng có khối đệ tử đảm nhiệm chức tướng tá trong quân Chiết Thị. Mấy trai đinh Mục gia ngoài Mục Vũ tuổi còn nhỏ ra, còn lại đều ở trong quân của Chiết Thị, Mục Kha Trại sao lại có mối quan hệ mật thiết với Phủ Châu Chiết Thị? Sao lại đánh cược đệ tử Mộc Vũ vô lý, đem những chức quan vô cớ đặt cho những người thân thích của Mục Kha Trại?

Dương Hạo truyền thư tín đến Mục Kha Trại, phải gọi Mục Vũ đến trước, lúc dân tráng của Mục Kha Trại giúp đỡ, thì bọn họ bèn đem tin tức báo với quân chúa Xích Trung, rồi từ chỗ hắn chuyển đến Phủ Châu Chiết đại tướng quân, sau khi được Chiết đại tướng quân cho phép, bọn họ mới đến Lô Lĩnh. Giúp đỡ Dương Hạo là có thực, lời nói và hành động thì cũng chỉ là nhiệm vụ.

Mục tiểu đệ tuổi còn nhỏ, không làm được chuyện đại sự, chỉ làm thị vệ của Dương Hạo, nhưng hắn nói lời nào ra lời ấy, rất trung thành với Dương Hạo. Nhưng Mục Thanh Tuyền rất lo lắng, một khi Lô Lĩnh Châu không một lòng một dạ với Phủ Cốc, mà lại đứng về phía triều đình, là địch với Phủ Châu Chiết Thị, lúc đó tiểu đệ lại trung thành và tận tâm với Dương Hạo, mấy vị huynh trưởng của hắn lại làm tướng trong quân Chiết Thị, đó chẳng phải giống như hai huynh đệ của Lân Châu Dương gia đó thôi, sẽ chẳng bao giờ đoàn tụ với nhau, thậm chí còn xảy ra xung đột vũ trang.

Giờ thấy Dương Hạo nói được làm được, bọn họ dần dần đã yên tâm hơn. Họ đã nhận được chỉ thị của Phủ Châu, không biết Chiết đại tướng quân có mục đích gì, giờ đã bắt đầu ủng hộ vị tri phủ Lô Lĩnh này, gần đây còn vận chuyển áo giáp vũ khí đến, viện trợ cho Dương Hạo lập quân đội, mục đích chính là nâng đỡ hắn, để hắn nảy sinh dã tâm tạo một thế lực mới của tây bắc.

Lo lắng hiện giờ chính là, lòng trung thành của hắn đối với Khai phong là bao nhiêu phần trăm. Mà Dương Hạo nói được làm được, có nhiều điểm thay đổi chóng mặt, dấu diếm cả triều đình. Một khi hắn công khai, triều đình Đại Tống sẽ không dung tha cho hắn, phong cách của hắn, vốn là phong cách của lũ phản động, cứ như vậy, hợp ý Phủ Châu, giữa bọn họ, tương lai nhất định là sự liên minh Lân Châu và Phủ Châu.

Dương Hạo thực ra giờ vẫn chưa có dã tâm gì, hắn phải trụ được ở tây bắc, không có bất kì khả năng nào nghiêng về Phủ Châu và Lân Châu, dấu triều đình mọi sự hợp tác cũng là điều bất đắc dĩ. Nếu hắn có dã tâm, thì đã cẩn thận, cảnh giác từng bước khi chào đón người ngựa Mục Kha Trại, hắn sao có thể nghĩ đến mối quan hệ mật thiết giữa chúng và Phủ Châu? Hắn chẳng nghĩ ngợi gì, cho nên mới đối xử bình thường như thế.

Còn về hắn thiếu kính nể với triều đình, thay đổi cách hành sự nhanh chóng, không giống với khuôn phép cũ, là quan mà, hơn nữa hắn là thế hệ sau, đối với tôn ti trên dưới, quyền hành của Hoàng Đế vốn đã thiếu đi sự kính nể so với các quan đương thời.

Dương Hạo lại một lần nữa đỡ Mẫu Y Kha dậy, an ủi nàng, rồi chắp tay hướng Lý Hưng, dân chúng người Khương mới đến nói:

“Các vị, giờ các vị đều là dân của Lô Lĩnh Châu rồi, thì phải tuân thủ theo luật pháp của Lô Lĩnh Châu, nhận sự bảo hộ luật pháp của Lô Lĩnh Châu, trong con mắt bản quan, ngang ngược dã man sẽ không tồn tại được lâu, ở đây mới là con đường tìm điểm chung, gác lại điểm bất đồng, thì bách tính môn dân mới có thể sống hòa thuận. Ai đó ức hiếp người Khương, hoặc có xung đột, bổn quan sẽ không tha, các ngươi cứ yên tâm.

Hôm nay Lâm chủ bộ cũng theo bản quan đến đây, đợi lát nữa hắn sẽ cho các ngươi đăng kí hộ tịch. Các vị trước đã làm gì, giỏi làm gì thì hãy nói. Bản phủ sẽ căn cứ theo những sở trường của các vị mà sắp xếp công việc hợp lý hoặc nông nghiệp hoặc chăn thả, hoặc thợ thuyền hoặc buôn bán, sẽ không để cho các ngươi thất nghiệp”.

Người Khương nghe xong, tất cả đều quỳ xuống vái lạy hắn, miệng lẩm bẩm gì đó. Lúc nãy còn kính nể, giờ đã thành lòng thành kính với vị tri phủ này.

Lý Hưng hơi do dự, rồi cũng sải bước về phía trước, quỳ xuống chân Dương Hạo, trịnh trọng dập đầu xuống, rồi ngẩng lên nói:

“Tri phủ đại nhân, giờ cường địch rình rập Lô Lĩnh Châu, tiểu nhân có chút tài nghệ, nghĩ là sẽ có ích cho đại nhân. Nếu đại nhân chiêu mộ tiểu nhân làm bộ hạ của người, tiểu nhân nguyện tận tâm tận lực, hiến hết tài nghệ mà mình có vì đại nhân”.

Dương Hạo nhướn mày lên hỏi:

“Không biết sở trường của tráng sĩ có được bao nhiêu năm rồi?”

Lý Hưng há mồm không nói câu gì, nhìn xung quanh, rồi đột ngột đứng lên…

Chương 199:Lễ vật


Tác giả: Nguyệt Quan
Nguồn: Sưu tầm




Dương Hạo dở khóc dở cười khi thấy Lý Hưng như vậy. Lý Quang Sầm ngồi một bên cũng thấy ngạc nhiên. Trên thảo nguyên, nhà nào cũng phải có cung. Nhà nào cũng phải có tiễn. Cung và tiễn, nhà nhà đều sử dụng, và dường như mọi nhà đều am hiểu kĩ thuật làm cung tiễn, người Hán Trung Nguyên không bằng họ được, vì họ dùng cả đời để chế tạo công cụ, như việc mỗi ngày đều phải bắn cung mới chịu được vậy. Chiến sĩ Trung Nguyên nếu luyện cung mười năm thì có lẽ cũng không bằng họ. Cuộc sống gian khổ, đặc biệt là môi trường tự nhiên đã bảo đảm cho sự tiến bộ không ngừng về kỹ thuật bắn cung của họ. Cho dù là dân tộc nào, thì cũng có điểm mạnh này.

Dương Hạo đã hỏi Lý Hưng xem có sở trường gì, hắn định nói xong lại thôi, dáng vẻ như chuyện bí mật lắm, rồi sau đó hắn theo đến tri phủ nha môn, Dương Hạo đưa hắn vào tận trong hậu đường, muốn hỏi cho ra câu trả lời là gì.

Lý Hưng thấy hắn không có hứng thú, vội nói:

“Đại nhân, cái mà tiểu nhân làm không thể nói rõ ra được.

Cung tiễn mà tiểu nhân làm, không giống với cung tiễn mà thuộc hạ đại nhân làm, càng không giống với cung phổ thông trên thảo nguyên”.

Dương Hạo cười nói:

“Ồ, có gì không giống vậy, ngươi nói ta nghe”.

Lý Hưng thân hình cao lớn, nhưng diện mạo hoàn toàn bình thường, nhưng hơi xấu xí, hắn nghĩ vài giây rồi nói:

“Đại nhân, cung mà tiểu nhân làm được dùng những lõi cây chắc nhưng có độ nhún thật dẻo, thật bền để làm thân cung, tiểu nhân phải tìm những sợi dây rừng thật bền, thật dẻo để làm dây. Thân cung dài ba thước hai tấc, dây cung dài hai thước năm tấc, linh hoạt mà kiên cố, trong vòng hai trăm bốn mươi bước sẽ bắn trúng cây thì tên thể xuyên qua nửa thân cây, ba trăm bốn mươi bước mà bắn tên thì có thể xuyên qua áo giáp.

Lý Hưng nói xong mặt lộ đầy vẻ tự tin, Dương Hạo nghe xong ngạc nhiên vô cùng. Lý Hưng không ngờ Dương Hạo lại đờ người ra như vậy,hắn thấy vị quan tri phủ không nói gì, liền nói:

“Đại nhân không thích vũ khí của tiểu nhân sao?”

Hắn nào biết Dương Hạo không phải là không thích vũ khí của hắn mà là đang suy nghĩ về binh khí đó. Vị đại nhân họ Dương sẽ không hiểu được cái cung tiễn mà hắn nói có hình dáng ra làm sao. Lý Quang Sầm đứng một bên nghe hiểu. Lý Hưng lần này nói xong, uống một ngụm trà.

Hắn uống chậm rãi, rò xét. Bỗng nhiên Dương Hạo rồi nhảy dựng lên nói:
“Ngươi nói cái gì? Một mũi tên bắn ra trong vòng hai trăm bốn mươi bước thì có thể xuyên cây, ba trăm bốn mươi bước thì xuyên áo giáp? Làm sao có thể như vậy được, làm sao có thể được Lý Hưng à, ngươi không cần nói quá như vậy”.

Lý Hưng khom người nói: “Tiểu nhân không dám nói dối đại nhân, cung bình thường mới có 500 cân lực, và cung bình thường thì cũng sẽ không bắn được như vậy và nếu là người khỏe mạnh, đương nhiên cũng sẽ không bắn mạnh được như vậy. Nhưng cung mà tiểu nhân làm ra, không phải mượn lực của vật khác, trai tráng bình thường cũng có thể bắn, không bắn nổi ba trăm bốn mươi bước, thì vẫn có thể bắn hai trăm bốn mươi bước và có thể bắn xuyên người”.

“Làm sao có thể như vậy được, không thể như vậy được, ngươi không phải lừa lão phu đó chứ?”

Lý Quang Sầm tròn mắt kinh ngạc. Dương Hạo đang ngồi ở đằng kia trầm ngâm suy nghĩ, thấy Lý Quang Sầm như vậy mới bất giác đứng dậy, Lý Quang Sầm và Lý Hưng cùng nhìn Dương Hạo, không biết Dương Hạo có hiểu tại sao như vậy không? Dương Hạo nói:

“Cung này…đương nhiên có thể như vậy rồi.

Trên thế giới lúc ấy chưa từng có loại cung nào có lực bắn mạnh như vậy. Mãi năm trăm năm sau, ở phương Tây có một cây trường cung, cũng giống như cung mà Lý Hưng nói.

Trường cung có tính năng gì? 

Lực kéo của nó khoảng bảy mươi cân. Cự ly bắn cũng không quá hai trăm bốn mươi mét.

Còn cung mà Lý Hưng nói có tính năng gì?

Chiếc cung tuy nhỏ nhưng rất chắc chắn, lực bắn cung gấp đôi so với trường cung. Hai trăm bốn mươi bước bằng ba trăm bảy mươi mét, ba trăm bốn mươi bước bằng năm trăm hai mươi mét.

Khi chiến tranh công phòng thành lũy của Trung Nguyên, song phương dùng nó thì tất không có hiệu quả rõ ràng, nhưng nếu như tác chiến trên thảo nguyên, có cung có nỏ, song không có thứ gì che chắn, mà cung tiễn của mình lại có lực bắn gấp đôi so với cung tiễn của địch, nó có thể bắn xuyên áo giáp thì còn gì lợi hơn?

Cho dù là thời đại binh khí nào đi chăng nữa, binh khí mới hay cũ thì cũng chỉ cần vũ khí đó ưu việt, chiếm ưu thế trong chiến tranh thì sẽ được chuộng dùng nhất. Lúc này Dương Hạo đã hiểu được, liền tiếp tục hỏi kỹ thêm Lý Hưng.

Nghe hắn nói đến tính năng ưu việt của chiếc cung này, hơn nữa phần quan trọng lại được chế tác rất cẩn thận, bánh răng nhờ có sự nhanh nhạy mà có thể đưa được lực mạnh đến vậy. Chiếc cung này là cái mà hắn mới nghĩ ra được không lâu, còn chưa được sử dụng rộng rãi. Đến Lý Quang Sầm còn chưa nghe thấy nó bao giờ.

Dương Hạo nghe hắn nói về chiếc cung thì rất vui mừng. Lô Hà Lĩnh nếu như có vũ khí sắc bén như vậy, thì còn lo gì khi có địch tấn công, Đại Tống nếu có vũ khí này thì sẽ như hổ thêm cánh. Nhưng giờ chỉ có mỗi Lý Hưng biết nó, những người khác chưa ai nhìn thấy, chiếc cung hắn làm ra có hiệu quả như vậy thật không thì thực khó nói trước, phải đợi sau khi bắn thử bắn mới biết thật giả.

Dương Hạo mời hắn chén trà, hỏi lai lịch của hắn. Hóa ra, Lý Hưng này vốn là người Lô Lĩnh Châu, cũng thuộc người của Thác Bạt Thị. Khi đến đời cha hắn, vì chọc giận Định Nan Can tiết độ sứ Lý Kế Quân nên tất cả trâu ngựa và tộc người đều bị bắt, làm nô tì cho bọn quý tộc.

Rồi tộc người nhà hắn chuyển đến Lô Lĩnh Châu, lúc này đã định cư lại, vì phụ thân hắn là một người thợ bậc thầy cho nên được phép mở một nhà binh khí lấy tên là “Nhất phẩm đường” chuyên mua bán các loại vũ khí tự chế.

Vũ khí được chế tạo trong Nhất Phẩm Đường phần lớn là cung tiễn và trường tịch lừng danh một vùng, vì vậy cái tên Nhất Phẩm Đường còn được gọi là Quý Phẩm.

Cung tiễn và trường tịch mà Lý gia làm được gọi là sản phẩm cao cấp. Hơn hai mươi năm theo nghề, cái tên Nhất Phẩm Đường càng ngày càng buôn bán có lời, thậm chí đến những tướng quan trong Định Nan Can cũng thường lui tới Lý gia mua vũ khí của Nhất Phẩm Đường.

Dương Hạo nghe tới đó thì ngạc nhiên vô cùng. Theo hắn biết, thảo nguyên Hạ Châu không có điểm sản xuất sắt thép. Sắt thép đều là mua chỗ nào, đây cũng chính là nơi giao giữa Khiết Đan và Đại Tống, giờ nghe Lý Hưng nói sắt thép và Lý gia hắn vô cùng nổi tiếng ở Lô Lĩnh Châu, buôn bán vào cầu, cảm thấy hơi nghi ngờ.

Dương Hạo vội quay sang hắn hỏi:

“Lý Hưng, ngươi nói xem, Lý gia ngươi sống bằng nghề rèn binh khí sao? Các ngươi cần mua một lượng lớn sắt thép thì mua ở đâu?”

Lý Hưng hắc một tiếng nói:

“Đại nhân, Lý gia vì chính nguyên nhân này mà ra nông nỗi như hiện nay”. Nói xong, nước mắt dàn dụa.

Hắn khóc, nói:

“Đại nhân nói đến sắt thép là đề cập đến bí mật lớn của Hạ Châu, tiểu nhân sẽ nói với đại nhân.

Đại nhân, sắt thép của thảo nguyên ta mua từ bên Khiết Đan và Trung Nguyên, Hạ Châu mỗi lần phái sứ giả đi sứ Khiết Đan và Đại Tống thì thường mua một lượng sắt thép lớn. Xe ngựa của sứ giả trở về, vì họ là sứ giả, nên không bị kiểm tra, đi qua rất an toàn. Ngoài ra, cũng vì lợi ích nên Khiết Đan và Trung Nguyên lén bán sắt thép, nhưng lượng sắt thép cũng có hạn, người Khương tây bắc dũng mãnh thiện chiến, là quân thần của Trung Nguyên, nên sắt thép bị hạn chế, đó là nguyên nhân chủ yếu.

Hạ Châu Lý tiết độ thấy rất khó chịu, nên mười năm trước đã bắt đầu tìm mỏ sắt, tất cả quặng sắt đều bị chúng lục tìm”.

Dương Hạo chăm chú nghe, tây hạ dã tâm, điều này hắn sớm biết. Hạ Châu Lý Thị khi chưa xưng vương, tây hạ vẫn là ông vua không ngai. Hơn nữa Hạ Châu Lý Thị luôn được hưởng thụ cảm giác mình là thần, nhưng thực chất lại là vương, mãi đến khi Đại Tống có Chiết Thị, Dương Thị thì thuộc hạ của Hạ Châu mới tạo phản. Nhưng trước Hạ Châu vốn đã không trung thành với Đại Tống, bọn chúng luôn muốn trở thành vương của khu vực tây hạ. Cần đạt được mục đích này thì cần phải khống chế được Đại Tống, sắt thép là một món hàng chiến lược vô cùng quan trọng trong số đó, không ngờ tây hạ Lý Thị đã bắt tay vào làm.

Dương Hạo vội hỏi:

“Định Nan Can đã phát hiện ra quặng sắt rồi? Ở đâu vậy?”

Lý Hưng vội đáp:

“Lý Quang Duệ tổng cộng phát hiện ra hai quặng sắt, trong đó có một mỏ nằm ở Sơn Môi Hạ Châu Khanh Đông, một mỏ nữa ở khu Trà Sơn phía đông Hoành Sơn. Vì khu Trà Sơn cách Hạ Châu tương đối xa. Hơn nữa sức khai thác của họ có hạn, cho nên giờ chỉ bí mật khai thác sắt thép ở mỏ Hạ Châu Khanh Đông

Dương Hạo thầm nghĩ:

“Hạ Châu Khanh Đông thuộc địa bàn của chúng, chúng đương nhiên sẽ khai thác rồi. Trà Sơn phía đông Hoành Sơn cũng có quặng sắt sao? Đây thực là ý hay, so với Hạ Châu, Lô Lĩnh Châu ta cách Trà Sơn gần hơn, hơn nữa địa bàn của Đảng Hạng Thất Thị ta ở đây đang thiếu sắt thép, phải nghĩ cách ra đó khai thác mới được, việc này khéo còn có thể tiết kiệm gấp đôi so với việc đi mua sắt thép. Việc khai thác không thể dấu được Đảng Hạng Thất Thị, vậy cần phải nói với họ.

Lý Hưng thấy Dương Hạo trầm tư, nên cũng không nói gì. Một lúc sau Dương Hạo giật mình vội hỏi:

“Ngươi nói tiếp đi”.

Lý Hưng nói:

“Vâng, Lý Quang Duệ giờ có rất nhiều sắt thép, ngay cả dân chúng Hạ Châu cũng không biết. Nhà ta giờ tuy làm thợ rèn, nhưng cha ta năm đó cũng đã làm tướng lĩnh trong Định Nan Căn, giờ phải dò hỏi người trong đó thì mới biết được.

Ngày trước Hạ Châu phải mua vũ khí từ Trung Nguyên hoặc Khiết Đan là chuyện không đơn giản chút nào, hơn nữa số lượng lại có hạn. Giờ Lý Quang Duệ có mỏ sắt, tự mình có thể chế tác binh khí. Binh khí mà Lý gia ta chế tác thực không chê vào đâu được, sắc bén vô cùng, hơn hẳn nhưng cung tiễn bình thường. Những binh khí khác như rìu, đao thì cũng tốt hơn những nhà khác.

Áo giáp của nhà ta tạo ra cũng nổi tiếng không kém cung tiễn và trường tịnh, áo giáp đó cũng được rèn mà thành, mũi tên bắn không thể xuyên qua.

Trước kia, sắt thép mà Hạ Châu mua được có hạn, thợ rèn bấy giờ cũng ít. Nhưng từ khi Hạ Châu phát hiện ra mỏ sắt mới, thì người người làm thợ rèn, binh khí được tạo ra có nhiều chủng loại khác nhau, cũng có nhiều người có tay nghề xuất chúng, thế là, Lý Quang Duệ đã dập con đường buôn bán của Lý gia ta”.

Nói đến đây, Lý Hưng cầm lấy chén trà uống cạn một hơi, Dương Hạo vẫn chăm chú nghe hắn nói. Lý Hưng nói tiếp:

“Ôi! Thiết nghĩ đến Lý Quang Duệ mà giận sôi mình, năm đó cha ta làm tướng trong Định Nan Căn, chọc giận Lý Kế Quân, bị hắn đuổi khỏi Định Nan Căn, nhà ta lâm vào cảnh khó khăn, rồi mới đoạt trâu ngựa dê, người hầu của nhà ta, khiến nhà ta trở thành dân thường. Lý Quang Duệ cần dùng chúng ta nhưng lại không dám tin tưởng chúng ta, hắn bên ngoài thì rất lễ độ với cha ta, cha ta có rất nhiều đồ đệ, nhưng khi không còn dùng được nữa, hắn sẽ sai người giết hại tính mạng của nhà ta”.

Nói đến đây, hai tay hắn run lên, sau một lúc lâu mới nói: 

“Cũng may, các tướng lĩnh trong Can rất tốt với cha ta, biết tin thì thông báo với nhà ta, nhà ta sợ quá liền chạy trốn, nhưng…”

Nói đến đây hắn cười nhạt, giọng căm hận nói:

“Cũng may, tên Lý Quang Duệ ra tay sớm, ta cũng vừa nghiên cứu ra chiếc cung này, còn chưa dâng cho hắn, nếu không ta có mắt như mù”.

Dương Hạo nghe xong càng thêm tin tưởng con người này, quả nhiên tay nghề người thợ rèn thật điêu luyện. Từ nay về sau binh khí của cốc có thể tự rèn ra, không những tính năng của nó ưu việt hơn các binh khí bình thường, mà còn tiết kiệm được tương đối nhiều ngân sách, đợi khi Lý Hưng làm cung của hắn xong, nếu có tính năng như lời hắn nói, thì sẽ tấu lên triều đình phong cho hắn một chức quan của người Khương, quan do hắn đảm nhiệm, hắn sẽ dốc toàn tâm toàn lực phục vụ Đại Tống.

Dương Hạo chỉ cảm thấy mọi người chế tác binh khí, còn không biết chiếc cung sau này có nổi tiếng thiên hạ hay không, hai binh khí nổi tiếng của tây hạ đều do bàn tay của con người này làm ra. Trong đó có cung tên, từ nay về sau không phải đau đầu về chuyện binh khí nữa. Giờ có một ý nghĩ ngoài sức tưởng tượng của hắn, sao có thể thay đổi được lịch sử, tạo ra bộ mặt mới cho Lô Lĩnh Châu.

Lý Quang Sầm ngồi một bên, thấy Lý Hưng không nói gì, liền hỏi:

“Lý Hưng, cha ngươi tên gì?”

Lý Hưng biết người này là quan, vội cung kính đáp: 

“Gia phụ Lý Quang Tể”.

Lý Quang Sầm biến sắc, nói:

“Như vậy, lệnh tôn là vì chuyện gì mà bị Lý Quang Duệ đoạt gia sản, trở thành dân thường?”

Lý Hưng buồn rầu nói: 

“Năm đó, Lý tiết độ lâm bệnh, Lý Quang Phụng kế vị. Sau Lý Quang Duệ mua chuộc được bọn quyền quý nắm binh quyền, trở thành chủ của Hạ Châu, lúc đó cha ta rất tức giận. Sau đó không trung thành với hắn, phát binh chống lại, cha ta cấu kết với Lý Di Mẫn đại nhân”.

Nghe đến đó Lý Quang Sầm đứng dậy, rồi dùng vài câu tiếng Khương nói, Lý Hưng ngạc nhiên nhìn hắn rồi cũng dùng tiếng Khương trả lời.

Dương Hạo ngồi một bên nghe hai người nói nhưng không hiểu gì, nghĩ: 

“Dùng tiếng phổ thông nói đi, việc gì phải dùng tiếng Khương nói làm gì, hại ta một câu cũng không hiểu”.

Dương Hạo đoán cách dụng binh của người Khương có khả năng hợp tác với cộng chủ Hạ Châu Lý Quang Duệ nên Lý Hưng không dám nói rõ thân phận của hắn, hiến kế chế tác binh khí. Nếu không phải Dương Hạo đối xử công bằng với người Khương, xử chết Hoa Vô Nguyệt, thì Lý Hưng cũng không tình nguyện hiến binh khí tự tay làm ra.

Giờ hắn hiến binh khí hắn tự làm cho Dương Hạo để có thể góp sức với Lý Quang Sầm. Đó là niềm vui ngoài ý muốn. Hai người dù chưa gặp nhau bao giờ, nhưng cha của Lý Hưng lại trung thành với Lý Quang Sầm, hơn nữa Lý Hưng rời vào tình cảnh này, có thù với Hạ Châu Lý Quang Duệ, đó cũng là mối thù của Lý Quang Sầm. 

Dương Hạo vừa nghe vừa suy nghĩ, miệng lẩm bẩm thiếu chủ Lý Hưng. Mà Lý Hưng theo lý thì là tộc thúc của Dương Hạo. Nếu có người thân làm trong quân đội thì càng tốt. Hơn nữa Dương Hạo lại nói cho hắn biết, sẽ tấu lên triều đình cho hắn một chức quan, Lý Hưng càng thêm vui mừng.

Ba người nói chuyện một lúc lâu thì Lý Hưng nói lo vợ con ở nhà. Lý Quang Sầm công khai thân phận là họ Mộc, nhưng không tiện nói là họ hàng với hắn, rồi lúc này cũng nói rõ với hắn. Lý Hưng chỉ biết tộc huynh dấu diếm thân phận kia như vậy là để đối phó với Hạ Châu Lý Quang Duệ, thì tự nhiên mà đồng ý, tuyệt đối sẽ không tiết lộ cho ai biết.

Đợi Lý Hưng đi về, Lý Quang Sầm nói: 

“Hạo Nhi, không ngờ tộc đệ của ta lại là một nhà chế tạo vũ khí, đây chính là trời giúp con rồi, giờ chúng ta có thể tự thân vận động chế tạo ra binh khí, còn về mỏ sắt Trà Sơn, thì cần bàn bạc với Đảng Hạng Thất Thị rồi mới khai thác”.

Dương Hạo vui vẻ nói:

“Nghĩa phụ nói rất đúng, đợi Lý Hưng làm xong chiếc cung đó, con muốn dâng cho Khai Phong một cung, Đại Tống ta có loại binh này, tính sát thương càng cao”.

Lý Quang Sầm ngạc nhiên, do dự một lát rồi nói:

“Hạo Nhi suy nghĩ cho cặn kẽ”.

Dương Hạo ngẩn người nói: “Vì sao nghĩa phụ nói vậy?”

Lý Quang Sầm nói: 

“Vì cái lợi trước mắt thì không nói trước được điều gì xảy ra. Cung này một khi dâng lên triều đình, triều đình sẽ lo lắng việc chiếc cung này lan truyền đến tay Dương Thị, Phủ Châu Chiết Thị, sẽ cấm Lô Lĩnh Châu ta sử dụng, còn về việc binh khí để Lô Lĩnh Châu có thể tự bảo vệ mình thì không cần thiết. Con không quên chuyện Lý Kế Quân giận con mà về Hạ Châu. Giờ vẫn còn không biết hắn có quay lại làm phiền hay không, binh của Hạ Châu không mạnh bằng Đảng Hạng Thất Thị ta, nhưng Phủ Châu Chiết Thị hùng mạnh như vậy mà còn phải chịu lép vế trước Hạ Châu, không được coi thường con à”.

Lý Quang Sầm lại tiếp tục khuyên nhủ: 

“Hơn nữa, giờ người người đều biết kế sách của Quan Gia Đại Tống trị thiên hạ là trị nam trước bắc sau. Miền nam dùng cung tiễn không nhiều, triều đình tạm thời cũng không cần dùng đến binh khí, thì Lô Lĩnh Châu ta dùng làm gì. Hạo Nhi à, đứng ở góc độ của con, sói không phân già trẻ, nhân nhượng Hoành Sơn Khương trại trắng trợn giết hại dân chúng là Đại nhân; Trong mắt Quan Gia Đại Tống, thà mất đi hàng vạn dân chúng, làm suy yếu thế lực tây bắc, để mà dễ dàng khống chế tây bắc, thì đó có phải là Đại nhân nữa hay không? Quan Gia chinh chiến khắp nơi, chiếm được thiên hạ, nhưng con không cần phải thần tượng hắn như vậy. Vứt bỏ hàng vạn dân là điều con không thể làm, dân chúng không vì con thì đến quan phụ mẫu như con mà cũng phải can tâm vứt bỏ mình sao?

Đương nhiên là không can tâm rồi, người không vì mình, trời chu đất diệt.

Cái gọi là nắm bắt thiên hạ trong tay. Dương Hạo không vĩ đại như Triệu Quan Gia của Đại Tống, không dám xả thân mình, đồng thời không đành lòng đẩy dân chúng vào con đường chết.

Lý Quang Sầm cười nói:

“Thế này được rồi, nhất cử nhất động, từng lời nói của con cũng cần phải nghĩ đến tính mạng dân chúng rồi hẵng hành động”.

Dương Hạo chắp tay nói:

“Việc này tạm thời không bàn đến nữa, chẳng qua Hạ Châu được mỏ sắt, bí mật khai thác, thì ta tấu với triều đình việc tự rèn binh khí của chúng”.

Lý Quang Sầm gật đầu rồi nhẹ nhàng nói:

“Nên mới nói, triều đình biết rồi thì sẽ ra sao? Tình hình hiện nay, ngay cả hai thế lực Chiết Dương cũng không vào kinh thành nhậm chức, triều đình cũng chỉ có thể giả điếc. Binh mã của Hạ Châu, lương thảo tự dự trữ, danh là quân thần của Đại Tống, nhưng thực ra lại là quân chủ của Hạ Châu, triều đình có làm gì được họ đâu?”

Dương Hạo nói: 

“Con không bàn đến chuyện triều chính, con chỉ không muốn Lô Lĩnh Châuc bị mất tấc đất nào. Mấy việc kia để cho Quan Gia lo liệu”.

Hắn mới nói đến đây, Bích Túc đi rón rén vào sân. Dương Hạo thấy vậy vội hỏi: 

“Chuyện gì vậy?”

Bích Túc nói nhỏ:

“Đại nhân, Đường cô nương nấu cho đại nhân bát canh”.

Bích Túc nói xong, Dương Hạo nhìn ra sân thấy Đường Diễm Diễm đang đi đến. Nàng mặc một chiếc áo màu hoa đào, váy màu xanh da trời đậm, phần eo áo có điểm một chiếc lá đào nhỏ, người đẹp, tao nhã như tranh.

Dương Hạo thấy nàng xách một chiếc làn, có vẻ khá nặng, món quà đó là dành tặng cho hắn dưỡng thương chăng?

“Đường cô nương, tại hạ chỉ có vết thương nhỏ mà thôi, còn làm phiền nàng như vậy, thực khiến ta áy náy quá”.

Dương Hạo tiến ra đón, cầm lấy chiếc làn của Đường Diễm Diễm dẫn vào phòng khách, Lý Quang Sầm đứng lên, ho một tiếng rồi nói: 

“Đại nhân, ti chức còn có vài việc cần xử lý, xin cáo từ”.

“Ồ…Được, tạm biệt Mộc đại nhân”.

Dương Hạo nhìn nghĩa phụ, chắp tay thi lễ, đợi hắn ra ngoài, thì xoay người lại, thấy Đường đại cô nương vẫn chưa ngồi xuống, vẫn đứng ở đằng kia nhìn hắn.

Dương Hạo phát hiện ra hôm nay Đường Diễm Diễm có gì đó rất lạ, còn tưởng rằng nàng vì mình bị thương mà đến, trong lòng rất áy náy, liền lảng tránh cười ha ha, nói đùa:

“Ồ, Đường cô nương hôm nay qua vì áy náy chuyện hôm qua sao? Chỉ là vết thương nhỏ thôi mà, thực sự là không sao cả, xem ra ta đến lúc đó là không may, ha ha, ta nào đã được gặp cô nương, vậy mà đã bị thương. Đầu bị tê dại, mang họa vào thân, lần trước ở ngoài cốc thì bị rắn cắn, lần thứ ba là ở Tiểu Phàn lầu, gặp Lý Kế Quân. Còn lần này…ha ha…tất cả đều là ý trời…”

Đường Diễm Diễm nói: 

“Đại nhân ý nói Diễm Diễm là đồ xui xẻo, mới làm liên lụy đến đại nhân?”

Dương Hạo thấy mình đùa có phần hơi quá, ngượng ngùng cười nói: 

“Ồ, ta nói quá lời rồi, Dương Hạo…chỉ đùa chút thôi”.

Đường Diễm Diễm khẽ thở dài, nàng xoay người sang bên cạnh cầm lấy cái giỏ, nhấc chiếc bình màu xanh đen có hình hoa mai ra, rồi lại lấy một cái bát ngọc, rót ra một bát canh thơm nức, đưa đến trước mặt hắn nói: 

“Hôm qua, vô ý làm thương đại nhân, Diễm Diễm áy náy vô cùng, hôm nay mang bát súp gà này đến đây để đại nhân tẩm bổ, mong đại nhân nhận cho”.

Dương Hạo thấy nàng rất thành tâm, cảm động vô cùng, vội đưa hai tay ra đỡ bát cháo, nói:

“Cũng do Dương Hạo vội vàng quá, không thông báo trước, cô nương không cần trách mình như vậy, bát canh này, Dương Hạo xin nhận”.

Chương 200:Cái kết nan giải


Tác giả: Nguyệt Quan
Nguồn: Sưu tầm



Hắn mời Đường Diễm Diễm ngồi xuống, rồi cũng ngồi xuống bên cạnh, nếm thử canh. Đó là món súp gà, độ nóng vừa phải, uống một ngụm, mùi thơm xông thẳng vào mũi, khiến người ta muốn ăn ngay, Dương Hạo há mồm đưa thìa súp lên miệng. Đường Diễm Diễm ngồi bên cạnh nhìn hắn, định nói gì đó nhưng lại cắn môi không nói gì.

Hôm qua nàng đập cái bình đó bắn vào trán Dương Hạo, thấy Dương Hạo máu chảy đầy mặt rồi cất bước rời khỏi đó, nàng sợ hãi chỉ biết đứng nhìn mà không dám đuổi theo, rồi đợi đến khi Dương Hạo đi xa.

Thái độ của cô nương thay đuổi tức thì, từ hung hăng đập chiếc bình đến khi nhìn thấy máu chảy đầy mặt Dương Hạo thì nàng áy náy và trở nên dịu dàng vô cùng.

Không biết từ bao giờ, sự ghét bỏ Dương Hạo đã dần phai nhạt, thay vào đó là sự thương cảm mến yêu hắn. Gần đây tính tình nàng hoàn toàn thay đổi, tâm lý biến đổi phức tạp, nàng như đang ở trong mơ, không cảm nhận được từng giờ từng khắc trôi qua.

Từ một đường cô nương kiêu căng, không hiểu tự bao giờ đã trở thành thế này, mọi người ban đầu sợ nàng vô cùng, nhưng rồi nàng đã trở thành một cô nương dịu dàng, rụt rè, nhiều lần chủ động thổ lộ tình cảm, thậm chí còn dùng cả bùa làm si mê người ta nữa.

Nhớ tới thái độ lạnh nhạt của Dương Hạo đối với nàng, nàng thấy rất bức xúc: “Ta thích chàng, chàng lại không thích ta, ta dùng thủ đoạn khiến chàng phải si mê mình…” Đường Diễm Diễm càng nghĩ càng thấy khoái chí.

Không hiểu tại sao một Đường Diễm Diễm vui tươi, nghịch ngợm lại trở thành như bây giờ, nàng càng nghĩ càng không tìm ra câu trả lời, nửa đêm ôm gối khóc thầm, nước mắt ướt đẫm vỏ gối, mãi đến sáng sớm, nàng mới quyết định, phải bỏ qua nỗi bi sầu này, trở lại Phủ Cốc. Nếu bị người ta cười nhạo, thì cũng không cần để ý đến, mỗi tội sự lạnh nhạt của Dương Hạo khiến trái tim nàng đau nhói.

Nhưng, mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi, nàng lại áy náy điều gì đó, do dự một lúc lâu, nàng mới tự mình đi nấu một bát canh mang cho Dương Hạo, lần này đến thăm hắn, thực sự cũng là lần gặp cuối cùng để từ biệt hắn. Cắn môi suy nghĩ, tự trách mình, từ nay về sau nàng phải trở lại chính con người nàng mới thấy thoải mái. Nhưng, giờ thấy hắn, muốn nói gì đó mà không nói ra được. Tại sao vậy?

Dương Hạo đã ăn xong bát canh, nhưng đường cô nương vẫn nhìn chằm chằm hắn, nhìn đến nỗi làm hắn mất tự nhiên, hắn nên nói gì với nàng bây giờ? Hắn cầm bát một lúc lâu, nói gì bây giờ, Dương Hạo đặt bát canh đã ăn hết xuống, mỉm cười với Đường Diễm Diễm và nói:

“Canh gà rất thơm, cảm ơn Đường cô nương nhé”.

Hắn vừa ngẩng đầu lên, Đường Diễm Diễm vội dời ánh mắt khỏi hắn, tay nghịch nghịch vạt áo nói:

“Canh gà này, là thứ mà Đường Diễm Diễm tạ tội với đại nhân, không cần cảm ơn đâu”.

Nàng đứng dậy, đi về phía trước vài bước, quay lưng về phía Dương Hạo, lòng rối như tơ vò, rồi cố gắng nói ra mục đích hôm nay đến đây: 

“Hôm qua…làm đại nhân bị thương, Đường Diễm Diễm cả đêm mất ngủ, suy nghĩ rất nhiều…rồi quyết định…ta…đến gặp đại nhân…”

Đường Diễm Diễm quay lưng về phía Dương Hạo, bộ áo váy bó sát lấy cơ thể nàng, lộ rõ những đường cong, eo thon gợi cảm.

Trái tim Dương Hạo không phải là sắt đá, nghe nàng nói vậy, nhưng Dương Hạo không biết là nàng đang nói lời từ biệt với mình, nàng còn nói lại muốn thổ lộ tâm sự với mình nên ngạc nhiên vô cùng.

Nếu như nàng mở đôi mắt to nhìn thắng vào hắn thì không nói làm gì, nhưng ánh mắt trìu mến nhìn hắn như vậy, sao hắn có thể chịu nổi? Lời nào có thể nói được cho hết? Lúc Dương Hạo sững sờ không nói được lời nào, Dương Hạo tự nhiên nhớ tới một cái cớ, đứng dậy, chặn ngang lời nàng, nói: 

“Đường cô nương, nàng hôm nay đến thật đúng lúc, Dương mỗ đang có một việc muốn nhờ cô nương giúp, mong Đường cô nương nhận lời”.

Đường Diễm Diễm vốn không muốn đến nói lời từ biệt với hắn, thấy hắn chặn ngang lời mình, trong lòng thấy không thoải mái, liền xoay người hỏi:

“Ừm, có chuyện gì vậy, đại nhân cứ nói”.

“Đường cô nương, Lô Lĩnh Châu ta đã dẹp yên thành công bọn cường đạo người Khương tới cướp bóc, nhưng thương nhân khắp nơi bị người Khương dọa mà đi hết rồi, chắc là chẳng bao giờ quay lại nữa. Nếu không nghĩ ra được cách nào, thì không biết bao giờ Lô Lĩnh Châu mới trở lại như cũ. Đường gia là danh gia vọng tộc ở tây bắc, thương nhân khắp nơi thường xuyên qua lại buôn bán với Đường gia, ta muốn…nhờ Đường cô nương với thân phận Đường gia mà gửi thiếp mời đến những thương nhân, lời Đường gia nói, đối với họ mà nói, có sức thuyết phục hơn quan phủ. Không biết cô nương…”

“Được”.

Dương Hạo đang do dự, Đường Diễm Diễm đã mềm lòng, vội đáp ứng lời thỉnh cầu của Dương Hạo. Sau khi nàng đồng ý, thầm nghĩ: “Viễn tưởng! Ta hôm nay tới đây là nói lời từ biệt với chàng, sao lại đồng ý giúp đỡ việc này? Nếu như vậy, sao có thể dứt bỏ hắn? Nếu không đồng ý giúp hắn chuyện này, thì sẽ không cần đồng ý giúp bất kỳ chuyện gì nữa, việc này xem ra nên ủy thác cho cậu, từ nay về sau rời xa Lô Lĩnh Châu, không bao giờ ngốc nghếch như vậy nữa”.

Dương Hạo thấy nàng đồng ý, vui vẻ vái chào và nói: 

“Nếu như vậy, đa tạ Đường cô nương, nếu việc này thành công, ta xin chân thành cảm tạ ân đức của nàng”.

Hắn thở dài lại nói: 

“Không dấu gì Đường cô nương, Lô Lĩnh Châu ta dẹp yên bọn cường đạo người Khương xong, uy danh lừng lẫy. Nhưng muốn Lô Lĩnh Châu có một chỗ đứng cố định, yên tâm sống trên đất người Khương thì giờ ta phát thiếp mời, mời thủ lĩnh các nơi đến doanh trại Dã Ly Thị họp, lấy ý kiến của các bộ lạc người Khương với các thương nhân.

Lần này không phải vì khoe uy binh, mà là vì cái lợi ích, cho nên, cần có một số lượng thương nhân đi cùng ta, như vậy mới có hiệu quả. Nhưng, giờ cần mời các thương nhân về Lô Lĩnh Châu là một khó khăn lớn, chứ đừng nói đến lợi ích, thương nhân mang hàng hóa theo ta đi đến doanh trại người Khương, có tác dụng rất lớn, nhìn bao quát toàn tây bắc, chỉ có bốn nhà Đường Tần Chiết Vương là ta có thể xin sự giúp đỡ, cũng chỉ có…”

“Được! Ta giúp chàng”.

Đường Diễm Diễm lòng nóng như lửa đốt, chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào lại đồng ý…

“Đường cô nương thật tốt với ta”. 

Đường Diễm Diễm vừa đi, thì Lý Quang Sầm không biết từ đâu đi đến, nhìn thấy bóng dáng Đường Diễm Diễm đã khuất, vuốt râu quai nón nói vài câu khen ngợi nàng.

Dương Hạo liếc nhìn hắn một cái, hỏi: “Chiết Tử Du thì sao?”

“Chiết cô nương cũng không tồi”.

Dương Hạo tức giận hừ một tiếng nói: 

“Thiên hạ có vô số các cô nương tốt, lẽ nào con không cưới được một cô?”

Lý Quang Sầm cười tủm tỉm nói: “Chỉ cần con có bản lĩnh, sẽ cưới được toàn bộ các cô nương, nhưng họ khi được cưới về sẽ ra sao? Đàn bà mà, đại trượng phu ai mà chả có đến ba bốn vợ, người hầu thì vô kể, như vậy gia tộc mới hưng thịnh được. Hơn nữa, hai vị cô nương này xinh đẹp và rất thân với con, cưới được về ta mừng lắm”.

“Cha vui?” 

Dương Hạo mặt méo xệch nói:

“Hai cô nương ấy tốt như vậy, có cưới về thì phân thân phận trên dưới thế nào? Cha nói xem ai thê ai thiếp? Nếu như có cưới họ về, thì con thấy từ giờ trong gia đình sẽ chẳng có ngày nào yên”.

Dương Hạo chỉ thuận miệng hỏi vặn như vậy, ai ngờ Lý Quang Sầm lại nghĩ câu trả lời. Hắn chau mày, suy tư một lúc lâu rồi gật đầu nói: “Có lý đấy, vi phụ nghĩ là…Chiết cô nương tính tình tốt, có trí tuệ, tuy gia đình chỉ bình thường, song lại có thể quản lý được gia đình. Nhưng…Đường gia giàu có trong thiên hạ, con có thể nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ họ, rồi tiền đồ của con sẽ thuận buồm xuôi gió. Xét về việc công việc tư, con nên chọn cô nương này mới phải. Còn nói đến thân phận, đừng bao giờ nói đến việc làm thiếp với con gái Đường gia, trừ phi là con là một vị Triệu Quan Gia trong thành, hoặc con là họ hàng vương đế, cho nên…con nên cưới Đường cô nương làm thê, Chiết cô nương làm thiếp”.

Hắn liếc mắt nhìn Dương Hạo, nghiêm túc nói: 

“Chiết cô nương thông tình đạt lý, cùng là giới nữ với nhau, trở thành thiếp của tri phủ một châu, thì cũng không trách cứ gì đâu”.

Dương Hạo lắc đầu nói: 

“Nghĩa phụ, đàn bà không phải là cứ phải theo những người đàn ông quyền quý cao sang, có khí chất, đàn bà sao có thể như thế được?”

Lý Quang Sầm còn chưa nói được câu gì, Dương Hạo đã nói tiếp: 

“Đường cô nương đã đồng ý thay con mời những thương gia đến Lô Lĩnh Châu, rồi ít ngày nữa con sẽ lên đường đến Dã Ly Thị. Còn các thương nhân thì có Đường cô nương lo liệu, các việc khác thì chúng ta chuẩn bị xong sớm một chút. Lần này đến họp với các bộ lạc người Khương cho các thương nhân buôn bán, cho nên ba nghìn kỵ sĩ tinh nhuệ của nghĩa phụ không thể mang theo, mấy ngày này con phải tăng cường huấn luyện cho các dân tráng người Hán, đến lúc chiến đấu thì không phải lo nghĩ gì, chí ít họ cũng phải giỏi, không thể để cho sự dũng mãnh của bộ tộc người Khương lấn át”.

Lý Quang Sầm nghi ngờ nói: 

“Đem theo những dũng sĩ dũng mãnh có gì là không được?”

Dương Hạo nói:

“Nơi con đi là bộ lạc Dã Ly Thị, hơn nữa con đường đến đó có gì là nguy hiểm chứ. Hơn nữa, đây là Lô Lĩnh Châu, là địa bàn của ta, chắc chắn sẽ không sao. Hơn nữa người Khương Hoành Sơn được biết tình hình nội bộ của chúng ta, chỉ được coi chúng ta là người Hán.

Chúng ta giờ vẫn không thể để người Khương Hoành Sơn thăm dò tình hình nội bộ của chúng ta, hơn nữa nếu để họ biết ba nghìn quân ta mang theo cũng là người Khương, tin bị lộ ra sẽ không hay. Tuy Lô Lĩnh Châu chiêu mộ dân tráng người Khương không khó, nhưng trong thời gian ngắn mà chiêu mộ được ba nghìn người, người ta sao không nghi ngờ được? Hạ Châu Lý Thị nếu biết tin, sẽ nghi ngờ nghĩa phụ cầm đầu, cấu kết với Đảng Hạng Thất Thị và Lô Lĩnh Châu ta.

Con tuy đắc tội Lý Kế Quân, Lý Quang Duệ chư hầu một phương chắc không vì việc này mà làm khó việc này với con. Nhưng hắn mà biết được nghĩa phụ ở Lô Lĩnh Châu, biết con liên kết đồng minh với Đảng Hạng Thất Thị sẽ không tha cho chúng ta. Dược vào thực lực của chúng ta hiện nay, nào có phải là đối thủ của Hạ Châu.

Lần này nếu bất đắc dĩ dùng đến ba nghìn kỵ sĩ tinh nhuệ đến bộ người Khương Hoành Sơn sẽ rất nguy hiểm, song cũng may trận chiến đó thông tin những chiến sĩ, toàn bộ đàn bà và trẻ nhỏ bắt được vẫn chưa bị lộ ra. Rồi chúng ta bắt đầu chiêu mộ các chiến sĩ người Khương, như vậy cũng có thể che lấp những dấu vết kia. Nhưng nếu như giờ mang theo bọn họ đi khoe khoang với các bộ lạc người Khương Hoành Sơn, như vậy không hay chút nào”.

Lý Quang Sầm nghe xong gật đầu nói: 

“Hạo Nhi nói có lý lắm, vi phụ đi với con”.

“Từ đã”.

Dương Hạo ngăn lại nói: 

“Nghĩa phụ, cần đặc biệt bí mật, đưa những người tin cậy đi, họ đến các trại người Khương, khi trở về mang theo sắt thép, để Lý Hưng có thể làm vài món vũ khí, con muốn xem xem, vũ khí đó có thực sắc bén như lời hắn nói không”.

Lý Quang Sầm vuốt râu cười nói:

“Ha ha, vi phụ cũng cần phải đi xem chiếc cung thần mà hắn nói như thế nào, nếu con có vũ khí đó rồi, thì chẳng khác nào hổ mọc thêm cánh”.

Dương Hạo cũng cười, tiện nói luôn: 

“Nghĩa phụ cần có một đôi cánh mới đúng”.

Lý Quang Sầm lắc đầu nói: 

“Ta vẫn chỉ là một cánh”.

Dương Hạo ngạc nhiên nói: “Chỉ là một cánh?”

Lý Quang Sầm cười hắc hắc, giảo hoạt nói:

“Đương nhiên rồi, dù có trăm vạn đại binh trong tay, nếu như thiếu đi lương thảo, thì còn làm ăn được gì nữa? Vũ lực chỉ là một cánh, còn cánh kia thì sao, vừa bay ra cửa phủ đấy thôi, nếu con nắm chắc được nàng, đôi cánh đó mới hoàn chỉnh”.

Dương Hạo giật mình, cười đau khổ nói: 

“Nghĩa phụ đang khuyên con đó à? Vậy, cha tận tình giúp con có một bên cánh tốt trước đã…”

Địa lý trong sơn cốc Lô Lĩnh Châu, hẹp và dài như rắn, nơi phía sau cốc gần núi được xây dựng chính là Khương trại. Trước khi Dương Hạo đến Khương trại, thì phải đi qua trại người Khương, theo Lý Quang Sầm và Mộc Ân trèo lên núi, rồi lại vòng qua hai ngọn núi, mới đến sơn động bí ẩn.

Cửa động có suối nước chảy ra, nhưng trong sơn động lại không lạnh chút nào, đi vào không xa, thì có tiếng keng keng kêu, hơi nóng thốc thẳng vào mặt. Trong động là nơi rèn binh khí của Lý Hưng giờ đã bắt đầu làm việc. Nơi này tuy ở trong núi, nhưng lại ít dùng than củi, mà dùng mỏ than. Than đá luyện sắt thép, nhiệt độ rất cao, mà khu tây bắc muốn có một mỏ than cũng dễ, ở đây cũng không cần chặt cây cối xung quanh lấy than.

Có ba cái bễ rất to hiếm thấy ở Trung Nguyên đặt ở chỗ rộng trong sơn động, trước mỗi bễ có một người ngồi, đang thông gió luyện sắt. Lỗ thông gió rèn sắt của Lý gia là do họ nghiên cứu ra, loại bễ thông gió này có thể thông một lượng gió lớn, sức gió lớn khi luyện sắt sẽ cung cấp một lượng nhiệt cao như hỏa lò, cho nên nhiệt độ rèn sắt ở Nhất Phẩm Đường cao hơn so với các nhà khác, vì vậy việc rèn ra các loại vật phẩm từ sắt rất hoàn mỹ, giờ Dương Hạo nói dùng than đá, chất lượng sẽ còn cao hơn nữa.

Có mấy thợ rèn dưới sự chỉ đạo của Lý Hưng đang cầm búa, thay phiên nhau nện sắt, tiếng keng keng vang lên không ngừng. Vật mà Dương Hạo để ý nhất chính là chiếc cung thần của Lý Hưng, cho nên giơ Lý Hưng đang chế tạo cung tiễn. Dương Hạo đi sâu vào trong sơn động, thấy Lý Hưng đang ngồi ở một góc chuyên chú làm cung tiễn, bên cạnh chiếc bàn bên cạnh bày mấy vật được làm từ đồng, sáng lấp lánh, trông rất tinh xảo.

Mắt Dương Hạo sáng lên, bật hỏi: “Này…chẳng lẽ đây chính là thứ mà chiếc cung của ngươi dùng sao?”


Quay lại  l Xem tiếp 


BigKool BigKool
Vườn Hoàng Cung - Nông Trại Online Vườn Hoàng Cung
Khu Vườn Thần Kỳ Khu Vườn Thần Kỳ
Vườn Thủy Cung Vườn Thủy Cung
goPet Online goPet Online

C-STAT