Bộ Bộ Sinh Liên
Quyển 8:Xuất Thái Giang Nam Liên
Chương 356: Lễ Phật
Dương Hạo “hừ” một tiếng rồi nói: “ Sứ giả của quý quốc có người chết… điều này thì có liên quan gì đến người Tống chúng tôi? Tự dưng quay ra cắn càn, bản quan đây cũng đang định nhờ vua Đường điều tra cho rõ ràng chuyện đó. Thi thể của tên thị vệ đó ở đâu? Mau cho mang lên đây, bản quan sẽ kiểm chứng, ta tuyệt đối không làm chuyện gì xấu xa, không sợ ai kiểm tra”.
Gia Luật Văn khẽ nhíu mày, hô to: “Tốt! Thi thể vẫn đang được chờ ở ngoài điện, mời Quốc vương sai người đem vào trong”.
Hai tên lính buông vũ khí, chạy xuống điện khiêng di thể đó lên, Gia Luật Văn chỉ vào thi thể đó mà nói lớn: “Quốc vương, đây chính là thị vệ cường tráng của tôi, người này bị chết ắt hẳn là do bị ám sát, mà hung thủ thì nhất định là bọn người Tống”.
Dương Hạo vòng quanh di thể vài vòng, thi thể đó đã được thay một bộ quần áo bình thường chứ không phải là bộ quần áo tối hôm qua, quần áo xộc xệch, tóc tai rối bời. Gia Luật Văn ắt sẽ không thay quần áo cho tên thị vệ, điều đó chỉ gây cho hắn thêm phiền phức. Dù sao hắn cũng muốn sinh sự, huống hồ thực sự đã có một người chết.
Dương Hạo ngồi xổm xuống bên cạnh xác chết, nói: “Quốc vương, trên người nạn nhân bốc lên toàn mùi rượu, có lẽ là chết do uống quá nhiều rượu”.
Gia Luật Văn thoáng giật mình, hắn chỉ nghe nói người mà hắn phái đi đã bị biến thành một xác chết vứt sau vườn, liền ra lệnh đi kiểm tra, toàn thân nạn nhân không có vết thương, hắn thiết nghĩ dù không dò la ra được chút thông tin có ích nào từ dịch quán của nhà Tống nhưng ít nhiều cũng có cái xác chết này làm công cụ để chiếm ưu thế, do vậy hắn mới đem theo cái xác đến đây. Người Khiết Đan rất có tôn ti trật tự, thân là hoàng tộc, hắn không thể tự mình đi kiểm tra một cái xác chết được.
Vừa nghe thấy Dương Hạo nói trên thi thể có mùi rượu, Gia Luật Văn không khỏi tức giận trong lòng: “Cái tên hỗn tướng này, hôm qua ta phái hắn đi làm việc cho ta, thế mà hắn còn dám đi uống rượu. Tiêu rồi, ta bảo hắn cố ý để bị giam trong ngục của nhà Tống để làm bằng chứng quân Tống bắt giam người vô cớ, khiến bọn chúng hết đường chối tội. Thế mà tự dưng lại không cẩn thận thế này”.
Gia Luật Văn ngoan cố: “Người Khiết Đan chúng tôi rất giỏi uống rượu, một ngày ba bữa, không bữa nào là không uống rượu, có mùi rượu thì có gì là kỳ lạ?”
Dương Hạo cười cười, hắn ngẩng đầu quay sang Hoàng Phủ Kế Huân vẫy tay, Hoàng Phủ Kế Huân thấy Lý Dục không tỏ ý từ chối bèn vội vã chạy lại hỏi: “Dương trái sứ, có chuyện gì thế ạ?”
Dương Hạo thò tay lấy tấm vải che người nạn nhân ra một bên, trên mặt nạn nhân dính đầy bùn, cỏ dại đã bị dẫm nát và vài cánh hoa, nói với Hoàng Phủ Kế Huân: “Đại nhân thử ngửi kỹ xem, xem có mùi gì?”
Hoàng Phủ Kế Huân ngửi ngửi rồi nói: “A… là mùi rượu”
Dương Hạo nói: “Thi thể đã cứng ngắc, chết từ lúc nửa đêm mà bây giờ vẫn còn mùi rượu thì ắt là đã uống không ít phải không”
Kỳ thực mùi rượu cũng không nồng, nếu không ngửi kĩ thì cũng khó phát hiện, nhưng Hoàng Phủ Kế Huân cũng không biết người chết đã chết từ bao giờ, nếu như trước khi chết mà uống nhiều thì trên người đương nhiên là sẽ có mùi rượu, cho nên hắn gật đầu lia lịa mà nói : “Dương trái sứ nói có lý, người này ắt hẳn là đã uống không ít”.
Gia Luật Văn cả giận: “Rút cuộc các ngươi muốn làm gì?”
Dương Hạo không thèm để ý đến hắn, nói với Hoàng Phủ Kế Huân: “Ngài thử ngửi kĩ xem, còn có mùi gì khác không?”
Hoàng Phủ Kế Huân lại ngửi ngửi, không có mùi gì khác cả. Hắn lại tiến lại gần sát để ngửi, mũi gần như đã dí sát vào mặt người chết, ngửi kĩ, mặt của Hoàng Phủ Kế Huân lộ ra một nét mặt kỳ quái.
“Thế nào? Hoàng Phủ đại nhân có cảm nhận được là mùi gì không?”
“Cái này… không tiện nói. Dường như là… rất giống… mùi nước tiểu”
“Bộp bộp” Dương Hạo vỗ mạnh vào vai hắn khen: “Oa, đúng là anh hùng như nhau, ta cũng ngửi thấy mùi nước tiểu”.
“Hức hức”, Hoàng Phủ Kế Huân nghĩ lại lúc nãy mặt mình vừa dí sát vào mặt người chết mà ngửi liên tục, không khỏi cảm thấy kinh.
Dương Hạo quay người sang nói với Lý Dục: “Quốc vương, võ sĩ Khiết Đan vóc người cao to lực lưỡng, nếu như có người thử tấn công thì trên người ắt hẳn phải có vết thương, do vậy, không có khả năng hắn bị ám sát”
Gia Luật Văn nghiến răng cười nói: “Không phải là ngươi giết thì lẽ nào hắn tự sát?”
Dương Hạo giống như một thầy sư đi đến trước mặt thi thể, chậm rãi mà nói: “Người này uống rượu… lại chết trong vườn hoa lúc nửa đêm, trên mặt còn có bùn và cánh hoa, Hoàng Phủ Kế Huân đại nhân cũng đã cẩn thận kiểm tra, trên cổ hắn ta còn có mùi nước tiểu, như vậy, bản quan có thể đưa ra kết luận, người này không phải là bị giết, cũng không phải do ngộ sát, mà là một chuyện xảy ra ngoài ý muốn”.
Lý Dục nghe thấy vậy liền vội hỏi: “Ngoài ý muốn? Mời Dương trái sứ nói rõ ràng hơn xem, rốt cuộc là chuyện ngoài ý muốn như thế nào?”
Dương Hạo nghiêm trang chắp tay nói: “Qua việc khám nghiệm của bản quan và Hoàng Phủ đại nhân, mùi rượu trên người nạn nhân không nồng, hơn nữa trên mặt còn có mùi nước tiểu. Căn cứ vào dấu vết, bản quan thiết đoán… người này ắt hẳn uống nhiều nên say, nửa đêm tỉnh giấc, muốn ra ngoài tiểu tiện, do uống quá nhiều mà bị ngã và hôn mê bất tỉnh. Do mũi và miệng bị ngập trong đống nước tiểu của mình mà bị tắc thở. Đây là giải thích hợp lý, cũng là gần với sự thực nhất”.
Lời Dương Hạo vừa dứt, cả triều đình liền xôn xao. Gia Luật Văn tức giận như nhất Phật xuất thế, nhị Phật thăng thiên, lớn tiếng gào lên: “Người không thể vô sỉ đến mức này, quá mức vô sỉ… Vô sỉ quá! Đổi trắng thay đen, chỉ hươu nói ngựa, ngôn từ bừa bãi, quá ư là vô liêm sỉ… tất cả những lời này lại có thể xuất phát từ miệng của sứ giả nhà Tống”.
Lối dùng từ của Gia Luật Văn thật cũng không đơn giản, một câu chửi mà đến Lão Tử và Tôn Tử đều có mặt, Dương Hạo ung dung cười: “Đừng có nghe theo cái nhân nghĩa đạo đức của Lão Tử, đạo đức kinh đều là do Lão Tử viết ra thôi”.
Gia Luật Văn nổi trận lôi đình, đoạt lấy binh khí từ tay một tên lính, đứng ở tư thế như đang dùng hoành thương nhảy ngựa. Dương Hạo trông thấy liền vội vàng rút thanh bảo kiếm ra, tay trái nắm chặt kiếm quyết, hét lớn: “Nghèo lý lẽ nên phải động thủ sao?”
Lý Dục thấy hai bên đang chuẩn bị đánh nhau, không khỏi mừng thầm trong lòng, trên mặt thì giả bộ cuống quýt, đứng lên hô lớn: “Mau mau kéo hai vị sứ giả ra, có gì từ từ nói, đừng có để mất hòa khí đôi bên”.
Khi hai bên chuẩn bị lao vào nhau, Lý Dục cho người kéo họ ra, dùng lời nói để điều đình, sau đó bày tiệc rượu mời hai vị sứ giả mỗi người ngồi một bên cùng uống rượu, vừa lấy thân phận Quốc vương ra trợ cấp cho nạn nhân kia, đồng thời ẻm chuyện này đi.
Đợi tiệc rượu tàn, Lý Dục mới nói: “Hai vị sứ giả từ xa tới Đường Quốc, đều là khách quý của ta, ta không hy vọng chúng ta vì những hiểu lầm nhỏ nhặt mà làm hỏng quan hệ hòa hảo của Khiết Đan và nước Tống. Hai vị sứ giả đều là những bậc thâm minh đại nghĩa, hy vọng có thể lấy việc nước làm trọng, hóa giải mọi hiểu lầm. Sáng mai ta sẽ đi Kê Minh Tự, lễ phật dâng hương, mời hai vị cùng đi, hy vọng dưới đất Phật từ bi thanh tịnh, với trái tim từ bi của Đức Phật chúng ta sẽ hóa giải được mọi tức giận trong lòng hai vị.”
Dương Hạo và Gia Luật Văn liếc nhau, đồng thanh “hừ” một tiếng, sau đó nhất tề chắp tay nói: “Quốc vương đã mời, ngoại thần cáo từ”. Nói rồi hai người cùng nhau quay lưng bỏ đi.
Lý Dục nhìn bóng hai người đi khuất, mép nở ra một nụ cười hoan hỉ, ngoắc tay gọi một tên thị vệ dặn dò: “Đi, mời Gia Luật Văn đến Thanh Lương điện cùng ta”
Lúc này, Trần Kiều đang lẳng lặng đợi tại Thanh Lương điện…
*************************************************
Gia Luật Văn vừa quay trở lại dịch quán, Đinh Thừa Nghiệp đã lập tức chạy lại nghênh đón: “Đại nhân, ở Thượng Kinh có tin rồi”.
“Hả?” Gia Luật Văn vội vàng hỏi: “Là thư của phụ vương? Nói gì?”
“Tiểu nhân không dám bóc thư của Lão Vương gia, thư vẫn còn đây, mời đại nhân xem”.
Gia Luật Văn vội vã nhận lấy lá thư, trở lại phòng, bóc phong bì lấy ra một lá thư mỏng, xem cẩn thận. Sau một hồi mới đứng dậy, đi lại trong phòng.
Đinh Thừa Nghiệp không đợi được nữa, tiến đến hỏi: “Đại nhân, Lão vương gia nói thế nào?”
Gia Luật Văn cười lạnh nói: “Không như ta dự liệu. Trước khi ta rời kinh Tiêu Xước hoàng hậu đã bắt đầu khai trừ tay chân vệ quân trong cung của ta rồi.”
Đinh Thừa Nghiệp thất kinh: “Bà ta đã ra tay trước rồi? Vậy ta nên làm thế nào đây?”
Gia Luật Văn nói: “Không sao, Tiêu Xước chỉ dám trực tiếp khống chế tay chân của ta trong cung, còn quân bộ tộc… bà ta vẫn không dám ra tay. Trong thư Phụ vương ta cũng đã nói, bà ta đã dẹp hết những thân tín trong cung của ta, sợ rằng chúng sẽ tạo phản, do đó lúc này không thích hợp để thực hiện kế hoạch xóa sổ bọn thủ lĩnh, hãy chiếm lấy Thượng Kinh trước đã”.
“Ý của Phụ vương là tạm thời cứ để bà ta tung hoành, loại bỏ hết thân tín trong cung của ta, để cho bà ta lơ là… Sau đó, đợi thời cơ thích hợp các đại thần của bộ tộc sẽ tiến đến Thượng Kinh, đợi đến Phóng Thâu nhật, khi Hoàng đế xuất cung vi hành sẽ tiến hành tập kích, tiêu diệt hết đám Gia Luật Hiền, Hàn Đức Nhượng, Gia Luật Thể, Tiêu Thác Trí… rồi điều quân binh vây Thượng Kinh. Sau đó đích thân ta sẽ ở nơi này phát động, kích động quân Tống Bắc phạt, nội ngoại bức bách, buộc Tiêu hoàng hậu phải bỏ ngai vàng, tôn ta làm vua, sau đó ta sẽ lấy bà ta làm hậu”.
Đinh Thừa Nghiệp thất vọng hỏi: “Phóng thâu nhật? Tức là vào ba ngày 13, 14, 15? Vậy là chỉ còn nửa tháng nữa…”
Gia Luật Văn mỉm cười nói: “Không sai, chỉ còn nửa tháng nữa thôi. Ngươi còn vội hơn cả ta cơ à, được làm Hoàng đế là điều không đơn giản, nửa tháng nữa mà còn chê dài sao?”
Đinh Thừa Nghiệp nói: “À… thần không có ý như thế, chỉ là những tên sứ thần nhà Tống kia dám làm nhục đại nhân, tiểu nhân thật bất bình, chỉ muốn ngay lập tức chém cho hắn trăm nhát… để trút giận cho đại nhân”.
Gia Luật Văn nhận được tin của Thượng Kinh, trong lòng đang vui sướng, nghe thấy vậy liền cười hi hi mà nói: “Ngươi thật tận tâm với ta. Hừ, cái bọn đó dám làm nhục ta, ta sẽ không để cho bọn chúng sống. Đợi thời cơ đến, ngày đó, ta sẽ nhẫn nại đợi, nửa tháng nữa… rất nhanh thôi, sẽ đến rất nhanh thôi…”
Hôm sau, sứ giả nước Tống cùng sứ giả Khiết Đan cùng đi với Lý Dục đến Kê Minh Tự lễ phật.
Trong vườn trồng rau, từng bó rau tươi non được đặt trên xe, Đức Hạnh đại sư phẩy tay nói: “Được rồi, các ngươi đem quần áo đã được giặt sạch lại đây, một lát nữa phải đưa đến Tĩnh Tâm Am…”
“Rõ ạ, tiểu sư thúc”, vài tên tiểu hòa thượng chắp tay rời đi, Bích Túc quay đầu lại đã thấy bọn chúng đi xa, liền vội vàng lôi kéo Tĩnh Thủy Nguyệt đến dưới một gốc cây to, lôi từ trong áo ra một quả lê vàng mọng, đưa cho nàng ta mà rằng: “Này, rất tươi ngon đấy nhé, ta đã rửa rồi, nàng ăn đi.”
Tĩnh Thủy Nguyệt mỉm cười, nhẹ nhàng lắc đầu, nhưng Bích Túc đã cố dúi vào tay nàng, kéo nàng ngồi xuống phiến đá gần đó mà nói: “Đây là chút lòng tốt của ta, nàng thử xem đi mà, ngọt lắm ấy, ăn đi, thử một miếng thôi cũng được.”
Tĩnh Thủy Nguyệt chần chừ đôi chút rồi cũng đón lấy quả lê, cắn một miếng nho nhỏ.
“Có ngon không?”
Tĩnh Thủy Nguyệt nhai khẽ, gật gật đầu. Bích Túc như cởi tấm lòng, nắm chặt tay nàng nói: “Nếu như nàng thấy ngon thì lần sau ta sẽ mang cho nàng ăn, để cho nàng mỗi ngày đều được ăn”.
Tĩnh Thủy Nguyệt bị kéo tay, mặt đỏ lên vì xấu hổ, nàng vội vã rút tay lại, chỉ chỉ vào chuỗi tràng hạt đeo trước ngực, rồi lại chỉ ra phía vườn sau, trừng mắt nhìn hắn.
Bích Túc cười hì hì nói: “Ta xuất gia cũng là vì nàng, Phật tổ cũng biết là ta thích nàng, Phật sẽ không trách tội chúng ta đâu”.
Tĩnh Thủy Nguyệt luống cuống, vội vã thả quả lê ra, chắp tay, miệng lắp bắp dường như đang ăn năn hối cải trước Phật tổ.
“Thủy Nguyệt, trước kia ta là một kẻ vô sỉ, cũng là kẻ lãng tử thâu hương thiết ngọc, cho dù nhà ta là đại gia cũng không hề có ý hướng thiện. Cho đến khi ta gặp nàng, Thủy Nguyệt, nàng là Bồ Tát sống của ta, ta càng ở gần nàng thì Phật càng ở gần ta. Phật không phải là người phổ độ chúng sinh hay sao, nàng từ bi như vậy, hãy chiếu độ cho ta đi, chỉ cần nàng lấy ta nàng đã biến một người xấu thành người tốt, tích được biết bao công đức, còn nhiều hơn nàng ngồi niệm kinh cả đời”.
Lời nói ngọt ngào của Bích Túc khiến Tĩnh Thủy Nguyệt động lòng, từ bé đến lớn chẳng có ai nói với nàng như thế, nàng muốn nghe, nhưng lại sợ, muốn chạy trốn, nhưng lại không nỡ để hắn bị tổn thương, thế là chỉ còn biết lấy tay bịt kín hai tai, nhắm chặt mắt, dáng điệu đáng yêu vô cùng.
“Ta đã nói rồi, ta nói rất nhiều mà, dẫu cho nàng không nói được, chúng ta thành thân trong nhà cũng không sợ bị tĩnh mịch”. Bích Túc kéo tay nàng: “Thủy Nguyệt tốt, tiểu sư thái, nghe niệm kinh cũng là niệm kinh, chỉ cần nàng thích, sau này nhà chúng ta sẽ bố trí giống phật đường, mỗi ngày nàng đều có thể niệm kinh, Kim Cương Kinh, Pháp Hoa Kinh, Lăng Nghiêm kinh… nàng muốn nghe bao lâu ta cũng đều có thể niệm cho nàng nghe, nhà chúng ta sẽ treo một cái chuông thật to, mỗi ngày ta sẽ là quan nhân của nàng, giúp nàng đánh chuông, đợi chúng ta có con ta cũng sẽ cạo đầu cho chúng thành tiểu sa di, ta sẽ là phương trượng, nàng là chủ trì…”
Tĩnh Thủy Nguyệt nghe đến mức hai mắt mở to ra, lắc đầu quầy quậy, Bích Túc liền cười nói: “Sao hả? Nàng không muốn con cái chúng ta mới ra đời đã làm tiểu hòa thượng sao? À… nói cũng đúng thôi, chúng là cục cưng của chúng ta, nhất định sẽ khôi ngô tuấn tú, làm sao nỡ mà gọt đầu chúng”.
Tĩnh Thủy Nguyệt xấu hổ, mặt đỏ rần, Bích Túc nhẹ nhàng nói: “Thủy Nguyệt, nàng có biết không, nàng là người phụ nữ đẹp nhất hạ giới, đợi tóc nàng mọc dài ra, nhất định sẽ càng đẹp hơn…”
Tĩnh Thủy Nguyệt không thể ngồi được nữa, nhét trả Bích Túc quả lê, nhảy dựng lên chạy mất.
“Này!” Bích Túc gọi với theo, nhìn theo bóng nàng khuất dần, mỉm cười nói: “Tiểu sư thái của ta khi cười giống như Bồ Tát vậy, thật mê hồn”. Hắn nắm chặt quả lê, cắn một miếng thật to ở chỗ Thủy Nguyệt vừa ăn, chạy theo hướng Thủy Nguyệt vừa đi”.
************************************************** ****
Kê Minh Tự, trong Phật đường, đại sư Bảo Kính mặc áo cà sa đỏ cùng với một vài đại sư khác đang ngồi bên Lý Dục. Lý Dục vừa dâng hương và tiền dầu cho chùa, đang ngồi cùng các vị hòa thượng, đích thân dùng dao cắt “xí giản” cho các hòa thượng. “Xí giản” chính là giấy vệ sinh dùng khi vào nhà tiêu, lúc đó giấy vệ sinh tương đối hiếm nên các hòa thượng phải làm sạch bằng những mảnh trúc nhỏ, nên giấy vệ sinh có nhu cầu rất lớn.
Bảo Kính đại sư nhìn thấy trong tự có chuyện chướng mắt, lại nằm ngay trong tầm mắt của nhà vua, liền không chịu được mà quát lên: “Đức Hạnh, ngươi đang làm gì vậy?”
Bích Túc đuổi theo Thủy Nguyệt, đang ngọt ngào dưới bóng cây, nói đến đoạn cao trào nên không phát hiện ra có người đang đến gần, nghe thấy phương trượng quát, hắn mới giật mình nhảy dựng lên, muốn tìm một lý do để lấp liếm đi nhưng chợt nhìn thấy Dương Hạo đang đứng đó nên bất giác ngẩn ra, quên cả trả lời.
Lý Dục vốn là một tín đồ của Phật tử, đồng thời cũng là một tài tử đa tình, hắn nhìn lén sang vị ni cô đang đứng đó, thấy cô là một người khá xinh đẹp. Với hắn, dù cô ta đã xuất gia với hắn cũng không có ý nghĩa gì mấy, bởi đã từng có chuyện hòa thượng lén cưỡng hiếp ni cô, sau khi sự việc xảy ra đã bị trừng trị nặng. Lý Dục thấy vậy mới nói vài câu giải vây cho đôi uyên ương: “Nơi này không phân định rõ quy định giữa hòa thượng với ni cô, Phật tâm không kiên định, bọn họ tư thông tâm tình, các ngươi nếu như muốn trừng trị họ thật nghiêm, sau đó đuổi họ ra khỏi tự thì chẳng phải đã cho họ đạt được tâm nguyện đó sao? Theo ý Trẫm, đối với những tăng nhân không tịnh như vậy thì hãy phạt họ đi bái Bồ Tát ba trăm lần là được”.
Hoàng đế nói như vậy, các nhà sư trong tự cũng không dám không nghe, do đó, trước mặt tăng nhân Giang Nam và rất nhiều người ở đó, chuyện quyến rũ con gái nhà lành cũng không được coi là chuyện lạ nữa, như sách nói: “Gian lạm công hành, vô sở cấm chỉ” (Làm việc sai trái ngay giữa ban ngày ban mặt mà không bị cấm).
Nhưng Kê Minh Tự là đệ nhất phật tự, đứng đầu nước Đường, Bảo Kính đại sư có yêu cầu vô cùng nghiêm ngặt, hơn nữa quan trọng nhất là hôm nay đệ tử của ông đã làm sai quy định, lại còn ngay trước mặt bao huynh đệ, trước mặt ông ta, hơn nữa còn ngay trước mắt vua Đường, tất nhiên không giận sao được.
Bích Túc lúng ta lúng túng không nói nên lời, Dương Hạo nhìn thấy hắn cũng không ngạc nhiên, cho tên tiểu tử này an phận trong thành Kim Lăng để chờ nghe ngóng tin tức, thế mà hắn lại khoác áo cà sa trốn trong chùa. Tên này đúng là hết thuốc chữa, Dương Hạo cũng nhất thời không biết nên giải vây cho hắn thế nào.
Lý Dục có chút bực mình, nhìn cẩn thận tên tiểu sa di và vị ni cô kia, nam thanh nữ tú, thật đúng là một cặp trời sinh. Lý Dục hiểu rõ nhất cách thưởng thức người đẹp, trong lòng cũng có phần thích thú, nhưng mặt không dám biểu lộ, liền cuời nói với Bảo Kính đại sư: “Tự chủ cần chi phải phẫn nộ, tôi thấy đôi này dung mạo thanh tú, làm sao lại có thể làm những chuyện nhơ bẩn được, để ta đi hỏi bọn chúng xem sao”.
Lý Dục tiến lên hai bước, Bảo Kính đại sư đi theo sau, cẩn thận dò xét hai người. Tĩnh Thủy Nguyệt đã quá sợ hãi mà đứng nép vào một bên, mặt trắng bệch, Lý Dục thấy có chút đáng thương liền làm mặt ôn hòa mà hỏi: “Sư phụ này ở đây cùng vị nữ nhi này làm gì?”
Dương Hạo vội ho một tiếng, nhắc nhở: “Tiểu hòa thượng, vị này là vua Giang Nam, làm sao mà ngươi lại không biết lễ nghĩa, mau hành lễ đi”
Bích Túc vốn không sợ hãi, nếu như Bảo Kính đại sư thực muốn đuổi hắn ra khỏi tự cũng chẳng sao, mục đích của hắn chủ yếu là tiếp cận Thủy Nguyệt mà thôi… Thủy Nguyệt tuy không từng bày tỏ thái độ với hắn, nhưng rõ ràng thái độ đối với hắn cũng khác, khi nghe hắn nói còn đỏ mặt mỉm cười, dù có chút cáu giận nhưng cũng chứng minh rõ là nàng cũng thích hắn, không sợ không có cơ hội đi tìm nàng nói chuyện. Nhưng khi nghe nói người đứng trước mặt mình chính là vua Đường, hắn mới bắt đầu thấy bối rối.
Dương Hạo cũng sốt ruột thay hắn, thấy Bích Túc cứ lắp bắp không thể mở miệng ra nói được, mặt Lý Dục cũng đã bắt đầu lộ vẻ khó chịu, Bích Túc lúc này đây chợt nghĩ đến khi giả mạo làm cao tăng Tây Tạng ở Khai Phong Dương Hạo đã từng nói: “Cao tăng mà, đều thích những lời nói sắc bén. Người khác nói những gì, chỉ cần ngươi cảm thấy không cần trả lời thì cứ trả lời nước đôi như không biết gì, ngươi yên tâm, càng nói chuyện không đâu thì càng giống Thiên Cơ, người ta càng cảm thấy nhà ngươi Phật học uyên bác. Người ta không hiểu thì đến hỏi cũng không dám hỏi ngươi, càng nói nữa, ngươi vốn là hòa thượng giả trang, có những điều ngươi nói không giống người xuất gia, nhưng cũng cứ kệ đi”.
Nghĩ tới đây, Bích Túc đột nhiên ưỡn ngực nói: “Người xuất gia nhảy ra khỏi Tam giới, không ở trong Ngũ hành, không bái Phật không bái tục, trước mặt Quốc vương, tiểu tăng cũng không cần phải bái. Mà thật ra Quốc vương mới là người cần bái tiểu tăng đây”.
Bảo Kính đại sư nghe thấy vậy đột nhiên giận dữ, Tĩnh Thủy Nguyệt thấy hắn nói vậy với Quốc vương cũng sợ hãi run rẩy, Lý Dục thì lại cười hỏi: “Tiểu sư phụ học những lời này ở đâu?”
Bích Túc cuống lên nói bừa: “Cái này… Kính tăng tức là kính phật, kính phật tức là kính pháp, tức là cung dưỡng tam bảo, mới được hưởng phúc. Tiểu tăng tuy chỉ là một vị tăng nhân bình thường nhưng lại là tín đồ của Phật, Quốc vương nếu như muốn ta hành lễ thì chẳng khác chi bắt Phật hành lễ, vậy là Quốc vương đã tạo tội rồi”.
Chương 357: Mây mưa sắp đến
Dương Hạo nghe thấy vậy không nhịn nổi cười, cái tên Bích Túc này quả là gan không nhỏ, chẳng phải là cao tăng gì, những lời nói của hắn đều bị Phương trượng nắm thóp, đang đứng ở kia tức khí bừng bừng mà hắn còn nói ra được. Còn vị tiểu ni cô kia cũng thật xinh đẹp, tên tiểu tử Bích Túc này cũng có mắt nhìn đấy chứ.
Lý Dục ngẫm nghĩ lời nói của Bích Túc, đột nhiên như tỉnh ra điều gì bèn quay sang nói với tiểu hòa thượng: “Tiểu sư phụ lễ Phật không lễ tục, nói cũng có lý, có thể thấy với trái tim kiên định hướng Phật như vậy tiểu sư phụ sắp đạt đến bậc cao tăng rồi. Nhưng không rõ tiểu sư phụ ở đây làm gì?”
Bích Túc đảo mắt một vòng rồi nói: “Thế Quốc vương ở đây làm gì? Tiểu tăng ở đây làm gì?”
Lý Dục cười nói: “Quả nhân hôm nay đến vốn là để lễ Phật”
Bích Túc nói: “Bần tăng ở đây cũng là để lễ Phật”
“Tiểu hòa thượng bái như vậy chẳng lẽ là thích Phật?” Lý Dục liếc vị ni cô kia một cái, câu hỏi này cơ hồ như cố ý thoát ra, nhưng thấy thân là Quốc vương, hình như không nên nói những lời này nên hắn lại ra vẻ trịnh trọng: “Quả nhân dâng hương lễ Phật, Phật trong Đại Hùng bảo điện, không biết vị sư phụ này lễ Phật ở đâu?”
Bích Túc càng bịa càng thấy vào, vung tay mà nói: “Nơi này một cành cây một cọng cỏ, điện các diêm ngói, ngài tôi cô ấy, đều có tính Phật, đều là Phật ta”.
Gia Luật Văn càng nghe càng mù mờ, không nhịn được mà cười khẩy nói: “Tiểu hòa thượng, ngươi ở đây với vị tiểu ni cô kia lôi lôi kéo kéo, đã là phạm vào sắc giới rồi, lại còn bốc phét, rõ ràng là người không tịnh, ắt hẳn là hòa thượng giả danh, ăn thịt uống rượu, muốn nói gì thì nói cũng đã là phạm tội rồi, còn đứng đó tự biên tự diễn”.
Bích Túc trợn mắt nói: “Rượu thịt đi qua dạ dày, Phật Tổ nằm lại trong tâm, cầm giới chưa chắc trong tâm đã có Phật, có Phật trong tâm chưa chắc đã phải cầm giới, đức Phật từ bi cũng không nổi trận lôi đình. Ngài ắt hẳn biết Phật tổ vốn là một vị hoàng tử, lấy vợ sinh con, ăn thịt uống rượu, thế mà vẫn tu hành ư?”
Bảo Kính đại sư quát to: “Đức Hạnh, ngươi thật to gan, thật hết cách để nói chuyện với ngươi. Đó là những chuyện Phật tổ làm trước khi thành Phật, còn sau đó đã giác ngộ bên dưới gốc bồ đề”.
Lý Dục nghĩ ngợi rồi nói: “Rượu thịt đi qua dạ dày, chỉ có Phật ở lại trong tâm. Hay! Nói hay lắm, Phật gia kiêng rượu thịt, đó là quy định có từ thời Lương Võ Đế… Khi niệm Phật thác bác hóa duyên, thi xá cái gì thì ăn cái đó, nhưng chính xác không phải là rượu thịt. Tiểu sư phụ có tính Phật, lại tuệ căn, có thể nói ra những điều ấy, rượu thịt đi qua dạ dày, chỉ có Phật ở lại trong tâm, câu này có thể nói ra quả là bậc đại thánh”.
Bảo Kính nghe thấy vua nói vậy bèn chỉ biết cung kính mà rằng: “Quốc vương Phật pháp cao thâm, có cách khiến giải khác đi, lão nạp không sao sánh bằng”.
Bích Túc thấy vua nói một câu, Bảo Kính liền nghe một câu, trong lòng thầm nghĩ: “Sư phụ của ta là đệ nhất đại sư của nhà Đường, các hòa thượng khác đều phải nghe lời ông ta, nhưng Lý Dục nói gì ông ta cũng không dám cãi lời, nếu như ta có thể leo lên cái cây này, ông ta dặn dò Thủy Nguyệt lấy ta thì ắt Tĩnh Tâm am cũng phải nghe theo”.
Nghĩ tới đây, hắn liền nảy ra ý định phàn giao với Lý Dục, bèn nói: “Quốc vương đã đến đây lễ Phật, nhìn thấy tiểu tăng rồi sao còn không bái?”
Bảo Kính kinh sợ, đang muốn trách mắng thì Lý Dục lại quay về phía hắn hành lễ nói: “Bậc sư phụ giáo dục đúng là… tín đồ Lý Dục xin được hành lễ”.
Bích Túc nhận lễ, cũng không thi lễ lại, Lý Dục thấy vậy cũng có cảm giác khó lường, chỉ cảm thấy tên hòa thượng này nói năng sắc bén… dung mạo thì khôi ngô khác thường, nói không chừng có thể là tiên đồng hạ phàm của Bồ Tát hóa thành hắn. Nghĩ vậy nên Lý Dục nhìn hắn với thái độ có đôi chút hoảng sợ.
Hai người lại nói chuyện với nhau, cũng nhân đó mà hỏi chuyện riêng của Bích Túc với vị ni cô kia. Bích Túc đã qua cơn sợ hãi, lại đang hứng khởi nói chuyện mây núi trời đất, rõ là không biết sợ ai, người bình thường ai cũng nghe ra là hắn đang nói phét, nhưng Lý Dục – kẻ thông thuộc Phật pháp thì lại cứ bị những lời nói của Bích Túc rót vào tai, thấy lời nào cũng có lý, thậm chí còn nảy sinh lòng tin phục với Bích Túc.
Hai người nói chuyện một lúc lâu, Lý Dục vẫn chưa nói hết ý nhưng do đã đến lúc phải về nên hắn lấy giấy bút chỗ Bảo Kính đại sư, viết lên một vài chữ to rồi nói: “Hôm nay được đối đáp với tiểu sư phụ, quả nhân được mở rộng tầm mắt, chữ này là quả nhân tặng cho sư phụ làm quà. Hôm sau quả nhân muốn mời sư phụ vào cung nói chuyện Phật pháp, xin tiểu sư phụ chớ từ chối”.
Dương Hạo xem ý nghĩa của chữ kia, không khỏi không thấy buồn cười. Bích Túc thì gãi gãi cái đầu trọc, nói nhỏ: “Chữ quốc vương viết ra đáng giá nghìn vàng, thật đáng tiếc… Quốc vương viết trên bức tường này thì ai cũng có thể gỡ tường ra đi bán”
Lý Dục nghe xong cười lớn, chỉ cảm thấy từng câu từng chữ của tiểu sư phụ này quả thực không tầm thường, giống như nhặt được bảo bối, hắn xem Bích Túc như bậc thần thánh.
Sau khi cung kính tiễn Lý Dục đi khỏi, Bảo Kính mới quay lại điện, nhìn thấy những chữ trên tường mà phát rầu. Thủ Tọa đại sư nghe nói Quốc vương viết lên tường, cũng hoan hỉ dẫn theo vài hòa thượng đến xem. Trên tường treo chữ, bên dưới còn có một cái lồng để bảo vệ cho ngự bút mới dán. Vừa nhìn thấy Bảo Kính đại sư đang đứng trước tường tức khí, Thủ Tọa đại sư không nén được mà nói: “Phương trượng, Quốc vương ta lấy đệ tử của Phương trượng – Đức Hạnh làm đề tài viết chữ, cái này là phúc của chùa ta, cớ sao ngài lại nhìn như thế là ra đạo lý gì?”
Bảo Kính chỉ chữ treo trên tường, mặt sầu não mà nói: “Sư huynh, huynh đến xem kĩ đi, xem xem Quốc vương nói đến điều gì?”
Thủ Tọa đại sư nhìn lên tường, chỉ thấy trên tường là những chữ rồng bay phượng múa, trên đó viết “Thiển châm đê xướng ôi hồng ỷ sắc đại sư, uyên ương tự chủ, trụ trì phong lưu giáo pháp”. Thủ Tọa đọc đi đọc lại hai lần vẫn không hiểu ý nói gì, quay sang nhìn Bảo Kính như muốn nhờ ông ta giải đáp dùm, bất giác ông “a” lên một tiếng, bối rối nói: “Cái này… cái này phải làm sao cho phải?”
“Thiển châm đê xướng ôi hồng ỷ sắc đại sư, uyên ương tự chủ, trụ trì phong lưu giáo pháp”, câu này rõ ràng là có ý nói Bích Túc muốn lấy vợ sinh con, theo đuổi ni cô, đó là điều có thể. Lý Dục hiện giờ tuy là đã mất đi đế hiệu, nhưng vẫn là Hoàng đế của Giang Nam, lời của Hoàng đế viết xuống như thánh chỉ, nào ai dám không tuân theo?
Nhất là khi trong câu này còn nói đến chủ trì, làm sao có thể vờ như không thấy. Nhưng muốn tuân theo thì chẳng lẽ phải trao chức Phương trượng cho tên Bích Túc kia? Nếu như Bích Túc làm Phương trượng thì Kê Minh Tự sẽ đi về đâu? Bảo Kính và Thủ Tọa đối mặt với nhau, cảm giác không tưởng tượng nổi Kê Minh Tự sẽ như thế nào.
Lúc này đây Bích Túc mắt la mày lém bước vào, đứng sau hai vị, cười hì hì rồi chắp tay thi lễ nói: “Sư phụ, Thủ Tọa đại sư đã mời, Kê Minh Tự vãn là đệ nhất của nước Đường. Trong tự có khoảng 3.000 tăng nhân, đệ tử có thể làm Phương trượng của chùa này không? Quốc vương đã phong cho đệ tử chức Phong lưu giáo pháp, đó cũng là Phật hiệu, trụ trì của chùa vẫn cần nhờ vào phó Phương trượng này, đệ tử…”
Hắn thấy trên đầu hắn như có bao ngôi sao sáng lấp lánh, mặt mày hớn hở mà nghĩ: “Hahaha… phen này xem nàng còn dám kháng chỉ của ta không?”
************************************************** ****
Lý Dục khởi giá, đại đội ngựa người chậm rãi hồi cung. Trên đường, bách tính bị quân lính dẹp gọn vào hai bên đường, trong đám người chen chúc đó có một khuôn mặt vàng vọt, quần áo rách rưới… chỉ có đôi mắt là trong veo như suối chảy, dáng người gày gò đi theo đoàn người cả một đoạn đường dài.
Ánh mắt của hắn nhìn chằm chằm vào sứ giả Khiết Đan như tìm tòi điều gì, dường như không tìm thấy người hắn cần tìm, hắn khẽ nhíu mày nói: “Rõ ràng là hắn có đến Giang Nam, nghe nói đó là tâm phúc của Gia Luật Văn, lẽ nào Gia Luật Văn không đem theo hắn? Chẳng lẽ hắn lại có tư cách làm bạn của Gia Luật Văn, lúc nào cũng ở bên cạnh Lý Dục?”
Hắn rảo nhanh bước đi, chạy theo một đoàn người đi phía trước, vừa tìm tòi trong đoàn nghi thức, vừa tìm kiếm dọc hai bên mà vẫn không thấy bóng dáng ấy, lại nhìn lên phía trên thì chỉ thấy đám Lý Dục và Gia Luật Văn. Ánh mắt hắn lại nhìn sang người đang cưỡi ngựa trắng bên cạnh Lý Dục, thân thể cao to cường tráng, đang mỉm cười nhìn về phía bách tính hai bên đường, chậm rãi đi qua họ.
Tên mặt vàng đó khẽ dụi mắt, đi nhanh vài bước, suýt nữa hắn đụng phải quang gánh của những bà bán hàng rong, vội vàng hắn chạy tới đầu cầu, nơi binh lính đứng nghiêm kín mít không dễ gì chen qua nổi, mắt lại hướng về phía người cưỡi ngựa trắng đang đi tới, đôi mắt sáng ngời càng lúc càng mở to, khẽ kêu lên như một kẻ đang mộng du: “Nhị ca, đúng là nhị ca…”
Chỉ trông thấy Lý Dục vịn tay vào thành xe ngựa, đằng sau một quãng ngắn là những chiến mã cao to, bên phải là sứ giả Khiết Đan Gia Luật Văn, còn bên trái kia…, mặc dù khí chất không giống với những gì hắn nhớ trong quá khứ, nhưng dung mạo kia thì hắn không thể nhìn lầm, đúng là nhị ca…
Hắn, chính là Ngọc Lạc, là nữ giả trang thành nam, cô độc đến Bắc quốc, vượt hàng ngàn dặm để tìm dấu tích Đinh Thừa Nghiệp. Đoạn đường khó khăn vất vả, không biết phải chịu khổ thế nào mới có thể lần ra tin tức Đinh Thừa Nghiệp đang ở Thượng Kinh, dưới trướng của chỉ huy sứ bộ tộc – Gia Luật Văn. Nàng lặn lội đến Thượng Kinh, đã từng thấy Đinh Thừa Nghiệp theo bên cạnh Gia Luật Văn, nhưng cái tên Gia Luật Văn ấy bên cạnh luôn có hàng đống người bảo vệ, canh phòng kín mít, khiến nàng không có cơ hội tiếp cận.
Nàng không biết rằng, sở dĩ Gia Luật Văn cho người canh phòng như vậy là bởi hắn vẫn đang cảnh giới với Hoàng đế và Tiêu hoàng hậu. Do không thể tìm cách tiếp cận với Đinh Thừa Nghiệp, nàng hết sức buồn rầu, may thay nghe ngóng được tin Gia Luật Văn sẽ đi sứ, nàng cũng tìm cách theo đuôi đến. Tại đây, đúng là sự cảnh giới của Gia Luật Văn không kinh khủng như ở Thượng Kinh, nhưng rất lạ là từ khi đến nước Đường này, Đinh Thừa Nghiệp không mấy khi ra ngoài cùng hắn.
Mãi đến giờ Đinh Ngọc Lạc mới biết nguyên nhân, thì ra Dương Hạo cũng ở đây.
Nhìn Dương Hạo, Đinh Ngọc Lạc bất giác rơi lệ. Nàng vốn là một tiểu thư vô lo vô nghĩ, nhưng đột nhiên gặp biến cố, cha già chết thảm, đại ca tàn phế, may mắn thay nàng thoát được. Tiểu đệ mà nàng hết mực yêu thương lại trở thành kẻ thù giết cha, còn người anh cùng cha khác mẹ của nàng lại do điều tiếng thiên hạ mà coi nàng như người qua đường.
Nàng có thể chịu đựng những áp lực hành hạ, vượt ngàn dặm đến Thượng Kinh, rồi lại đến Kim Lăng, đi qua ba nước, tâm lực đã tàn. Khi nhà Đinh gặp phải đại nạn, khi đói khổ, khi không còn nơi nào để nương tựa, đều là Dương Hạo đã giúp nàng.
Nàng sớm đã coi Dương Hạo như một người anh để nàng có thể dựa dẫm, nhưng hôm nay… Chàng đang đứng trước mặt mà Ngọc Lạc lại không còn mặt mũi nào đi gặp chàng.
Đại ca đã nói, Đinh Thừa Nghiệp chính là hung thủ giết cha, hắn không những là nguyên nhân gián tiếp khiến mẫu thân Dương Hạo qua đời mà còn là kẻ thù không đội trời chung, cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến anh em bất hòa. Trước khi giết chết được hắn ta thì nàng không còn mặt mũi nào đến tạ tội với nhị ca, nàng chỉ có thể khẽ cắn chặt răng, mở to mắt nhìn Dương Hạo tiến tới gần, cách nàng vừa gần mà lại vừa xa… Tất cả những đau khổ và mệt mỏi, nàng chỉ có thể tự mình gánh chịu.
Khi đoàn nghi thức của Lý Dục rời đi, dân chúng mới bắt đầu tản đi, Đinh Ngọc Lạc đứng đơn độc trên đầu cầu, lặng lẽ cúi đầu, hai hàng lệ rơi xuống, hòa vào dòng nước sông…
************************************************** *****
Lý Dục hồi cung, đang hưng phấn về hậu cung để kể chuyện hôm nay nói chuyện với tiểu sư phụ Đức Hạnh cho Hoàng hậu nghe, thì một viên cung nhân vội vàng đuổi theo nói: “Quốc vương, hiệu thư lang Uông Hoán xin cầu kiến”.
Hiệu thư lang là người cốt cán của trường, là viên quan hiệu đính những lỗi sai, cũng không phải là chức quan gì to tát, nhưng Lý Dục thích nhất là thu thập những cuốn sách lẻ cổ đã bị thất lạc, rất xem trọng những điển tích văn chương, do vậy khi nghe Uông Hoán xin cầu kiến thì hắn cho rằng Uông Hoán lại phát hiện ra cái gì đó hay ho chăng, nên vội vàng nói: “Cho hắn vào”.
Uông Hoán vào cung, nhìn thấy Lý Dục liền nổi giận đùng đùng nói: “Thần nghe nói hôm nay đến Kê Minh tự lễ phật người đã quyên vạn tiền?”
Lý Dục vừa nghe đã biết hắn đến đây là vì cái gì, mặt liền trầm xuống, bực mình nói: “Không sai, có sao nào?”
Uông Hoán lại nói: “Thần còn nghe nói, Quốc vương thấy một hòa thượng không thanh thủ quy giới, không những không trừng phạt nặng mà còn nói chuyện trên trời dưới bể cùng hắn, còn đề chữ tặng hắn?”
Lý Dục bực mình cười: “Quả nhân ở đây hay là ở ngoài cung quả thật chuyện gì cũng không qua nổi mắt khanh. Việc lớn việc nhỏ trong cung trong chốc lát đã truyền ra bên ngoài, bên ngoài có động tĩnh gì cũng lập tức bay vào cung. Hiệu thư lang, khanh còn không quay về Tàng Thư các để chỉnh lý sách đi, còn cố ý chạy tới đây cầu kiến ta là vì chuyện này sao? Việc của ta liên quan gì đến khanh?”
Nói rồi hắn phất áo bỏ đi. Uông Hoán thấy vậy đành thất lễ, chạy theo kéo lấy áo Lý Dục mà nói: “Quốc vương dừng bước, thường nhân nịnh phật, tất nhiên là không can dự tới thần. Nhưng xã tắc Giang Nam ở trong tay người, thiên hạ đang dõi theo người, mà Quốc vương lại không chú ý câu nói, hoang đãi chính sự. Đến nạn đói năm nay dân chết đầy đường, quân thù thì dòm ngó nơi biên giới, thế mà Quốc vương lại hậu tăng bạc dân, xin hỏi người phục vụ Hoàng thất là Tăng hay là dân?”
Lý Dục biết hắn tuy là con mọt sách nhưng tấm lòng cũng trung thành và tận tâm, dù những lời hắn nói không dễ nghe nhưng cũng chỉ là nghĩ cho dân cho nước. Thấy vậy, hắn bèn an ủi nói: “Khanh vẫn còn dũng khí nói với trẫm những điều này, quả là đất nước ta còn phúc. Quả nhân tín phật cũng là để cảm hóa dân chúng hướng thiện. Khi ta xuất cung, nào ta có nhìn thấy cảnh dân chúng chết đói ngoài đường đâu, khanh nói những lời đó ngây thơ quá, tuy nhiên là do tính tình ngươi thuần phác, trẫm không trách ngươi đâu.”
Vừa nói xong hắn lại quay lưng rảo bước, Uông Hoán tiến tới trước mặt Lý Dục, đau khổ nói: “Quốc vương, ngày xưa Lương Võ Đế tín Phật, lấy máu viết Phật thư, xả thân làm nô lệ nhà Phật, cắt tóc đi tu, cuối cùng cũng chết đói trên bàn thành. Nay Quốc vương tiêu pha xa xỉ, lại thích Bồ tát, không quản chuyện chính sự lại đi mê tín vào chuyện Phật, không nghe những lời nói từ đáy lòng, thần e rằng Quốc vương sẽ rơi vào kết cục còn không bằng được Lương Võ Đế.”
Lý Dục nghe thấy Uông Hoán đem hắn so sánh cùng tên hôn quân Lương Võ Đế, trong lòng hết sức phẫn nộ, cười lạnh mà rằng: “Quả nhân đâu có dùng máu viết Phật thư, cũng không xả thân vì Phật. Liên Hành Nhân nói, vô vi mà trị, không lạm thi cực hình lệ pháp, làm sao rơi vào kết cục như Lương Võ Đế được? Thậm chí khanh nói bừa như thế, chẳng lẽ muốn giống Phan Hữu, Lý Bình hay sao?”
Phan Hữu vốn là Trung thư xá của nước Đường, Lý Bình là đại phu của nước Đường, hai người đã từng nói những điều giống như Uông Hoán hôm nay, khiến Lý Dục phẫn nộ, bị tống vào nhà giam, hai người cuối cùng phải tự vẫn trong ngục.
Uông Hoán ưỡn ngực nói: “Thần hôm nay đến, đúng là muốn giống như Phan Hữu, Lý Bình. Nếu như Quốc vương muốn giết Uông Hoán, Uông Hoán cũng nguyện xuống suối vàng kết bạn cùng Phan Hữu, Lý Bình.”
Lý Dục nghe xong cười lạnh một tiếng, ung dung nói: “Hư ngôn võng sự, mua danh chuộc tiếng”.
Uông Hoán nghe thấy vậy giận tím mặt, hắn vốn là một thư sinh bần kinh, thường không vận động mấy, nay bị Lý Dục kích động chỉ biết tức giận đến mức hoa mày chóng mặt, chân tay lạnh buốt, mắt hoa lên, cơ hồ như muốn ngất đi.
Lý Dục thấy vậy liền quay sang hai bên dặn dò: “Người đâu, mau dìu hắn đi”. Vừa nói hắn vừa đùng đùng bỏ đi. Lý Dục bị những lời nói của Phan Hữu làm hỏng tâm trạng vui vẻ của hắn, buồn bã tới hậu cung, cũng không cho người truyền báo mà lẳng lặng tiến vào, liền nghe thấy bên trong vọng ra tiếng nói của hai người đang rì rầm to nhỏ, Lý Dục liền khựng lại, dỏng tai lắng nghe…
Trong phòng có tiếng con gái: “Quốc vương đi đến Kê Minh tự dâng hương rồi? Trái tim Quốc vương thật nhân hậu, sùng tín Phật pháp, vốn bản tính của Quốc vương đã là Phật tâm rồi, không thể nào bỏ qua, nhưng nay cường địch ở bên, giang sơn nước Đường có nguy cơ bị mất, đến nước này Quốc vương nên dốc tâm xây dựng thủy quân lớn mạnh, tu sửa lại thuyền chiến, chiêu mộ anh tài, đẩy mạnh thế lực để tránh người Tống sang xâm lược từ phía Nam. Phân tâm vào quá nhiều việc thực chẳng ra sao cả. Nương nương, hiện trong dân gian có người nói nước Tống có dã tâm, không chịu để yên cho nước Đường đâu. Có rất nhiều nười nói, nước Tống đã mở rộng thành trì bên ngoài Khai Phong, đang luyện thủy quân, rõ ràng không chút che dấu, thử hỏi đại chiến hạm, luyện thủy quân như thế, nếu như không có ý với nước Đường thì là vì sao?”
Lý Dục nghe tiếng đoán người nói chính là Mạc cô nương, lần trước trái tim đa tình của hắn đã từng rung động trước Mạc cô nương, muốn nhờ cô nương viết thủ từ, ai ngờ cô ta lại không đồng ý, làm cho Lý Dục bị tổn thương. Bây giờ Mạc cô nương lại đang nói đến những chuyện của bản thân mình, Lý Dục cảm thấy hiếu kỳ, bèn muốn đứng nghe thêm xem cô ta nghĩ thế nào về mình, nên không nói lời nào, im lặng đứng phía sau bức bình phong nghe ngóng.
Chỉ nghe thấy tiếng Tiểu Chu nói tiếp: “Thực ra Quốc vương biết thừa dã tâm của nước Tống chứ, nhưng thực lực không đủ, không phải Quốc vương không thể dốc hết sức cứu vãn, nhưng nếu như huy động lực lượng lớn đi luyện binh thì e rằng sẽ là cái cớ để nước Tống lập tức xuất binh sang Đường. Đến nay Quốc vương vẫn im hơi lặng tiếng, muốn chủ động xưng thần với nước Tống là chẳng qua muốn lùi một bước, khiến bọn Tống không tìm ra cớ mà đánh nước Đường ta mà thôi.
Nước Đường ta có hơn 10 vạn binh lính tinh nhuệ, người Tống vừa không có lý do danh chính ngôn thuận, lại luyện binh trong hồ, nếu thật sự muốn đánh e rằng họ cũng không có cơ hội tốt, Triệu Khuông đâu có ngu mà không biết đánh giá điều đó? Còn về việc quân Tống cho đóng thuyền thì cũng chỉ là muốn dọa chúng ta thôi, chứ chưa chắc đã cố tình thảo phạt Đường Quốc. Hôm nay nước tống có được giang sơn nước Hán cũng cần có quân binh và chiến hạm canh giữ lãnh thổ chứ.”
Chương 357: Mây mưa sắp đến
Dương Hạo nghe thấy vậy không nhịn nổi cười, cái tên Bích Túc này quả là gan không nhỏ, chẳng phải là cao tăng gì, những lời nói của hắn đều bị Phương trượng nắm thóp, đang đứng ở kia tức khí bừng bừng mà hắn còn nói ra được. Còn vị tiểu ni cô kia cũng thật xinh đẹp, tên tiểu tử Bích Túc này cũng có mắt nhìn đấy chứ.
Lý Dục ngẫm nghĩ lời nói của Bích Túc, đột nhiên như tỉnh ra điều gì bèn quay sang nói với tiểu hòa thượng: “Tiểu sư phụ lễ Phật không lễ tục, nói cũng có lý, có thể thấy với trái tim kiên định hướng Phật như vậy tiểu sư phụ sắp đạt đến bậc cao tăng rồi. Nhưng không rõ tiểu sư phụ ở đây làm gì?”
Bích Túc đảo mắt một vòng rồi nói: “Thế Quốc vương ở đây làm gì? Tiểu tăng ở đây làm gì?”
Lý Dục cười nói: “Quả nhân hôm nay đến vốn là để lễ Phật”
Bích Túc nói: “Bần tăng ở đây cũng là để lễ Phật”
“Tiểu hòa thượng bái như vậy chẳng lẽ là thích Phật?” Lý Dục liếc vị ni cô kia một cái, câu hỏi này cơ hồ như cố ý thoát ra, nhưng thấy thân là Quốc vương, hình như không nên nói những lời này nên hắn lại ra vẻ trịnh trọng: “Quả nhân dâng hương lễ Phật, Phật trong Đại Hùng bảo điện, không biết vị sư phụ này lễ Phật ở đâu?”
Bích Túc càng bịa càng thấy vào, vung tay mà nói: “Nơi này một cành cây một cọng cỏ, điện các diêm ngói, ngài tôi cô ấy, đều có tính Phật, đều là Phật ta”.
Gia Luật Văn càng nghe càng mù mờ, không nhịn được mà cười khẩy nói: “Tiểu hòa thượng, ngươi ở đây với vị tiểu ni cô kia lôi lôi kéo kéo, đã là phạm vào sắc giới rồi, lại còn bốc phét, rõ ràng là người không tịnh, ắt hẳn là hòa thượng giả danh, ăn thịt uống rượu, muốn nói gì thì nói cũng đã là phạm tội rồi, còn đứng đó tự biên tự diễn”.
Bích Túc trợn mắt nói: “Rượu thịt đi qua dạ dày, Phật Tổ nằm lại trong tâm, cầm giới chưa chắc trong tâm đã có Phật, có Phật trong tâm chưa chắc đã phải cầm giới, đức Phật từ bi cũng không nổi trận lôi đình. Ngài ắt hẳn biết Phật tổ vốn là một vị hoàng tử, lấy vợ sinh con, ăn thịt uống rượu, thế mà vẫn tu hành ư?”
Bảo Kính đại sư quát to: “Đức Hạnh, ngươi thật to gan, thật hết cách để nói chuyện với ngươi. Đó là những chuyện Phật tổ làm trước khi thành Phật, còn sau đó đã giác ngộ bên dưới gốc bồ đề”.
Lý Dục nghĩ ngợi rồi nói: “Rượu thịt đi qua dạ dày, chỉ có Phật ở lại trong tâm. Hay! Nói hay lắm, Phật gia kiêng rượu thịt, đó là quy định có từ thời Lương Võ Đế… Khi niệm Phật thác bác hóa duyên, thi xá cái gì thì ăn cái đó, nhưng chính xác không phải là rượu thịt. Tiểu sư phụ có tính Phật, lại tuệ căn, có thể nói ra những điều ấy, rượu thịt đi qua dạ dày, chỉ có Phật ở lại trong tâm, câu này có thể nói ra quả là bậc đại thánh”.
Bảo Kính nghe thấy vua nói vậy bèn chỉ biết cung kính mà rằng: “Quốc vương Phật pháp cao thâm, có cách khiến giải khác đi, lão nạp không sao sánh bằng”.
Bích Túc thấy vua nói một câu, Bảo Kính liền nghe một câu, trong lòng thầm nghĩ: “Sư phụ của ta là đệ nhất đại sư của nhà Đường, các hòa thượng khác đều phải nghe lời ông ta, nhưng Lý Dục nói gì ông ta cũng không dám cãi lời, nếu như ta có thể leo lên cái cây này, ông ta dặn dò Thủy Nguyệt lấy ta thì ắt Tĩnh Tâm am cũng phải nghe theo”.
Nghĩ tới đây, hắn liền nảy ra ý định phàn giao với Lý Dục, bèn nói: “Quốc vương đã đến đây lễ Phật, nhìn thấy tiểu tăng rồi sao còn không bái?”
Bảo Kính kinh sợ, đang muốn trách mắng thì Lý Dục lại quay về phía hắn hành lễ nói: “Bậc sư phụ giáo dục đúng là… tín đồ Lý Dục xin được hành lễ”.
Bích Túc nhận lễ, cũng không thi lễ lại, Lý Dục thấy vậy cũng có cảm giác khó lường, chỉ cảm thấy tên hòa thượng này nói năng sắc bén… dung mạo thì khôi ngô khác thường, nói không chừng có thể là tiên đồng hạ phàm của Bồ Tát hóa thành hắn. Nghĩ vậy nên Lý Dục nhìn hắn với thái độ có đôi chút hoảng sợ.
Hai người lại nói chuyện với nhau, cũng nhân đó mà hỏi chuyện riêng của Bích Túc với vị ni cô kia. Bích Túc đã qua cơn sợ hãi, lại đang hứng khởi nói chuyện mây núi trời đất, rõ là không biết sợ ai, người bình thường ai cũng nghe ra là hắn đang nói phét, nhưng Lý Dục – kẻ thông thuộc Phật pháp thì lại cứ bị những lời nói của Bích Túc rót vào tai, thấy lời nào cũng có lý, thậm chí còn nảy sinh lòng tin phục với Bích Túc.
Hai người nói chuyện một lúc lâu, Lý Dục vẫn chưa nói hết ý nhưng do đã đến lúc phải về nên hắn lấy giấy bút chỗ Bảo Kính đại sư, viết lên một vài chữ to rồi nói: “Hôm nay được đối đáp với tiểu sư phụ, quả nhân được mở rộng tầm mắt, chữ này là quả nhân tặng cho sư phụ làm quà. Hôm sau quả nhân muốn mời sư phụ vào cung nói chuyện Phật pháp, xin tiểu sư phụ chớ từ chối”.
Dương Hạo xem ý nghĩa của chữ kia, không khỏi không thấy buồn cười. Bích Túc thì gãi gãi cái đầu trọc, nói nhỏ: “Chữ quốc vương viết ra đáng giá nghìn vàng, thật đáng tiếc… Quốc vương viết trên bức tường này thì ai cũng có thể gỡ tường ra đi bán”
Lý Dục nghe xong cười lớn, chỉ cảm thấy từng câu từng chữ của tiểu sư phụ này quả thực không tầm thường, giống như nhặt được bảo bối, hắn xem Bích Túc như bậc thần thánh.
Sau khi cung kính tiễn Lý Dục đi khỏi, Bảo Kính mới quay lại điện, nhìn thấy những chữ trên tường mà phát rầu. Thủ Tọa đại sư nghe nói Quốc vương viết lên tường, cũng hoan hỉ dẫn theo vài hòa thượng đến xem. Trên tường treo chữ, bên dưới còn có một cái lồng để bảo vệ cho ngự bút mới dán. Vừa nhìn thấy Bảo Kính đại sư đang đứng trước tường tức khí, Thủ Tọa đại sư không nén được mà nói: “Phương trượng, Quốc vương ta lấy đệ tử của Phương trượng – Đức Hạnh làm đề tài viết chữ, cái này là phúc của chùa ta, cớ sao ngài lại nhìn như thế là ra đạo lý gì?”
Bảo Kính chỉ chữ treo trên tường, mặt sầu não mà nói: “Sư huynh, huynh đến xem kĩ đi, xem xem Quốc vương nói đến điều gì?”
Thủ Tọa đại sư nhìn lên tường, chỉ thấy trên tường là những chữ rồng bay phượng múa, trên đó viết “Thiển châm đê xướng ôi hồng ỷ sắc đại sư, uyên ương tự chủ, trụ trì phong lưu giáo pháp”. Thủ Tọa đọc đi đọc lại hai lần vẫn không hiểu ý nói gì, quay sang nhìn Bảo Kính như muốn nhờ ông ta giải đáp dùm, bất giác ông “a” lên một tiếng, bối rối nói: “Cái này… cái này phải làm sao cho phải?”
“Thiển châm đê xướng ôi hồng ỷ sắc đại sư, uyên ương tự chủ, trụ trì phong lưu giáo pháp”, câu này rõ ràng là có ý nói Bích Túc muốn lấy vợ sinh con, theo đuổi ni cô, đó là điều có thể. Lý Dục hiện giờ tuy là đã mất đi đế hiệu, nhưng vẫn là Hoàng đế của Giang Nam, lời của Hoàng đế viết xuống như thánh chỉ, nào ai dám không tuân theo?
Nhất là khi trong câu này còn nói đến chủ trì, làm sao có thể vờ như không thấy. Nhưng muốn tuân theo thì chẳng lẽ phải trao chức Phương trượng cho tên Bích Túc kia? Nếu như Bích Túc làm Phương trượng thì Kê Minh Tự sẽ đi về đâu? Bảo Kính và Thủ Tọa đối mặt với nhau, cảm giác không tưởng tượng nổi Kê Minh Tự sẽ như thế nào.
Lúc này đây Bích Túc mắt la mày lém bước vào, đứng sau hai vị, cười hì hì rồi chắp tay thi lễ nói: “Sư phụ, Thủ Tọa đại sư đã mời, Kê Minh Tự vãn là đệ nhất của nước Đường. Trong tự có khoảng 3.000 tăng nhân, đệ tử có thể làm Phương trượng của chùa này không? Quốc vương đã phong cho đệ tử chức Phong lưu giáo pháp, đó cũng là Phật hiệu, trụ trì của chùa vẫn cần nhờ vào phó Phương trượng này, đệ tử…”
Hắn thấy trên đầu hắn như có bao ngôi sao sáng lấp lánh, mặt mày hớn hở mà nghĩ: “Hahaha… phen này xem nàng còn dám kháng chỉ của ta không?”
************************************************** ****
Lý Dục khởi giá, đại đội ngựa người chậm rãi hồi cung. Trên đường, bách tính bị quân lính dẹp gọn vào hai bên đường, trong đám người chen chúc đó có một khuôn mặt vàng vọt, quần áo rách rưới… chỉ có đôi mắt là trong veo như suối chảy, dáng người gày gò đi theo đoàn người cả một đoạn đường dài.
Ánh mắt của hắn nhìn chằm chằm vào sứ giả Khiết Đan như tìm tòi điều gì, dường như không tìm thấy người hắn cần tìm, hắn khẽ nhíu mày nói: “Rõ ràng là hắn có đến Giang Nam, nghe nói đó là tâm phúc của Gia Luật Văn, lẽ nào Gia Luật Văn không đem theo hắn? Chẳng lẽ hắn lại có tư cách làm bạn của Gia Luật Văn, lúc nào cũng ở bên cạnh Lý Dục?”
Hắn rảo nhanh bước đi, chạy theo một đoàn người đi phía trước, vừa tìm tòi trong đoàn nghi thức, vừa tìm kiếm dọc hai bên mà vẫn không thấy bóng dáng ấy, lại nhìn lên phía trên thì chỉ thấy đám Lý Dục và Gia Luật Văn. Ánh mắt hắn lại nhìn sang người đang cưỡi ngựa trắng bên cạnh Lý Dục, thân thể cao to cường tráng, đang mỉm cười nhìn về phía bách tính hai bên đường, chậm rãi đi qua họ.
Tên mặt vàng đó khẽ dụi mắt, đi nhanh vài bước, suýt nữa hắn đụng phải quang gánh của những bà bán hàng rong, vội vàng hắn chạy tới đầu cầu, nơi binh lính đứng nghiêm kín mít không dễ gì chen qua nổi, mắt lại hướng về phía người cưỡi ngựa trắng đang đi tới, đôi mắt sáng ngời càng lúc càng mở to, khẽ kêu lên như một kẻ đang mộng du: “Nhị ca, đúng là nhị ca…”
Chỉ trông thấy Lý Dục vịn tay vào thành xe ngựa, đằng sau một quãng ngắn là những chiến mã cao to, bên phải là sứ giả Khiết Đan Gia Luật Văn, còn bên trái kia…, mặc dù khí chất không giống với những gì hắn nhớ trong quá khứ, nhưng dung mạo kia thì hắn không thể nhìn lầm, đúng là nhị ca…
Hắn, chính là Ngọc Lạc, là nữ giả trang thành nam, cô độc đến Bắc quốc, vượt hàng ngàn dặm để tìm dấu tích Đinh Thừa Nghiệp. Đoạn đường khó khăn vất vả, không biết phải chịu khổ thế nào mới có thể lần ra tin tức Đinh Thừa Nghiệp đang ở Thượng Kinh, dưới trướng của chỉ huy sứ bộ tộc – Gia Luật Văn. Nàng lặn lội đến Thượng Kinh, đã từng thấy Đinh Thừa Nghiệp theo bên cạnh Gia Luật Văn, nhưng cái tên Gia Luật Văn ấy bên cạnh luôn có hàng đống người bảo vệ, canh phòng kín mít, khiến nàng không có cơ hội tiếp cận.
Nàng không biết rằng, sở dĩ Gia Luật Văn cho người canh phòng như vậy là bởi hắn vẫn đang cảnh giới với Hoàng đế và Tiêu hoàng hậu. Do không thể tìm cách tiếp cận với Đinh Thừa Nghiệp, nàng hết sức buồn rầu, may thay nghe ngóng được tin Gia Luật Văn sẽ đi sứ, nàng cũng tìm cách theo đuôi đến. Tại đây, đúng là sự cảnh giới của Gia Luật Văn không kinh khủng như ở Thượng Kinh, nhưng rất lạ là từ khi đến nước Đường này, Đinh Thừa Nghiệp không mấy khi ra ngoài cùng hắn.
Mãi đến giờ Đinh Ngọc Lạc mới biết nguyên nhân, thì ra Dương Hạo cũng ở đây.
Nhìn Dương Hạo, Đinh Ngọc Lạc bất giác rơi lệ. Nàng vốn là một tiểu thư vô lo vô nghĩ, nhưng đột nhiên gặp biến cố, cha già chết thảm, đại ca tàn phế, may mắn thay nàng thoát được. Tiểu đệ mà nàng hết mực yêu thương lại trở thành kẻ thù giết cha, còn người anh cùng cha khác mẹ của nàng lại do điều tiếng thiên hạ mà coi nàng như người qua đường.
Nàng có thể chịu đựng những áp lực hành hạ, vượt ngàn dặm đến Thượng Kinh, rồi lại đến Kim Lăng, đi qua ba nước, tâm lực đã tàn. Khi nhà Đinh gặp phải đại nạn, khi đói khổ, khi không còn nơi nào để nương tựa, đều là Dương Hạo đã giúp nàng.
Nàng sớm đã coi Dương Hạo như một người anh để nàng có thể dựa dẫm, nhưng hôm nay… Chàng đang đứng trước mặt mà Ngọc Lạc lại không còn mặt mũi nào đi gặp chàng.
Đại ca đã nói, Đinh Thừa Nghiệp chính là hung thủ giết cha, hắn không những là nguyên nhân gián tiếp khiến mẫu thân Dương Hạo qua đời mà còn là kẻ thù không đội trời chung, cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến anh em bất hòa. Trước khi giết chết được hắn ta thì nàng không còn mặt mũi nào đến tạ tội với nhị ca, nàng chỉ có thể khẽ cắn chặt răng, mở to mắt nhìn Dương Hạo tiến tới gần, cách nàng vừa gần mà lại vừa xa… Tất cả những đau khổ và mệt mỏi, nàng chỉ có thể tự mình gánh chịu.
Khi đoàn nghi thức của Lý Dục rời đi, dân chúng mới bắt đầu tản đi, Đinh Ngọc Lạc đứng đơn độc trên đầu cầu, lặng lẽ cúi đầu, hai hàng lệ rơi xuống, hòa vào dòng nước sông…
************************************************** *****
Lý Dục hồi cung, đang hưng phấn về hậu cung để kể chuyện hôm nay nói chuyện với tiểu sư phụ Đức Hạnh cho Hoàng hậu nghe, thì một viên cung nhân vội vàng đuổi theo nói: “Quốc vương, hiệu thư lang Uông Hoán xin cầu kiến”.
Hiệu thư lang là người cốt cán của trường, là viên quan hiệu đính những lỗi sai, cũng không phải là chức quan gì to tát, nhưng Lý Dục thích nhất là thu thập những cuốn sách lẻ cổ đã bị thất lạc, rất xem trọng những điển tích văn chương, do vậy khi nghe Uông Hoán xin cầu kiến thì hắn cho rằng Uông Hoán lại phát hiện ra cái gì đó hay ho chăng, nên vội vàng nói: “Cho hắn vào”.
Uông Hoán vào cung, nhìn thấy Lý Dục liền nổi giận đùng đùng nói: “Thần nghe nói hôm nay đến Kê Minh tự lễ phật người đã quyên vạn tiền?”
Lý Dục vừa nghe đã biết hắn đến đây là vì cái gì, mặt liền trầm xuống, bực mình nói: “Không sai, có sao nào?”
Uông Hoán lại nói: “Thần còn nghe nói, Quốc vương thấy một hòa thượng không thanh thủ quy giới, không những không trừng phạt nặng mà còn nói chuyện trên trời dưới bể cùng hắn, còn đề chữ tặng hắn?”
Lý Dục bực mình cười: “Quả nhân ở đây hay là ở ngoài cung quả thật chuyện gì cũng không qua nổi mắt khanh. Việc lớn việc nhỏ trong cung trong chốc lát đã truyền ra bên ngoài, bên ngoài có động tĩnh gì cũng lập tức bay vào cung. Hiệu thư lang, khanh còn không quay về Tàng Thư các để chỉnh lý sách đi, còn cố ý chạy tới đây cầu kiến ta là vì chuyện này sao? Việc của ta liên quan gì đến khanh?”
Nói rồi hắn phất áo bỏ đi. Uông Hoán thấy vậy đành thất lễ, chạy theo kéo lấy áo Lý Dục mà nói: “Quốc vương dừng bước, thường nhân nịnh phật, tất nhiên là không can dự tới thần. Nhưng xã tắc Giang Nam ở trong tay người, thiên hạ đang dõi theo người, mà Quốc vương lại không chú ý câu nói, hoang đãi chính sự. Đến nạn đói năm nay dân chết đầy đường, quân thù thì dòm ngó nơi biên giới, thế mà Quốc vương lại hậu tăng bạc dân, xin hỏi người phục vụ Hoàng thất là Tăng hay là dân?”
Lý Dục biết hắn tuy là con mọt sách nhưng tấm lòng cũng trung thành và tận tâm, dù những lời hắn nói không dễ nghe nhưng cũng chỉ là nghĩ cho dân cho nước. Thấy vậy, hắn bèn an ủi nói: “Khanh vẫn còn dũng khí nói với trẫm những điều này, quả là đất nước ta còn phúc. Quả nhân tín phật cũng là để cảm hóa dân chúng hướng thiện. Khi ta xuất cung, nào ta có nhìn thấy cảnh dân chúng chết đói ngoài đường đâu, khanh nói những lời đó ngây thơ quá, tuy nhiên là do tính tình ngươi thuần phác, trẫm không trách ngươi đâu.”
Vừa nói xong hắn lại quay lưng rảo bước, Uông Hoán tiến tới trước mặt Lý Dục, đau khổ nói: “Quốc vương, ngày xưa Lương Võ Đế tín Phật, lấy máu viết Phật thư, xả thân làm nô lệ nhà Phật, cắt tóc đi tu, cuối cùng cũng chết đói trên bàn thành. Nay Quốc vương tiêu pha xa xỉ, lại thích Bồ tát, không quản chuyện chính sự lại đi mê tín vào chuyện Phật, không nghe những lời nói từ đáy lòng, thần e rằng Quốc vương sẽ rơi vào kết cục còn không bằng được Lương Võ Đế.”
Lý Dục nghe thấy Uông Hoán đem hắn so sánh cùng tên hôn quân Lương Võ Đế, trong lòng hết sức phẫn nộ, cười lạnh mà rằng: “Quả nhân đâu có dùng máu viết Phật thư, cũng không xả thân vì Phật. Liên Hành Nhân nói, vô vi mà trị, không lạm thi cực hình lệ pháp, làm sao rơi vào kết cục như Lương Võ Đế được? Thậm chí khanh nói bừa như thế, chẳng lẽ muốn giống Phan Hữu, Lý Bình hay sao?”
Phan Hữu vốn là Trung thư xá của nước Đường, Lý Bình là đại phu của nước Đường, hai người đã từng nói những điều giống như Uông Hoán hôm nay, khiến Lý Dục phẫn nộ, bị tống vào nhà giam, hai người cuối cùng phải tự vẫn trong ngục.
Uông Hoán ưỡn ngực nói: “Thần hôm nay đến, đúng là muốn giống như Phan Hữu, Lý Bình. Nếu như Quốc vương muốn giết Uông Hoán, Uông Hoán cũng nguyện xuống suối vàng kết bạn cùng Phan Hữu, Lý Bình.”
Lý Dục nghe xong cười lạnh một tiếng, ung dung nói: “Hư ngôn võng sự, mua danh chuộc tiếng”.
Uông Hoán nghe thấy vậy giận tím mặt, hắn vốn là một thư sinh bần kinh, thường không vận động mấy, nay bị Lý Dục kích động chỉ biết tức giận đến mức hoa mày chóng mặt, chân tay lạnh buốt, mắt hoa lên, cơ hồ như muốn ngất đi.
Lý Dục thấy vậy liền quay sang hai bên dặn dò: “Người đâu, mau dìu hắn đi”. Vừa nói hắn vừa đùng đùng bỏ đi. Lý Dục bị những lời nói của Phan Hữu làm hỏng tâm trạng vui vẻ của hắn, buồn bã tới hậu cung, cũng không cho người truyền báo mà lẳng lặng tiến vào, liền nghe thấy bên trong vọng ra tiếng nói của hai người đang rì rầm to nhỏ, Lý Dục liền khựng lại, dỏng tai lắng nghe…
Trong phòng có tiếng con gái: “Quốc vương đi đến Kê Minh tự dâng hương rồi? Trái tim Quốc vương thật nhân hậu, sùng tín Phật pháp, vốn bản tính của Quốc vương đã là Phật tâm rồi, không thể nào bỏ qua, nhưng nay cường địch ở bên, giang sơn nước Đường có nguy cơ bị mất, đến nước này Quốc vương nên dốc tâm xây dựng thủy quân lớn mạnh, tu sửa lại thuyền chiến, chiêu mộ anh tài, đẩy mạnh thế lực để tránh người Tống sang xâm lược từ phía Nam. Phân tâm vào quá nhiều việc thực chẳng ra sao cả. Nương nương, hiện trong dân gian có người nói nước Tống có dã tâm, không chịu để yên cho nước Đường đâu. Có rất nhiều nười nói, nước Tống đã mở rộng thành trì bên ngoài Khai Phong, đang luyện thủy quân, rõ ràng không chút che dấu, thử hỏi đại chiến hạm, luyện thủy quân như thế, nếu như không có ý với nước Đường thì là vì sao?”
Lý Dục nghe tiếng đoán người nói chính là Mạc cô nương, lần trước trái tim đa tình của hắn đã từng rung động trước Mạc cô nương, muốn nhờ cô nương viết thủ từ, ai ngờ cô ta lại không đồng ý, làm cho Lý Dục bị tổn thương. Bây giờ Mạc cô nương lại đang nói đến những chuyện của bản thân mình, Lý Dục cảm thấy hiếu kỳ, bèn muốn đứng nghe thêm xem cô ta nghĩ thế nào về mình, nên không nói lời nào, im lặng đứng phía sau bức bình phong nghe ngóng.
Chỉ nghe thấy tiếng Tiểu Chu nói tiếp: “Thực ra Quốc vương biết thừa dã tâm của nước Tống chứ, nhưng thực lực không đủ, không phải Quốc vương không thể dốc hết sức cứu vãn, nhưng nếu như huy động lực lượng lớn đi luyện binh thì e rằng sẽ là cái cớ để nước Tống lập tức xuất binh sang Đường. Đến nay Quốc vương vẫn im hơi lặng tiếng, muốn chủ động xưng thần với nước Tống là chẳng qua muốn lùi một bước, khiến bọn Tống không tìm ra cớ mà đánh nước Đường ta mà thôi.
Nước Đường ta có hơn 10 vạn binh lính tinh nhuệ, người Tống vừa không có lý do danh chính ngôn thuận, lại luyện binh trong hồ, nếu thật sự muốn đánh e rằng họ cũng không có cơ hội tốt, Triệu Khuông đâu có ngu mà không biết đánh giá điều đó? Còn về việc quân Tống cho đóng thuyền thì cũng chỉ là muốn dọa chúng ta thôi, chứ chưa chắc đã cố tình thảo phạt Đường Quốc. Hôm nay nước tống có được giang sơn nước Hán cũng cần có quân binh và chiến hạm canh giữ lãnh thổ chứ.”
Chương 358: Phong Mãn Lâu
Mạc Thu Nương thở dài nói: “Dã tâm hại người có thể có…nhưng phòng ngừa tâm địa con người thì không thể không có. Đúng là nhà Đường có 10 vạn binh tinh nhuệ, hơn nữa còn địa lợi, giỏi thủy chiến, không khó đánh một trận thực lực cho nhà Tống yếu thế. Hàng năm chúng ta xưng thần cống nạp, số tiền đã lên đến hơn 10 vạn lượng, bên kia có thêm được một phần thì chúng ta giảm đi một phần. Cứ như thế này thì thực lực hai bên ngày càng cách biệt, điều này chẳng phải là cổ vũ uy phong người Tống mà làm mất nhuệ khí quân ta đó sao?”
“Ôi! Không xưng thần cống nạp, Quốc vương làm sao có thể mù mịt được như thế. Muội cuối cùng cũng chỉ là nữ nhi, đừng có thiển cận…” Tiểu Châu thở dài một tiếng, rồi lại nói: “Có điều muội tuy là nữ nhi, không giỏi thi từ ca phú, son nữ hồng, mà lại thích bàn chuyện đại sự quốc gia, thật đúng là khác người”.
“À… Thu Nương sinh sống trong cửa nhà thế gia, thường xuyên thấy cậu và bố luyện binh, bàn chuyện quốc gia nên mới thấy hứng thú với những chuyện thế này”.
Tiểu Chu nghe xong cười hì hì mà nói: “Dù nói như vậy, nhưng muội cũng chỉ là nữ nhi. Bận tâm lắm làm gì, chúng ta làm sao có thể giúp gì cho việc đại sự? Muội quan tâm đến nhà Đường và Quốc vương như vậy, là do khai trí, hay là… muội có ý gì với Quốc vương?”
Lý Dục chợt giật nảy mình, không kìm được mà tiến lên hai bước, nghe Mạc cô nương nói: “Nương nương lại trêu ghẹo Thu Nương rồi, Thu Nương thân là người nước Đường tất nhiên phải lo cho nước Đường. Tôn trọng Quốc vương, đấy cũng là một bổn phận của người dân bình thường, Thu Nương sao dám có tơ tưởng gì với Quốc vương.”
Lý Dục thấy trong lòng trống rỗng… Tiểu Chu nghe xong cười mà rằng: “Muội không cần phải che giấu, mỗi lần ngồi cùng bản cung nói chuyện phiếm, người đều không nói gì khác ngoài chuyện Quốc vương. Chẳng lẽ ngươi tưởng ta không đoán ra tâm tình của ngươi sao? Ta không phải là người hay ghen tị, trong số các cung tần mỹ nữ, người xem ta có bao giờ bực mình với họ đâu, huống chi ta và ngươi như chị em tâm đầu ý hợp như thế”.
Chiết Tử Du không biết nên khóc hay nên cười, bất đắc dĩ nói: “Nương nương… đúng thật là hiểu lầm Thu Nương rồi. Quốc vương có trong tay cả giang sơn Giang Nam, biết bao người dân, nhất cử nhất động của Quốc vương đều đại diện cho nhất cử nhất động của nước Đường, nói về chuyện quốc sự của Giang Nam chẳng lẽ lại không nhắc đến Quốc vương? Thực không phải… thực không phải nhi nữ có tư tình…”
“Hihi, xem bộ dạng xấu hổ của Thu Nương thật đáng yêu quá. Đến bản cung còn động lòng huống hồ là Quốc vương, ngài còn viết cho ngươi một phú từ để bày tỏ…”
“Nương nương!”
“Được rồi được rồi, ta không lôi chuyện này ra trêu ngươi nữa. Thu Nương, ngươi có thích vua Đường hay không, chuyện này không đề cập tới, nhưng không biết trong mắt ngươi vua Đường là người thế nào?”
“Cái này…”
“Chúng ta là tỷ muội có gì chẳng nói với nhau, muội cứ nói đi, không cần phải ấp úng”
“Vâng… Trong mắt Thu Nương thì Quốc vương dáng vóc không tầm thường, tài hoa hơn người, văn võ song toàn, thông âm luật, bản tính tốt, trước sau chẳng có ai bằng…”
Tiểu Chu cười nói: “Muội khen Quốc vương như thế thật ngoài dự liệu của ta đấy”
Đằng sau tấm bình phong, Lý Dục nghe thấy à như mở cờ trong bụng. Nếu không sợ làm kinh động đến mỹ nhân thì hắn chẳng đã nhẩy cẫng lên rồi.
Tử Du nghe thấy vậy liền nói: “Là người chẳng có ai hoàn hảo. Vua Đường cái gì cũng tốt, có điều nói về chuyện đại sự thì thiếu khí phách, hiểu cầm kỳ thi họa cũng vẫn không đủ để đem đến bình an cho nước Đường, quân sự và chính trị mới là phương pháp để đánh thắng. Nếu như Quốc vương không là vua thì ắt sẽ là đệ nhất tài tử Giang Nam, nhưng Quốc vương là người đứng đầu một nước mà chú tâm vào thi ca đền đạo, lơ là việc quốc sự, đó không phải là hạnh phúc của Quốc vương, lại càng không phải là hạnh phúc của Giang Nam.”
Lý Dục nghe thấy liền tự nhủ: “Chẳng trách ngày ấy ta bảo viết tặng nàng một bài thơ nàng không thèm, hóa ra là vì nàng sinh ra trong cửa thế gia, nên nàng thích mẫu đàn ông dọc ngang trên lưng ngựa, đi chinh phục thiên hạ. Nếu nói như vậy thì Triệu Khuông ắt hẳn sẽ là người anh hùng trong mắt nàng, sợ rằng nếu bây giờ ta mới bắt đầu học võ công thì xương cốt đã cứng mất rồi. Xoa xoa cái bụng mình, Lý Dục khẽ thở dài.
Tiểu Chu khẽ nói: “Muội muội, muội đừng trách Quốc vương, cần phải biết Quốc vương vốn là vị vua vô vi chi tâm, năm vị huynh trưởng đều sớm qua đời, ngôi vị hoàng đế này mới không thể không rơi vào đầu Quốc vương. Quốc vương cũng là do bất đắc dĩ, muội nghĩ rằng làm vua đất Giang Nam này là sung sướng lắm sao?”
Chiết Tử Du nói: “Là do thần nghe người ta nói, Quốc vương thưở nhỏ đã thích thơ từ ca phú, chán ghét chuyện kinh đạo, mới đầu cũng được phong làm thái tử. Lễ bộ thị lang Trung Mô Trác đã nói, Tòng Gia Đức chí yếu, lại khốc tín thị dân, không thể làm chủ. Còn Tòng Thiện quả dám ngưng trọng thì là có ích cho con cháu. Thế nhưng Quốc vương không cho câu nói này là đúng, ngược lại còn đày Trung Mô Trác đi ải, nương nương, có chuyện này sao?”
“Đúng vậy, nhưng chuyện này là bí mật”. Tiểu Chu nghe xong liền thở dài đáp: “Tòng Thiện, Tòng Thiện… Ôi, Quốc vương lệnh cho Tòng Thiện đi sứ nước Tống vốn là bày tỏ cho nước Tống thấy lòng kính trọng của ta, ai ngờ Triệu Khuông lại vô lễ, đem Tòng Thiện giam lỏng không thả ra, Quốc vương nghĩ đến tình huynh đệ mà luôn thấy phiền muộn. Vợ Tòng Thiện cơ thể ốm yếu suy nhược, phu quân thì lại bị tống vào tù nhà Tống khiến nàng ta ưu tư phiền muộn, thường tìm đến chỗ Quốc vương khóc lóc, khiến Quốc vương cũng khó xử. Nghe nói nàng ta hôm qua lại tiến cung, tức giận buông ra những lời bất tuân, nhục mạ Quốc vương”.
“Lại có việc này sao? Phu nhân của Quốc công lại dám to gan như vậy?”
“Làm sao lại không thể? Nội thị trong cung đều tận mắt nhìn thấy, lẽ nào còn là giả? Quốc vương nhân hậu, dù bị bà ta mắng chửi tức khí đến ộc máu cũng không hề trách bà ta, còn triệu thái y vào cung bốc thuốc chữa trị cho bà ta, đợi bà ta ổn định rồi mới đưa bà ta về phủ. Không giấu gì ngươi, Quốc vương đã sáu lần viết thư sang nước Tống để đòi lại Tống Thiện, nhưng triều đình nhà Tống nhất quyết không thả người thì biết làm sao?”
Chiết Tử Du trầm xuống, khẽ thở dài: “Người Tống giam giữ Trịnh Vương là có ý đồ gì? Lẽ nào Quốc vương không nhìn ra ý đồ của người Tống hay sao? Theo thần nghĩ, Quốc vương là một tài tử thì không ai bằng, nhưng làm một đức vua thì e rằng sẽ có ngày sai lầm. Không kể Quốc vương có muốn làm vua Giang Nam hay không, nhưng đã là vua rồi thì nên quan tâm đến việc chính trị đi chứ”.
Lý Dục nghe đến đây tức giận đùng đùng, lao vào phòng nói: “Ta xưng thần với nước Tống thực ra là vì thực lực của ta không bằng Tống, là do ta suy nghĩ cho bách tính. Ta không ngại cúi đầu liếm cánh, cốt sao để tránh thương vong. Mạc cô nương, ngươi sợ điều gì?”
“Mạc nhi khấu kiến Quốc vương”. Vừa nhìn thấy Lý Dục bước vào, Chiết Tử Du vội vã đứng dậy, đứng theo sau Tiểu Châu thi lễ, “Không biết Quốc vương giá đáo, thần không kịp tiếp đón từ xa,xin người thứ tội. Thần… thần không có ý bất kính với Quốc vương”.
Trong triều văn võ bá quan khuyên gián, Lý Dục có thể không cần để tâm, nhưng để một cô nương liễu yếu đào tơ xem thường mình, lại là người mà hắn thích thì làm sao mà chịu được, bèn làm mặt lạnh nói: “Nay ta nhẫn nại, do lực ta không bằng Tống, chứ không phải khiếp sợ bọn chúng. Quả nhân dù là văn nhân nhưng cũng có một trái tim của một viên võ tướng, sẽ có ngày nếu nước Tống có dũng khí xâm lược Đường quốc ta, quả nhân nhất định sẽ thân chinh ra trận, mặc áo giáp, tử chiến đến cùng để giữ gìn giang sơn xã tắc. Nếu như không bảo toàn được non sông ta cũng sẽ tự thiêu, quyết không làm ma xứ người.”
Những lời nói này thể hiện rõ niềm phẫn nộ, Tiểu Chu đứng sau lộ ra vẻ vui mừng rõ rệt, nói: “Quốc vương đúng là người dũng cảm, bản cung vốn biết Quốc vương có tư thế anh hùng”.
Chiết Tử Du nhìn thật sâu vào mắt Lý Dục, cúi đầu tạ tội nói: “Mạc nhi không biết được chiến lược của Quốc vương, nói năng hồ đồ, mạo phạm đến Quốc vương, xin được thứ tội”.
Lý Dục nhìn thấy ánh mắt Mạc Thu Nương có nét vừa như ngưỡng mộ vừa như hâm mộ, dường như nàng còn vui sướng hơn rất nhiều khi được Lý Dục tặng thơ lần đầu, ánh mắt đó khiến Lý Dục như trẻ ra đến mười tuổi, không nén được tiếng cười vang: “Đứng lên đi, Lâm tướng quân trung thành tận tâm bảo vệ Tổ quốc và thần dân, ngươi là cháu gái của tướng quân quả cũng không thiếu hào khí, quả nhân rất vui khi nghe được những lời nói từ đáy lòng như vậy. Nghe đương nhiên là không vui, nhưng Thái tông Hoàng đế cũng chính là tấm gương, ta tất nhiên không bằng Thái tông, nhưng lẽ nào không nghe được những lời của ngươi không phải là phản nghịch mà là tận trung hay sao?”
Chiết Tử Du thản nhiên cười, nàng và Tiểu Chu đều là những người phụ nữ khiến Lý Dục rung động, hắn muốn đỡ nàng, nhưng Chiết Tử Du đã đứng dậy, lại hành lễ nói: “Đa tạ lòng khoan dung của Quốc vương, Quốc vương hồi cung đúng lúc thần và nương nương đang nói chuyện, Mạc nhi xin cáo lui. Quốc vương, nương nương, thần…”
“À, không cần..” Lý Dục vội nói, vừa nãy hắn còn tỏ ra là mình để ý đến chuyện quốc sự trước mặt nàng, nay chẳng lẽ lại chuồn vào hậu cung nói chuyện phiếm, đứng giữa hai mỹ nhân, hắn đành nói: “Ta có việc phải đi, ta đã ra lệnh cho Trần Kiều vào cung, cùng bàn chuyện quốc gia đại sự, bây giờ phải quay về điện ngay, ngươi cứ ở lại trò chuyện cùng nương nương…”
Nói rồi hắn quay sang liếc Tiểu Chu một cái, quay người đi mất, bỏ lại Tiểu Chu và Chiết Tử Du thi lễ đằng sau: “Cung tiễn Quốc vương”.
Lý Dục vô cùng hả hê vì đã khiến được hai người đẹp phải động lòng, chỉ cần nói vài câu quốc gia đại sự đã khiến ánh mắt nàng ngưỡng mộ đến nhường ấy, thật điều đó đã khiến Lý Dục tự cao đến cực độ, hắn nhanh chân rời khỏi hậu cung, sai người gọi Trần Kiều đến Thanh Lương điện.
Chịu ảnh hưởng của Chiết Tử Du, gần đây Tiểu Chu Hoàng hậu cũng bắt đầu hứng thú với chuyện nước, lời người khác Lý Dục nghe không lọt tai, nhưng lời của Tiểu Chu Hoàng hậu thì hắn luôn để trong lòng. Sau vài lần nghe, hắn cũng ý thức được nguy cơ của nước Đường, lúc nào cũng phải suy nghĩ đến tình cảnh của nước Đường và lối đi trong tương lai.
Nếu như muốn chủ động tấn công Tống, hắn tuyệt nhiên không dám, nhưng nếu như gia tăng lực lượng phòng bị thì hắn lại không có ý kiến. Trước nay nếu như có bất kỳ hành động nào hắn cũng đều sợ sẽ làm nước Tống bất mãn, nay sứ giả Khiết Đan lại đang muốn liên minh với nhà Đường, xa hô tương ứng, một Nam một Bắc hiệp lực khống chế quân Tống, như thế thì quân Đường sẽ chẳng còn sợ gì nữa. Thật tâm mà nói, hắn cũng không muốn chịu lép vế trước nhà Tống, nếu như có được cách khác thì hắn sẽ quyết định nhanh, như là…thương lượng nhanh về vấn đề này, đường đường là người đứng đầu một nước, há để cho nữ nhi khinh bỉ?
************************************************** *********
Biện Kinh, Hoàng Nghi điện.
Tuyết vừa rơi một trận lớn, màu trắng bạc phủ khắp nơi, cả thành phủ một màu trắng, tiết trời như vào xuân. Triệu Khuông đang ngồi cùng đám đại thần bên bếp lò, vừa ăn lẩu vừa nói chuyện quốc sự.
Người đang nói chậm rãi kia chính là Lư Đa Tốn, từ sau khi Triệu Phổ rời kinh, Lư Đa Tốn đã được lên chức Trung thư thị lang học vị hàn lâm, đứng hàng Tể tướng, hắn là người hiểu rõ tâm tính của Triệu Khuông nhất, mỗi lời hắn nói đều đánh vào đúng chỗ ngứa của Triệu Khuông. Nay đã chính thức thay thế vị trí của Triệu Phổ, trở thành người phát ngôn tận tâm nhất của Triệu Khuông.
Hắn nói quên trời đất, trán đẫm mồ hôi, phải cởi bỏ áo khoác ngoài. Vương Kế Ân lập tức tiến đến trước, Lư Đa Tốn mỉm cười, quay lại tiếp tục nói: “Nay ở đất Thục có người dấy binh làm loạn, ở nơi đó địa hình hiểm rở, rừng rậm um tùm, vừa là chỗ tạp cư hỗn tạp, nếu muốn đến đó bình định thì phải mất nửa ngày mới xong. Mân Nam vừa mới quy về, muốn được lòng của dân cư nơi đó thì phải bình định được đất, khiến cho lòng dân quy thuận về Tống, cũng có lẽ cần một khoảng thời gian.
Trong tình hình này, nếu như chúng ta cần phải tu chỉnh lý để lấy lòng dân chúng, gia tăng sức mạnh quân đội, hòa hảo với dân tộc Khương ở phía Tây, phía Bắc chống quân Khiết Đan, đợi khi tất cả đã sẵn sàng, chúng ta sẽ đánh nước Đường, quy hết về một mối, nếu như đợi được đến ngày này thì nhanh cũng phải mất khoảng 3, 4 năm. Sau đó…”
“Sau đó chúng ta không đợi nữa, Trẫm, không cách nào đợi được đến lúc đó”.
Triệu Khuông tiếp lời, lá thư cầm trong tay run lên, trầm giọng nói: “Trẫm vừa nhận được tin, người Khiết Đan đã đem thủ lĩnh bộ tộc Gia Luật Văn đi sứ sang nước Đường, mà Tiêu hoàng hậu lại đang xóa sổ vây cánh của hắn ở trong cung, gài thân tín của bà ta vào, Trẫm cũng đang khá lo lắng”.
Hắn nhấp một ngụm rượu, vuốt râu, đảo mắt một lượt khắp các trọng thần đang ngồi xung quanh, chỉ tay nói: “Thứ nhất, Gia Luật Văn đi sứ sang nước Đường, quả nhiên là Tiêu Xước đang dùng kế điệu hổ ly sơn, cũng không biết có khả năng người Khiết Đan coi trọng nước Đường hay không, lẽ nào chúng muốn liên minh với Đường?
Thứ hai, nước Tống ta Nam phạt, là nỗi uy hiếp lớn nhất của phương Bắc, khi chúng ta đánh nước Hán, dù Trẫm đã đạt được mục đích nhưng cho đến nay nước Hán đã danh tồn thực vong, sắp tàn lụy rồi, nhưng do sự can thiệp của người Khiết Đan mà rốt cuộc cũng không sụp đổ. Vài năm gần đây trong nội bộ phương Bắc rối loạn không ngừng, gây cho Trẫm rất nhiều bất lợi. Đến nay Tiêu Xước đã bắt đầu động thủ, rõ ràng là bà ta đã nắm chắc thực lực trong tay, ít nhất thì cũng đã có thể thống trị bộ tộc của hoàng đế.
Nếu như bà ta thành công thì chúng ta không thể coi thường dân Khiết Đan được đau, lúc đó Trẫm lại tiến hành Nam phạt thì đại bộ phận quân đội ta đến từ phương Bắc sẽ bị uy hiếp. Phải biết rằng quân đội nhà Đường có 10 vạn, lại thiện chiến đường thủy, nếu như dùng binh mã ít thì nước Tống ta rất khó giành thắng lợi. Đặc biệt là trong chiến tranh, một khi chiến sự trì hoãn lâu thì e rằng sẽ có nhiều biến đổi, dân nước ta sẽ rơi vào bể lầm than, nếu như lặp đi lặp lại thì sẽ không tránh khỏi dẫm phải vết xe đổ của Tùy Diễm khi phạt Cao Ly”.
Nói rồi hắn thắt chặt lại thắt lưng, trầm giọng nói: “Là do trẫm đang cân nhắc nên tấn công sớm hay muộn, hay là cứ sớm chinh phạt được nước Đường cho thỏa đáng? Trẫm đã quyết rồi, tháng 3 sang năm, chúng ta sẽ nổi binh đánh Đường, các khanh có ý kiến gì không?”
Đã trở về từ Mân Nam, kế tiếp lại Lý Sùng Củ, Tào Bân – người tiếp quản nhiều sứ mệnh nói: “Quan gia, nước Tống ta khi chinh phạt nước Hán, quân Khiết Đan đã từng xuất binh cản trở. Khi tấn công Nam Hán cũng do quân Khiết Đan không vãng lai cùng Nam Hán mà nội bộ phân tranh nên không xuấ binh, nhưng nước Đường và Khiết Đan có quan hệ mật thiết với nhau, thông thương trên biển, hơn nữa nước Đường cũng là trở ngại cuối cùng của mục đích chinh phục Trung Nguyên. Nếu như nội bộ Khiết Đan không phân tranh thì Tiêu Hoàng hậu có thể kịp thời nắm binh quyền trong tay, xuất binh tiến đánh chúng ta, hoặc làm hỏng kế hoạch đánh chiếm nước Đường của ta. Do đó, thần nghĩ rằng, với người Khiết Đan tuyệt đối không thể không phòng, tránh lơ là, phái quân thiện chiến đến đóng giữ đất Bắc, sẵn sàng đương đầu với quân địch, đồng thời với trận chiến với Đường cũng cần phải tốc chiến tốc thắng, như vậy mới có thể cắt đứt những ảo tưởng của nước Đường”.
Triệu Khuông cười nói: “Khanh nói được câu ấy hợp ý Trẫm lắm. Dù phương Bắc có nội loạn nhưng cũng không thể không ngại”.
Tiết Cư Chính nói: “Bệ hạ, Hồng lư thiếu khanh đi sang sứ nước Đường cũng đã lâu mà vẫn khong thấy báo cáo gì về thủy đồ, binh lực… của Giang Nam, nếu như muốn đánh Đường thì không thế thiếu những tin tình báo quan trọng đó, nếu không e rằng sẽ phải cố hơn gấp 10 lần. Liệu có cần bảo hắn tập trung thu thập thông tin hay không?”
Triệu Khuông đáp: “Trẫm đã đọc được tin báo của Tiêu Hải Đào, Dương Hạo ở nước Đường cố ý kiêu ngạo khiêu khích, Lý Dục một mặt cố nhẫn nhịn, vẫn một lòng xưng thần, còn về mặt cách gian quân thần và phương diện nhuệ khí thì Dương Hạo cũng thu được thành công. Dương Hạo và các thần vệ quân đô chỉ huy sứ nước Đường Hoàng Phủ Kế Huân có mối giao hảo rất tốt, hy vọng hắn sẽ moi được tình hình quân sự của nhà Đường. Do nhà Đường bảo mật thông tin rất kĩ về binh lực cũng như địa thế hiểm trở của Trường Giang mà nhiều gián điệp được cử đi đều không thu về được mấy kết quả.
Trẫm đã hạ lệnh cho hắn nghĩ cách, bằng mọi giá phải thu thập được thông tin, nhưng dù có thành hay không thì sang năm chúng ta vẫn giữ nguyên kế hoạch đánh Đường, Trẫm đã quyết và sẽ không thay đổi đâu”.
Lữ Từ Khánh trầm ngâm nói: “Bệ hạ, muốn đánh nước Đường còn cần một lý do danh chính ngôn thuận nữa, nếu như nhà Đường vẫn cứ một mực xưng thần với nước ta, đồng thời cống nạp lễ vật đều đặn thì làm sao chúng ta xuất binh được? E rằng thần dân nước ta không phục, càng kích động lòng báo thù của dân Đường”.
Triệu Khuông ngửa mặt lên trời cười to: “Haha, Lý Dục chỉ tính đến cái lợi cho hắn thôi. Hắn xưng thần và cống nạp cho Trẫm cũng chỉ là muốn Trẫm không tìm ra lý do nào để đánh Đường, Trẫm nào có thể cho hắn toại nguyện. Ngươi bảo tại sao ta lại cứ phải giam lỏng Lý Tòng Thiện? Ban thưởng cho hắn, phong hắn làm quan, cho hắn ăn ngon mặc đẹp và đối xử tốt với hắn để làm gì? Chính là để cho Lý Dục nhìn thấy”.
Trong ánh mắt Triệu Khuông ánh lên vẻ giảo hoạt: “Dù hắn có xưng thần với Trẫm, trẫm cũng triệu hắn đến kinh để nói chuyện. Nếu hắn dám từ chối là hắn kháng chỉ, Trẫm có cơ hội để đánh hắn không đây?”
Lữ Từ Khánh như chợt tỉnh ngộ, hứng khởi nói: “Kế này quả là diệu kế, như vậy thì trên danh nghĩa chúng ta có thể ra tay được rồi”.
Triệu Khuông mỉm cười, vuốt vuốt chòm râu của hắn mà nói: “Trẫm đã ra lệnh cho Lý Dục đến Biện Kinh, cùng Trẫm ngắm đèn. Nếu như hắn không tới thì ta sẽ xuống chiếu năm lần bảy lượt, phải làm tốt cả nhân và nghĩa, vậy mới là tốt”. Nói rồi hắn lại ngửa mặt lên trời cười lớn.
Hắn cười đắc ý, ánh mắt chợt lóe lên, liếc nhìn thấy Tấn Vương Triệu Quang Nghĩa đang khẽ nhíu hàng lông mày, cúi đầu không nói, hắn không nén được cười hỏi: “Tấn Vương đang suy nghĩ chuyện gì thế?”
Triệu Quang Nghĩa ánh mắt lóe lên như nhập thần, không nghe thấy Triệu Khuông đang gọi hắn. Tào Bân đứng bên cạnh phải nhẹ nhàng kéo hắn một cái, hắn mới như sực tỉnh, vội vàng ngẩng đầu lên.
Triệu Khuông lại cười nói: “Tấn Vương đang suy nghĩ chuyện gì mà nhập tâm thế?”
“Hả?”
Triệu Quang Nghĩa làm quan trong phủ Khai Phong đã bao năm, thành tích lẫy lừng, chỉ duy nhất là người hay lo nghĩ, không có quân lực. Cấm quân trước sau tự thành một hệ thống, không cách nào cho hắn vào. Nay nghe nói muốn dụng binh đánh Đường, có lẽ sẽ là trận đánh cuối cùng để thống nhất Trung Nguyên. Triệu Quang Nghĩa lúc này đây càng phải suy nghĩ nhiều bộn phần, nhưng những gì hắn nghĩ làm sao có thể nói rõ ràng với Triệu Khuông được đây? Sau một hồi do dự, hắn mới tìm bừa một lý do nào đó, từ từ nói: “Bệ hạ, thần chỉ đang nghĩ trong giới quan võ Nam Đường thì chỉ có mình Lâm Hổ Tử là khó trị. Hắn rất thiện chiến, có tài binh lược, không cái gì không biết, nếu đánh với hắn thì mình hắn mạnh bằng bốn người, có dũng khí nghênh tiếp hàng vạn địch, chặn bước đường của đại quân Thế Tống Đại, thực lực rất lớn. Hôm nay hắn tiết độ trấn hải, trong tay lại nắm 10 vạn binh thì nước Tống chúng ta muốn thâu tóm Giang Nam cũng phải qua được hắn. Nếu chúng ta trị được hắn thì chẳng khác nào xoay chuyển được thế lực của mười vạn quân địch”.
Triệu Khuông nhíu mày nói: “Trước hết phải loại trừ Lâm Hổ Tử? Hừ, cách nghĩ này thật viển vông quá. Trong tay nắm nhiều trọng binh, hà tất phải nói giết là giết? Hắn giỏi võ, lại là cư binh trong doanh trại, dù có đi đâu ắt cũng có người đi theo hắn, làm sao chúng ta ra tay được?”
Triệu Quang Nghĩa cố tìm được từ để nói, lúc này đây không thể không nói tiếp, bèn chỉ biết cứng đầu nói: “Muốn nghĩ ra cách để diệt trừ hắn ắt không dễ, nhưng cũng không khó bằng việc đấu với 10 vạn tướng thủy binh của hắn chứ? Thần thiết nghĩ, chính là muốn giết hắn như thế nào thì thần cũng có cách, nhưng không biết có được hay không”.
Triệu Khuông nhìn thật sâu vào mắt hắn, cười nói: “Tốt lắm. Vậy Tấn Vương có thể nghĩ ra được nhiều thứ ở nhiều phương diện, nếu chúng ta hành động giết chết đại tướng số một của triều Đường thì coi như đã thành công một nửa rồi. Tấn Vương, mau lập tức đến bình định Giang Nam”.
“Thần xin lĩnh chỉ”. Triệu Quang Nghĩa cung kính đáp trả, trong lòng không khỏi kêu khổ thầm.
Chương 359: Mỹ nhân đã đến
Tiêu Hải Đào vội vã đi vào chỗ ở của Dương Hạo, kích động nói: “Đại nhân, triều đình có tin tức”.
Dương Hạo hỏi: “Triều đình nói sao?”
Tiêu Hải Đào nói: “Phong thư này là của vua đích thân viết cho Quốc vương Giang Nam, còn yêu cầu đại nhân đọc cho Quốc vương Giang Nam nghe, đại ý là muốn mời mua Giang Nam đến Biện Kinh cùng đón lễ Thượng Nguyên với Hoàng đế”.
Lễ Thượng Nguyên cũng là tết Nguyên Tiêu, vốn có từ Tam nguyên nhật của đạo giáo. Do người xưa thường dĩ dạ vi tiêu nên nhân gian gọi đó là tết Nguyên Tiêu, mà phương Bắc người Khiết Đan gọi là “phóng thâu nhật”. Dương Hạo nghe nói xong lắc đầu cười nói: “Lý Dục sẽ không đi đâu, hành động này của bệ hạ là muốn đem quân đánh, để tránh Lý Dục lúc này lúc khác lại viết mục thư đòi thả Lý Tòng Thiện”.
Tiêu Hải Đào cười nói: “Đại nhân nói phải. Còn một phong thư khác là thư mật bệ hạ giao cho đại nhân và hạ quan, trong phong thư này có nhắc đến chuyện đi sứ hết sức kỳ quái, hạ quan xem đi xem lại mà vẫn không hiểu, mời đại nhân xem thử xem”.
Dương Hạo đón lấy bức thư, xem kĩ càng từ đầu chí cuối một lượt, rồi sau đó giơ lên ngọn đèn đốt cháy lá thư đó thành những mảng tro đen bay phất phơ như những con bướm đen mà trầm mặc không nói câu gì.
Tiêu Hải Đào không kiềm chế được mà hỏi: “Đại nhân, bệ hạ nếu như muốn có ảnh chân dung của Tiểu Chu Hoàng hậu thì còn có thể hiểu được, chứ Lâm Nhân Triệu nào có phải là tuyệt thế giai nhân gì, bệ hạ muốn có chân dung ông ấy làm gì kia chứ? Đại nhân thử nghĩ xem điều đó có ý nghĩa gì?”
Dương Hạo ánh mắt như có lửa, nói: “Ý của bệ hạ bản quan có đoán cũng không nổi. Bệ hạ đã ra lệnh như thế thì chúng ta cứ thế mà làm. Chuyện bức họa chân dung Lâm Nhân Triệu giao cả cho khanh, xem xem có thể lấy được ở nhà họ Lâm hay không. Nếu như không thể thì thuê họa sĩ, kiếm cớ đi Trấn Hải để xem dung mạo Lâm Nhân Triệu thế nào, xem cho kĩ rồi về Khai Phong vẽ lại. Còn về việc tìm kiếm thủy đồ địa lý và lực lượng quân phòng thì cứ để ta nghĩ cách”.
“Thần rõ ạ”, Tiêu Hải Đào cung kính đáp và lui ra ngoài.
Những ý nghĩ trong đầu Dương Hạo cháy rực như ánh nến, bay phất phơ theo bóng Tiêu Hải Đào, rồi lại bay thẳng lên trên. Hắn hít vào một hơi thật sâu, tự nói với chính mình: “Triều đình muốn lấy mạng Lâm Nhân Triệu! Tất cả quả nhiên là không thay đổi, người phải chết sẽ bị chết, người cần đến sẽ đến, cuộc chiến với nước Đường sắp bắt đầu rồi, Tử Du có lẽ cũng sắp phải quay về Phủ Châu đi thôi. Diễm Diễm, Oa Oa, các nàng bao giờ mới đến?”
************
Sau khi Dương Hạo đọc chiếu thư cho Quốc vương Giang Nam nghe, hắn cười hì hì mà rằng: “Quốc vương, bệ hạ nước tôi thực lòng hy vọng sẽ được đón tết Nguyên Tiêu cùng ngài, không rõ Quốc vương bao lâu nữa khởi hành?”
Lý Dục nghe nói Triệu Khuông muốn mời mình đến Biện Lương đón Tết Nguyên Tiêu xem hội đèn thì mặt biến sắc. Tửu vô hảo yến, ly rượu này của Triệu Khuông uống sao nổi đây? Lý Tòng Thiện đến giờ vẫn còn bị giam lỏng không về được, ngày ngày lấy nước mắt rửa mặt, hại hắn bây giờ đến mặt vợ của huynh đệ cũng không dám nhìn mặt, làm sao hắn còn dám tự chui đầu vào lưới.
Lý Dục từ chối ngay: “Xin nhờ Dương trái sứ về nói với bệ hạ hoàng đế, Lý Dục gần đây bị mắc bệnh nhẹ, sức khỏe không được tốt lắm, lại thêm khí hậu phương Bắc lạnh lẽo, e rằng không chịu được quãng đường xa xôi. Ý tốt của bệ hạ Lý Dục xin khắc cốt ghi tâm, về sau nếu còn cơ hội thì hạ thần sẽ đích thân đến. Tết Nguyên Tiêu này mong bệ hạ cho phép Lý Tòng Thiện thay mặt Lý Dục thi lễ”.
Mặt Lý Dục lúc này đã nửa xanh nửa trắng, nhìn giống như người đang lâm trọng bệnh. Dương Hạo mỉm cười, cuộn chiếu thư lại giao cho nội thị, cũng không thúc giục mà còn lấy trong túi áo ra một phong thư khác đọc: “Quốc vương, trong này còn có một lá thư khác, là do Trung thư thị lang của nước Tống chúng tôi, Lư Đa Tốn đại nhân đích thân viết, xin dâng Quốc vương xem”.
Lư Đa Tốn và Tiết Cư Chính, Lữ Từ Khánh đều là tể tướng trong triều. Triệu Khuông nghe theo lời của Triệu Phổ, đem chức tể tướng chia làm ba, hình thành nên ba cỗ xe ngựa nha môn tể tướng, có điều trong ba người thì rõ ràng Lư Đa Tốn được sủng ái nhất. Nghe đến tên hắn, Lý Dục cũng không dám khinh thường, sai người đón lấy lá thư, chưa chờ mở ra đã hỏi thăm dò: “Không biết tướng công định nói chuyện gì? Trái sứ có biết đôi chút chứ?”
Dương Hạo ung dung cười nói: “Cái này, ngoại thần có biết một, hai, nay nước Đường đã quy thuận Tống Quốc, Trung nguyên đã thống nhất, triều đình muốn vẽ lại bản đồ nước Tống. Lư tướng công được giao nhiệm vụ vẽ bản đồ các đường kinh hồ, đất đai từ đây nối đến Biện Lương. Lư Tướng công hy vọng rằng Quốc vương có thể cung cấp rõ ràng số dân Giang Nam, thuế phú, thành trì… càng nhanh đưa về Biện Lương càng tốt, để tránh trì hoãn công việc của đại Tống.
Lý Dục thở phào nhẹ nhõm, không nghĩ gì mà rằng: “Chuyện này đơn giản thôi, quả nhân nhất định sẽ đưa thông tin tỉ mỉ chính xác về địa lý Giang Nam cho trái sứ”.
Hắn thấy Dương Hạo vừa nói chuyện vừa như vẫn đang nắm giữ vật gì đó trong tay, bèn không khỏi hãi hùng, chỉ sợ hắn lại lôi ra một chiếu thư khác yêu cầu gì đó, vội hỏi: “Trái sứ đang cầm gì trong tay thế, có phải là một chiếu thư khác không?”
Dương Hạo ngây người, nhấc tay áo lên cười to nói: “Quốc vương hiểu lầm rồi, thần đang học theo cách tín Phật của Quốc vương, cũng bắt đầu có hứng thú với đạo Phật rồi. Trong ta áo thần chẳng qua là một chuỗi hạt thôi”.
Lý Dục nhìn kỹ, thấy vật trong tay Dương Hạo quả nhiên là một chuỗi tràng hạt, vừa nói hắn vừa lần tràng hạt không ngớt, Lý Dục mới thở phào nhẹ nhõm. Hắn tín Phật, chỉ hận nỗi giá mà mọi người trong thiên hạ đều tín Phật thì tốt. Vừa nhìn thấy Dương Hạo theo Phật, trong lòng Lý Dục đã thấy thích thú, cơ hồ như đã xích lại gần hắn thêm một chút. Thấy Dương Hạo vừa lầm rầm niệm châu, hắn cười tươi nói: “Chuỗi tràng hạt đó không phải là vật quý báu gì, e có phần mộc mạc quá. Ở đây quả nhân có chuỗi tràng hạt của Phật gia Thất Bảo Kim, Ngân, Lưu Ly, Sa Bà Trí Già, Mỹ Ngọc, Xích Châu, Hổ phách… tạo thành. Là bảo vật của Phật giới tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, có thể che chở cho con người. Ta tặng nó cho trái sứ”.
Nội thị dùng hai tay đỡ lấy, đưa đến trước mặt Dương Hạo. Dương Hạo từ chối hai ba lần rồi mới nhận, ngắm nghía chuỗi tràng hạt được kết thành từ bảy món đồ cực quý. Quả nhiên là một báu vật, hắn vừa cuống quýt cảm ơn, mặt cũng hòa hoãn được đôi chút. Quay sang nhìn Lý Dục, cười hì hì mà rằng: “Quốc vương bị nhiễm bệnh nhẹ, sức khỏe không tốt, lại thêm khí hậu có lẽ không hợp, quả không phải hư ngôn. Thần sẽ giải thích rõ ràng với Quốc vương. Chỉ có điều, Lư tướng quân vừa mới được trọng dụng, hy vọng có thể sang sứ một chuyến, đây cũng là việc thường tình mà Giang Nam nên làm, nếu không ngộ nhỡ việc vẽ bản đồ có gì sai sót thì sẽ để thiên hạ cười cho, Lư tướng quân ắt sẽ tức giận, thần… cũng không dám nói hộ bệ hạ”.
“Điều đó là tự nhiên, là tự nhiên, Dương trái sứ yên tâm, quả nhân sẽ thu xếp xử lý việc này”.
Dương Hạo mỉm cười, chắp tay thi lễ đáp: “Vậy thần xin cáo lui”.
Dương Hạo vừa đi khỏi, Lý Dục ngay lập tức đập bàn đứng dậy, những đường gân xanh trên trán hằn lên. Bản đồ giống như địa giới của một nước, đại diện cho sự tôn nghiêm của lãnh thổ quốc gia, dâng bản đồ cũng giống như dâng nước, năm đó Kinh Kha đâm Tần vương có đem theo hai lễ vật, trong đó có một tấm bản đồ nước Yên, hàm ý nước Yên đã hoàn toàn bị quy phục.
Nước Tống đang muốn có bản đồ, điều đó mang hàm ý lăng nhục. Lý Dục kiến thức uyên thâm, làm sao lại không hiểu điều đó. Thế nhưng, hắn làm sao từ chối được? Nếu như nhà Tống trực tiếp đưa ra yêu cầu vẽ bản đồ thì hắn còn có thể làm qua loa tắc trách một chút. Nhưng việc ra chiếu thư yêu cầu hắn đi Tống hắn đã từ chối rồi thì làm sao lại tiếp tục từ chối việc vẽ bản đồ Giang Nam cho được, làm vậy chẳng khác gì chọc giận Triệu Khuông.
Nghĩ đến lần hội ý cùng Từ Phong, Trần Kiều, hắn hít một hơi dài rồi thầm nghĩ: “Không nhịn nổi việc nhỏ thì sao mưu được việc lớn, đến nay quân Khiết Đan vẫn chưa có hứa hẹn che chở gì, do vậy không thế vội trở mặt với nhà Tống. Cho nên hôm nay đành phải nhịn mối nhục này, đem bản đồ Giang Nam giao cho chúng vậy”.
Ngẩng đầu lên, hắn cao giọng nói: “Người đâu!”
Một tên cung nhan vội vã đi vào, Lý Dục dặn dò hắn: “Ngay lập tức gọi nội sử thị lang đến vẽ bản đồ địa lý 19 châu của Giang Nam, sông ngòi ao hồ, hộ khẩu thuế phú… tất cả cho thật chuẩn xác, duy có chỗ đóng quân và tình hình binh lực là không có ghi chú, phải nhanh chóng hoàn thành trước tết Nguyên Tiêu để mang đến Biện Lương. Đi đi!”
Chỉ một lát sau, nội sứ thị lang Vương Hiền Văn tóc bạc phơ vội vã đi vào: “Quốc vương, thần nghe nói người định vẽ bản đồ địa lý 19 châu Giang Nam dâng tặng cho vua Tống?”
Lý Dục tức giận nói: “Quả nhân cũng không phải là đã sai người nói rõ cho ngươi rồi sao? Còn đến hỏi quả nhân làm gì? Mau đi hoàn thành đi, đừng trì hoãn thời gian nữa”.
Nội sử thị lang Vương Hiền Văn chau đôi mày trắng muốt, trầm giọng nói: “Bản đồ địa lý đại diện cho lãnh thổ và dân chúng của một nước, nước Đường ta tuy xưng thần với nước Tống, nhưng chỉ là lệ thuộc vào Tống thôi chứ đâu có dễ để mất lãnh thổ và cư dân như thế? Tấm bản đồ này mà dâng tặng thì coi như ta đã dâng nước Đường cho đại Tống, xin Quốc vương hãy suy nghĩ lại”.
Lý Dục tức giận nói: “Quả nhân sớm đã nghĩ đến rồi, ngươi cứ nghe lệnh là được, đâu đến lượt ngươi lắm chuyện”.
Vương Hiền Văn hiên ngang lớn tiếng: “Quốc vương nguyện đầu hàng, nhưng Hiền Văn lại không thể hàng như thế, mệnh lệnh này của Quốc vương thần không dám tuân theo”.
Lý Dục vỗ bàn đứng dậy, định ngay lập tức hạ lệnh lôi hắn ra ngoài trị tội, nhưng nhìn mái đầu bạc phơ vẫn đang hiên ngang sẵn sàng đón nhận cái chết, không kìm được mà thở dài, vung tay nói: “Quả nhân thương hại ngươi tuổi già yếu không trừng trị, đi đi, ta cách chức quan của ngươi, từ nay trở đi về nhà dưỡng già”.
Vương Văn Hiền già nua không nghĩ rằng mình lại bị Lý Dục cách chức, hắn thoáng giật mình, chắp tay hành lễ rồi không nói gì mà lặng lẽ bỏ đi. Lý Dục tức khí nói với một người nội các trong cung: “Đi đi. Dặn người trong thị lang bộ vẽ bản đồ, làm ngay đi, chớ có trì hoãn”.
Người nội các đó vội vàng đi đến nội sử quán truyền thánh chỉ, chỉ trong chốc lát lại có một người khoảng 30 tuổi chạy tới, thi lễ rồi nói với Lý Dục: “Nội sứ Vương Hạo xin bái kiến Quốc vương”.
Lý Dục vẫn chưa nguôi cơn giận, trừng mắt nói: “Ngươi còn không mau đi vẽ bản đồ, lại đến đây bẩm tấu chuyện gì?”
Vương Hạo cất cao giọng nói: “Bản đồ địa hình mười chín châu của Giang Nam, địa lý Giang Nam và dân số đều là bí mật của nhà nước, tại sao lại dễ dàng dâng lên nhà Tống?”
Lý Dục cười khổ não nói: “Những điều ái khanh nói Trẫm không biết hay sao? Nhưng thế lực nhà Tống như thế, ta nào dám không nghe? Ta làm việc đó cũng là có nỗi khổ tâm, khanh có biết hay không?”
Vương Hạo nói: “Quốc vương xin hãy xem xét kĩ, thần chỉ e rằng nếu chúng ta càng nhân nhượng thì dã tâm của quân Tống sẽ càng kinh khủng. Trịnh vương Tòng Thiện đã dâng cho triều Tống, nay chúng lại bắt chúng ta giao ra bản đồ địa lý Giang Nam, Quốc vương mà vâng mệnh chúng ắt sẽ bức bách chúng ta, chẳng lẽ triều đình chúng ta chịu nhân nhượng hay sao? Hôm nay có thể chúng chỉ đòi bản đồ, chúng ta đồng ý dâng cho chúng, nhưng ngày mai liệu chúng đòi cả xã tắc Giang Nam này thì cúng ta cũng phải tặng cho chúng hay sao?”
Lý Dục khẽ nhướng mày, bực mình đáp: “Khanh nói như vậy là quá lời rồi. Quả nhân chỉ muốn tỏ lòng kính trọng với nhà Tống, xưng thần cống nạp, chưa từng trì hoãn, nước Tống tuy mạnh nhưng làm sao có thể vô cớ xuất binh? Ta đã xưng thần với Tống, cống nạp cho chúng bản đồ địa lý nước ta, như vậy mới nắm được điểm yếu của nhà Tống. Ngươi chỉ là con mọt sách, biết làm sao được chuyện đại sự, ngươi mau mau đi vẽ bản đồ đi, đó cũng là trách nhiệm của người đó, đừng nhiều lời nữa”.
Vương Hạo nhẫn nại nói: “Dã tâm của nước Tống ai ai cũng biết, Quốc vương còn đang tự lừa dối mình hay sao? Gia phụ đã nguyện bị bãi quan giáng chức, chứ không thể dùng hai tay dâng giang sơn xã tắc Giang Nam cho chúng được, thần Vương Hạo đây cũng không thể phụng theo ý chỉ này”.
“Gia phụ đó là ai?”
“Gia phụ đó là nội sử thị lang vương công Hiền Văn”.
Lý Dục tức khí mà cười: “Tốt, tốt, cha con các ngươi đều là trung thần, chỉ có quả nhân là bậc hôn quân phải không? Được rồi, được rồi, các ngươi không muốn làm quan trong triều nữa thì hãy đi về đi, không có cha con các ngươi thì triều đình này không có ai vẽ nổi bản đồ chắc? Cút, cút hết cho ta!”
Lý Dục càng nói càng tức khí, cuối cùng không nén nổi, thuận tay ném một quyển đồ thư đi, mắt nhìn theo bóng Vương Hạo đang đi khuất, Lý Dục kinh ngạc hồi lâu rồi mới chán nản quay về ghế.
******************************************
Trên xe, hai sứ giả nước Tống đang ngồi cạnh nhau. Tiêu Hải Đào vừa vuốt râu vừa nói: “Đại nhân, ngài muốn Lư tướng công đến Giang Nam là có dụng ý gì? Đợi nước Tống chiếm được Giang Nam thì địa lý, sông ngòi, thuế má, dân cư của Giang Nam thì vật đó mới hữu dụng. Còn nay cái chúng ta muốn chính là tin tình báo về mặt sông nước, nơi trú binh…”
Dương Hạo cười nói: “Nói thì dễ, chứ những thứ đó chúng ta đã có trong tay đâu? Tình hình nước sông Trường Giang phải mất hai đến ba năm đo đạc thăm dò cẩn thận, e rằng chúng ta không thể nắm chính xác được sự thay đổi thủy lưu theo mùa nông cạn trong một năm được. Nước ta muốn đánh nước Đường thì trên Trường Giang chỉ có một đường tiến công, đó cũng là khi không còn cách nào khác. Chúng ta hiện chỉ có thể nắm giữ được chút ít tư liệu về việc đóng trú quân.
Ta muốn có bản đồ Giang Nam, Lý Dục lại dễ dàng đồng ý trao cho chúng ta như vậy. Cũng tốt, khi đọc bức chiếu thư này của nhà vua, bản quan đã sớm dự liệu hắn sẽ từ chối, sau đó tái trình lên Lư tướng công, Lý Dục chẳng thể nào từ chối nổi. Tất nhiên, Lý Dục không thể nào nói cho chúng ta chi tiết nơi trú quân, binh lực… nhưng các thành trì lớn nhỏ cư dân nhiều ít thế nào, số lượng lương thực ra sao, địa hình địa lý như thế nào thì đã ghi rõ ràng trong bản đồ, chúng ta có thể tìm ra nơi trú quân của bọn chúng và phái người đi thăm dò”.
Tiêu Hải Đào đang chuẩn bị nói thì Dương Hạo lại cắt lời hắn: “Ta biết, chúng ta rất khó để thăm dò, nhưng căn bản phái người đi là để thăm dò nơi đóng quân. Nhưng nếu một khi chúng đã có thể dễ dàng tiến công vào thì nhất định không phải là nơi trọng yếu, còn nếu nơi nào chúng canh phòng cẩn mật không cho ai lọt vào thì đó có thể là nơi đóng quân của nhà Đường”.
Tiêu Hải Đào vừa gật gật đầu rồi lại lắc đầu: “Thế nhưng, ngay cả khỉ biết nơi nào là nơi trú quân thì chúng ta cũng không thể xác định được binh lực của chúng như thế nào. Nếu nói như vậy thì một nơi trú quân nhỏ vài trăm người cũng có khả năng bị chúng ta hiểu nhầm thành một nơi đóng quân to hàng vạn người, không những không giúp ích gì được cho Quốc vương mà sợ rằng còn đem lại cho Quốc vương cảm giác chẳng biết thế nào mà lần”.
Dương Hạo nói: “Nếu không, lúc đó tấm bản đồ sẽ được phát huy tác dụng thứ ba của nó. Sau khi tìm ra những nơi có trú quân, chúng ta có thể dựa vào đặc điểm ao ngòi sông hồ vùng đó cũng như dân cư ít nhiều thế nào, lương thực số lượng ra sao để phán đoán. Dân số và lương thực có liên quan đến nhau, nước Đường và nước Tống ta không giống nhau, chúng ta đóng quân không giống chúng. Lương thảo cần thiết cho nơi đóng quân là do địa phương trực tiếp trích cấp. Chúng ta chỉ cần so sánh số dân và số lượng thuế thực tế ở thành Kim Lăng là sẽ có thể đoán ra binh lực của nơi trú quân là bao nhiêu.”
Nói đến đây, hắn mỉm cười quay sang hỏi Tiêu Hải Đào: “Ngươi rõ rồi chứ?”
Tiêu Hải Đào nghe đến đây hai mắt đăm đăm, hồi lâu mới dùng ánh mắt kỳ lạ nhìn vào Dương Hạo khen: “Thảo nào đại nhân vẫn còn trẻ mà có thể leo lên được vị trí cao như vậy, đại nhân quả là đã khiến hạ quan tâm phục khẩu phục rồi”.
Dương Hạo cười nói: “Lý Dục có thi từ ca phú phải nói là nhất tuyệt, nhưng những vấn đề thế này hắn lại không thông. Những con mọt sách của nội sử quán cũng không chú ý đến mức độ tôn nghiêm và danh dự mà tấm bản đồ này mang lại, có bảo vật trong tay mà chúng không biết. Có thế thì kế hoạch này của ta mới dùng được, chứ nếu đổi một cơ mưu khác thì e rằng chúng sẽ đoán ra ta định làm gì”.
Tiêu Hải Đào vừa nghe vừa lo lắng nói: “Vậy… việc này không bị bọn chúng thần của nước Đường biết được chứ? Trong đó ắt cũng phải có vài tên thông minh…”
Dương Hạo cười nhạt nói: “Lẽ nào Lý Dục thích công khai chuyện này sao?”
Dương Hạo vừa nói vừa lần tràng hạt trên tay nghe lách tách, Tiêu Hải Đào ngạc nhiên hỏi: “ Đại nhân giấu gì trong tay áo vậy? Có tiếng vang vang kỳ lạ”.
Dương Hạo cười nói: “Đây là chuỗi tràng hạt quý báu đấy, ngươi xem, đích thân vua Giang Nam tặng cho ta, đích thực là một món quà giá trị”. Hắn vừa hào hứng nói vừa đưa cho Tiêu Hải Đào xem: “Ta có chuỗi tràng hạt này rồi thì chuỗi hạt bằng gỗ kia không dùng đến nữa, tặng lại cho ngươi. Dù nói rằng chuỗi tràng hạt này không sánh được với chuỗi của ta, nhưng nó cũng là do đích thân đại sư Bảo Kính trong Kê Minh Tự khai quang, ắt cũng có công dụng xua đuổi tà ma “.
Tiêu Hải Đào cười khổ nhận lấy nói: “Đại nhân bắt đầu tín Phật từ bao giờ thế?”
Không thấy Dương Hạo trả lời, Tiêu Hải Đào cảm thấy hơi kỳ lạ, ngẩng đầu lên xem thì thấy Dương Hạo đang nhìn ra xa thẫn thờ, Tiêu Hải Đào thuận mắt trông theo thì thấy một cô nương đang đi trên đường, mặc một bộ quần áo màu huyền, eo nhỏ nhắn, da trắng như tuyết, đẹp mê hồn.
Dương Hạo vội vã cất chuỗi hạt trong tay đi, kích động nói: “Tiêu Hải Đào ngươi cứ quay về dịch quán trước đi, bản quan gặp người quen, lát nữa sẽ tự về sau”.
Tiêu Hải Đào vội vã khuyên: “Đại nhân, người Khiết Đan có mối thù sâu sắc với chúng ta, để đại nhân tự về e rằng…”
Dương Hạo không thèm để ý mà nói: “Bản quan là tống sứ nhà Tống, người Khiết Đan có thâm thù gì thì cũng không thể hành động giữa ban ngày ban mặt. Mấy ngày nay không phải bọn chúng rất yên ổn đó sao, không cần lo lắng, ta tự lo được”. Nói rồi hắn không chờ xe dừng, vội phi như bay xuống dưới đất.
Tiêu Hải Đào lẩm bẩm: “Người Giang Nam tín Phật cũng háo sắc như vậy sao?”
Cúi đầu nhìn xuống chuỗi vòng đang cầm trên tay, Tiêu Hải Đào vội vàng lẩm nhẩm tạ tội: “Tiêu mỗ nói bừa, biết tội, biết tội, nam mô a di đà phật…”
************************************************
Chiết Tử Du đang đi bộ, đột nhiên thấy ven đường có một người nhảy xuống liền vội vàng lui lại hai bước, thủ thế. Nhìn rõ ra là Dương Hạo, nàng ta mới tức giận trừng mắt lên, quay đầu đi về.
Dương Hạo không thèm để ý, cười ha ha và đuổi theo nàng, nói: “Mạc cô nương ăn mặc phong phanh quá. Mặc dù mùa đông ở Giang Nam không lạnh, thời tiết cũng ẩm ướt, nhưng Mạc cô nương vẫn phải chú ý bảo vệ ngọc thể nhé”.
“Hôm nay ngươi rảnh như thế sao?”
“Thật đúng câu ta đang muốn hỏi Mạc cô nương đó”.
Chiết Tử Du bĩu môi nói: “Những ngày này không thấy bọn Khiết Đan có động tĩnh gì, ngươi lại bắt đầu khinh thường rồi phải không?”
“Ha ha, hóa ra cô nương đang lo lắng cho sự an nguy của ta. Vậy là Dương mỗ có thể lọt vào mắt xanh của tiểu mỹ nhân được, thật sợ quá”.
Chiết Tử Du trợn mắt nói: “Xem ra hôm nay ngươi hứng chí ghê nhỉ, lại ăn nói luyên thuyên”.
“Chỉ cần vừa nhìn thấy cô nương trái tim đã sai nhịp rồi, nàng nói xem có kỳ lạ không?”
“Đừng nói luyên thuyên với ta nữa đi!” Chiết Tử Du không chịu được nữa, chóng mặt quát gay gắt: “Nếu như mới đầu lúc quen ngươi ngươi dám nói với ta những lời như thế thì ta đã đánh gãy chân ngươi rồi, cho ngươi bò về Phách Châu. Hôm nay sao ngươi lại ở Kim Lăng?”
“Ngày đó nếu như ta nói ngon nói ngọt mà cô nương muốn chặt đứt chân thì hôm nay những lời ngọt ngào này lại làm nàng xấu hổ… như vậy là vì sao?”
Chiết Tử Du hoắc mắt dừng lại, bẻ cong giày rồi đá vào mặt Dương Hạo. Dương Hạo sớm đã có chuẩn bị nên tóm gọn được đôi chân vừa định giơ lên, không nén được cười ha hả.
Chiết Tử Du buồn cười nói: “Ngươi thật là vô lại, dường như ngươi chẳng để tâm gì đến việc đi sứ lần này cả. Sứ giả Khiết Đan Gia Luật Văn cùng vua Giang Nam mới đây qua lại hết sức thân mật, dường như ngươi cũng chẳng buồn quan tâm?”
Dương Hạo vò vò đầu, có chút hoang mang nói: “Nói thật, ta mang trọng trách là hồng lư tự khanh, cũng là do ngoài ý muốn. Có thể đi sứ sang nước Đường, có rất nhiều điều không thể thành hiện thực đã thành sự thực. Ta vẫn cứ không rõ tại sao nhưng gần đây ta mới tỉnh ngộ”.
Chiết Tử Du tức giận mà hỏi: “Thế ngươi tỉnh ngộ cái gì?”
Dương Hạo làm mặt nghiêm trang nói: “Vốn ông trời an bài, đều là để ta ở đây gặp gỡ nàng. Nàng nói xem đó có phải là duyên phận không?”
Chiết Tử Du thở dài nói: “Xem ra ta cần đi đến miếu để bái rồi, nếu không sẽ cứ bị đen đủi mãi. Từ khi ngươi đến nước Đường, lại đổi thân phận, ta không cách nào tránh khỏi oan gia này. Ngươi đúng là âm hồn không tan”.
Dương Hạo tủm tỉm cười: “Oán chuyện gì? Oan gia?”
Chiết Tử Du xấu hổ, quay người bỏ đi, ném chiếc giày lên cao: “Đi đi đi… mặc kệ tên mặt dày”.
Dương Hạo cười ha hả, đuổi theo thấp giọng nói: “Tử Du, chớ quên là chúng ta đã từng có giao kèo. Nếu như những lời ta nói là thật thì nàng phải lập tức quay về Phủ Châu, không được nhiễu sự nữa. Chỉ cần nàng thuận theo mọi việc thì chưa chắc đã không thể bảo toàn được phú quý nhà họ Chiết”.
Trong đôi mắt mơ hồ của Chiết Tử Du chợt lóe lên, bỗng nhiên khựng lại nói: “Nước Tống… đã muốn đánh nước Đường rồi sao?”
Dương Hạo chợt thấy giật mình, tự mình đã dặn mình phải cẩn thận, thế mà hơi một tí đã nhắc đến chuyện này, còn khiến nàng cảnh giác. Dương Hạo không biết làm gì, bèn nói: “Vẫn còn chưa có kế hoạch, không… phải tùy theo thiên cơ, nhưng chỉ trong vòng hai ba năm nữa thôi. Nếu như tất cả đúng như những gì ta nói, hy vọng nàng có thể giữ lời hứa, hành sự tại thiên để tránh gây nên nhiều sát nghiệt”.
Chiết Tử Du nghe hắn nói như vậy, trong lòng không khỏi hoang mang, quay lưng bỏ đi, thấy trước mặt là một sạp hàng bày bán đủ mọi loại trang sức, liền tiện tay đứng xem.
Dương Hạo nhìn theo bóng Tử Du, trong mắt hiện lên nét khó hiểu. Gần đây khi nhìn thấy Tử Du, hắn thường ăn nói lung tung, vừa quấn quýt si mê nàng, muốn phá mưu đồ bí mật của nàng ở Giang Nam, nhưng mặt khác lại không nỡ xa rời nàng, không muốn nàng bỏ đi, sợ rằng đời này kiếp này không còn cơ hội tương ngộ nữa. Hắn không cách nào xác định, chỉ biết rằng ngày đó càng ngày càng gần.
Nếu như nàng biết được rằng ta chính là ‘sứ giả thần chết’ mang đền nhiều đau thương bấy lâu?”
Dương Hạo nhìn theo bóng nàng, trong lòng dấy lên một cảm giác thương cảm khó hiểu.
Chiết Tử Du đến bên sạp bán đồ trang sức, nhưng vẫn cảm giác có ánh mắt vẫn đang dõi theo đằng sau. Nàng cảm thấy không tự nhiên nên đứng dậy, quay mặt liếc nhìn một cái, đụng ngay cái nhìn của Dương Hạo, nên vội vàng quay đầu lại “Chàng… quả nhiên đang nhìn ta, tại sao cứ phiền như thế, có thể lẽ nào…? Cứ cho là ta không thèm để ý đến chuyện chàng đã có vợ, thì sao đây? Với thân phận hiện giờ của cả hai thì chúng ta không thể bên nhau được”.
Chiết Tử Du lặng lẽ nắm chặt đôi khuyên bằng đá trong tay, cảm giác buồn bã trong lòng.
Người chủ sạp hàng nhìn thấy chuẩn bị bán được hàng liền khấp khởi, luôn miệng quảng cáo: “Cô nương quả đúng là có mắt nhìn, đôi khuyên tai này là được làm từ kim cương đen, cô xem, trông nó giống như là đôi mắt vậy, gọi là ‘luật nhãn ban phúc’, có thể tránh được tà ma, làm tiêu bệnh, khí độc, điều không may… Cô nương xinh đẹp như thế, da lại trắng như tuyết, nếu như cô đeo đôi khuyên này thì nhất định sẽ càng thêm xinh đẹp”.
“Đôi bông tai này bao nhiêu tiền, ta mua nó!” Dương Hạo bước tới nói.
Người chủ hàng có chút đạo đức nghề nghiệp, đôi khuyên vẫn đang nằm trên tay Tử Du, hắn không dám ngay lập tức lấy lại bán cho Dương Hạo, liền quay sang ngó Tử Du. Dương Hạo mỉm cười nói: “Đôi khuyên này là ta mua tặng cho cô nương đây, bao nhiêu tiền?”
“Ai cần ngươi tặng?” Chiết Tử Du nhìn sang Dương Hạo, bỏ lại đôi khuyên bỏ đi. Dương Hạo cười cười, hỏi giá cả rồi mua đôi khuyên đó, đuổi theo Chiết Tử Du.
Chạy đến bên bờ sông thì Dương Hạo đuổi kịp Tử Du, cười nhẹ nhàng: “Chỉ là chút quà nhỏ thôi, cô nương sao không nhận lấy?”
Chiết Tử Du khẽ hừ một tiếng: “Không thích”.
“Nếu như không thích thì cũng không vấn đề gì, Tết Nguyên tiêu sắp đến rồi, rồi đến Phóng Thâu Nhật, mọi người đều trộm đồ của nhau, nàng cứ giữ nó đi rồi để người ta trộm mất cũng được”.
“Cảm ơn. Đến lúc đó tự ta sẽ chuẩn bị đồ cho người khác trộm, không cần món quà này của ngươi, xin nhận ý tốt.”
“Haha, sợ rằng sau này sẽ không có cơ hội nữa đâu, đây có lẽ là lần cuối cùng ta tặng quà cho nàng, nàng nhận đi, được không?”
Chiết Tử Du nghe nói đến ba chữ “lần cuối cùng” liền không kìm được thắc mắc. Lần trước khi chàng muốn hôn ta, chàng cũng nói “lần cuối cùng”, hôm nay tặng quà cũng nói như vậy. Được rồi, ta vốn cũng không nghĩ sẽ dây dưa gì với chàng nữa, thì giờ việc chi cứ phải suy nghĩ mông lung?
Dương Hạo đem đôi khuyên đặt vào tay Tử Du, tay nàng hơi run lên, rồi vứt nó ra xa. Nụ cười trên mặt Dương Hạo chợt cứng lại, hai người cứ thế nhìn nhau hồi lâu, sau đó, Chiết Tử Du không nói gì bèn quay người bỏ đi, mặt hướng ra phía bờ sông mà rằng: “Đại nhân bận rộn, không cần thiết phải tiễn ta nữa. Hôm nay ta cũng có chút chuyện bực mình, ra ngoài đi dạo một chút, không có chuyện gì đâu. Tên đại nghịch bất đạo trong mắt đại nhân đến rồi kìa!”
Dương Hạo cười khổ não, đang muốn nói gì thì bên cạnh nghe thấy tiếng niệm “A di đà phật! Này vị thí chủ…”
“A..a.. ”Bích Túc đang muốn làm bộ không quen biết Dương Hạo, đột nhiên nhìn thấy Chiết Tử Du, không nén nổi mà há mồm cứng lưỡi, cứ chỉ chỉ vào nàng mà không nói được lời nào.
Chiết Tử Du quay đầu nhìn hắn, mặt cũng nén nổi sự kinh ngạc, Dương Hạo liền níu lấy Bích Túc hỏi: “Ngươi đến đây làm gì?”
Bích Túc lấy lại bình tĩnh, vội vàng hạ giọng nói: “Đại nhân, hai vị phu nhân đã tới rồi, hiện đang ngồi ven hồ Huyền Vũ, hiện đang ở nhà trọ Thê Hà…” Nói rồi, hắn còn cảnh giác ngó Tử Du.
“Bọn họ đã đến rồi?” Dương Hạo vừa mừng vừa sợ: “Tốt lắm, chúng ta mất dấu nhau, e rằng Lễ Tân viện đang loạn cả lên rồi, ta sẽ ngay lập tức sắp xếp về dịch quán, sau đó đến bên hồ Huyền Vũ gặp họ”.
“Mạc cô nương, Dương mỗ cáo từ.”
Chiết Tử Du cũng không thèm quay đầu lại, thản nhiên nói: “Xin đại nhân cứ tự nhiên”.
Dương Hạo thở dài, quay người lại đi mất, nhưng đột nhiên như nhớ ra chuyện gì, bèn quay đầu lại ngó Bích Túc đang mặc áo cà sa, dở khóc dở cười nói: “Ngươi thật muốn đến Kê Minh Tự làm Phương trượng ư?”
Bích Túc xoa xoa cái đầu bóng lưỡng, cười hì hì nói: “Chỉ là vì tiểu sư thái Thủy Nguyệt thôi”.
Dương Hạo gật gật đầu, thở dài nói: “Hiếm khi ngươi rung động thật sự, hãy trân trọng đi, nếu như để lỡ mất thì sau này ngươi có hối cũng không kịp đâu”.
Chiết Tử Du nghe thấy, đột nhiên cắn chặt môi dưới.
Dương Hạo lại thở dài, thi lễ với nàng rồi quay lưng bước đi, Bích Túc nhìn Chiết Tử Du, ngượng ngùng nói: “Chiết… Chiết cô nương sao lại ở đây? Chẳng lẽ cô nương với đại nhân của ta…”
Chiết Tử Du quắc mắt xoay người lại, nói: “Bản cô nương đang không vui, ngươi cút ngay đi cho ta càng xa càng tốt, ta đếm tới ba, nếu như ngươi không cút…” Nàng ta nắm chặt cây kiếm bên hông, đếm lớn: “Một…”
Chẳng cần để nói đến hai lời liền bỏ chạy. Chiết Tử Du không khỏi phì cười, nhìn theo bóng Dương Hạo đi khuất dần. Nụ cười dần tắt, trên mặt chỉ còn phảng phất nỗi mơ hồ, dường như nhớ ra điều gì, nàng quay người đi vội vàng, chạy đến bên vạt cỏ gần đó tìm kiếm khắp nơi, nhưng có một người đã nhanh chân hơn nhặt chiếc hộp lên, mở ra rồi reo mừng: “Haha, hôm nay số hên quá, lại nhặt được báu vật”.
“Chậm đã!” Chiết Tử Du vội nói, đoạt lại chiếc hộp rồi nói: “Chiếc hộp này là của ta”.
Người thuyền phu đó mở to mắt ra nhìn Tử Du, nói: “Nhìn vị cô nương ăn vận xinh đẹp, thế mà lại đi cướp đồ của ta ư?”
“Ngươi!” Chiết Tử Du chau mày, nắm chặt lấy chuôi kiếm, vị thuyền phu kia lui lại hai bước, hét lớn: “Ái chà, còn muốn gây sự nữa đúng không? Anh em đâu mau lại đây, có người muốn cướp đồ của ta này”.
Trên bờ đê, bảy tám người cao to lực lượng lập tức xuất hiện, nói lớn: “Ai dám to gan, giữa ban ngày ban mặt mà dám giở trò?”
Chiết Tử Du hung hăng trừng mắt nhìn vị thuyền phu kia một hồi lâu, hít một hơi thật sâu nói: “Ngươi trả giá đi, ta sẽ mua nó. Nếu như vậy còn không được thì bản cô nương sẽ phải giở trò cường đạo rồi, đừng hòng làm khó dễ ta!”
***************************************
Dương Hạo vội vã quay trở về dịch quán tìm Tiêu Hải Đào, Tiêu Hải Đào vừa nhìn thấy hắn liền cười nói: “Đại nhân về nhanh thật đấy, cứ tưởng giữa đường gặp vị cô nương đó thì … hahaha”
Dương Hạo tươi cười nói: “Tiêu tự thừa, Dương mỗ quay về vốn là để dặn ngươi một tiếng, đêm nay ta ra ngoài, nếu như không quay trở về dịch quán thì ngươi không cần phải lo, sáng sớm mai ta sẽ quay về”.
“Hả?” Tiêu Hải Đào ngẩn người, lắp bắp nói: “Đại nhân… đại nhân có bản lãnh vậy sao? Chỉ mới có hai ba câu mà đã có thể…?”
Dương Hạo ngẩn ngơ một lúc rồi lập tức cười ha hả mà rằng: “Không sai, không sai, bản quan đêm nay cần phải đi hóng gió một chút, haha, do vậy không cần lo lắng cho bản quan. Ta phải đi rồi, cô nương nhà người ta còn đang đợi ta”.
“Khoan đã, khoan đã!” Tiêu thừa tự níu người hắn lại, nghi ngờ nói: “Đại nhân, vị cô nương đó làm sao mới chỉ có hai ba câu… đã có thể cam tâm trao thân gửi phận? E rằng có vấn đề”.
“Hừ, điểm này bản quan chẳng lẽ còn không nghĩ tới ư? Ta tất nhiên là phải làm rõ ngọn nguồn rồi mới có dũng khí chứ, được rồi, không để mỹ nhân đợi lâu nữa, bản quan đi đây.”
“Đại nhân, ngài…” Tiêu Hải Đào muốn cản cũng không cản kịp nữa, Dương Hạo dường như đã hóa thành bươm bướm bay đi mất.
Tiêu Hải Đào đứng dưới trời chiều, ngẩn ngơ hồi lâu rồi mới lẩm bẩm: “Dương tả sứ quả nhiên là không ai bằng, một cô nương diễm lệ như thế... làm sao đại nhân có thể may mắn thế nhỉ?”
Hắn quay đầu nhìn chuỗi tràng hạt đang đặt trên bàn, vội cầm lấy đeo vào cổ tay như sợ có ai cướp mất báu vật.