watch sexy videos at nza-vids!
doc truyen
Trang ChủTruyện
http://aff.mclick.mobi/ctxd/bigbang3g

Bá Chủ Tam Quốc

http://aff.mclick.mobi/swift-wifi/bigbang3g

Swift Wifi

http://aff.mclick.mobi/uc-in/bigbang3g

UC Browser

Bộ Bộ Sinh Liên 
Quyển 9: Mây và trăng, tám ngàn dặm đường

Chương 369:Thiên hạ ai hiểu quân. (4+5) 


Còn về nói thiên hạ thái bình, buôn bán của thương nhân mới hưng thịnh, nó cũng chưa chắc. Thời Xuân Thu các nước san sát nhau, có trở ngại rất nặng, theo lý mà nói điều này đối với các thương nhân là không hợp, mà trên thực tế thương nhân đương thời không những thu nhập cao, mà địa vị xã hội cũng rất cao. Các phương chư hầu từ Đường mạt năm đời lại đây cũng như vậy. 

Dương Hạo chậm rãi nói: “Trưởng lão các người cho rằng, đất tây bắc tự lập, hòa hoãn Trung Nguyên và Khiết Đan, cũng là thương nhân các người muốn có bao chiếc cầu, cho nên các người muốn bồi dưỡng thế lực ở đó, có thể bảo vệ các người, mang đến cho các người khoản lợi nhất?”

Thôi Đại Lang sờ cằm nói: “Đúng, kỳ thực Thừa Tự đường ta hai mươi năm trước đã làm thử rồi. Lần đó, chúng ta chọn Lân Châu Dương gia, Chiết gia sống yên lâu dài, vị tất mang đến sự tiện lợi cho chúng ta. Huống hồ, tuy nói Thừa Tự đường ta sớm không còn tôn chỉ, giờ kéo dài mình là có mục đích, nhưng các trưởng lão vẫn mong mỏi có thể giúp đỡ đồng tộc. Dương gia là người Hán, Chiết gia lại không phải, cho nên các trưởng lão càng muốn cho Dương gia đến khống chế sự ra vào cửa ngõ Tây Vực. Tiếc thay…”

Hắn thở dài, méo mó nói: “Tiếc là Dương gia cuối cùng lại không có quyết đoán, không có can đảm để đối kháng lại Chiết gia. Cân nhắc một chút, Hỏa sơn vương Dương Cổn vẫn là quyết định bám lấy Lân Châu, cùng Phủ Châu giảng hòa đối kháng Hạ Châu, ngược lại trở mặt đối phó với chúng ta, khiến mưu kế của ta thất bại trong gang tấc. Vốn dĩ các trưởng lão đã mất lòng tin, không ngờ trên trời lại phái ngươi xuống.”

Thôi Đại Lang mỉm cười: “Người cơ bản dễ hiểu nhất, có thể giúp đỡ chúng tôi, mà người thì lại có liên quan với Hạ Châu Lý thị, Phủ Châu Chiết thị, Lân Châu Dương thị, là người có tiềm lực phát triển nhất trong số họ. Điều đặc biệt quan trọng là, ngươi lập Lô Châu là khẳng định chỗ đứng của mình, phát triển công thương, trọng công trọng thương nhất phương chư hầu, thực là xưa chưa từng có, cho nên các trưởng lão rất ưu ái với ngươi.”

Dương Hạo gượng cười.

Thôi Đại Lang lại nói: “Mấy trăm năm nay, Thổ Phiên và Hồi Hột cắt cứ tây bắc và Lương Châu, cảnh giác lẫn nhau, không qua lại, vị trí yếu đạo Trung Nguyên đi hướng Tây Vực vì thế ngưng hẳn, một con đường tài sản quan trọng đối với tThừa Tự đường và toàn bộ Trung Nguyên cũng phải đóng cửa. Người thống trị bế quan tự thủ chính là thiên địch lớn nhất của thương nhân chúng ta, ngươi hiển nhiên không phải loại người này.

Thổ Phiên tấn công Hồi Hột, Hà Tây, Lũng Hữu, đều nắm trong tay, sau khi trở thành bá chủ Tây Vực, tây bắc vẫn thái bình. Nhưng người Thổ Phiên giỏi tác chiến lại không giỏi về kinh doanh, họ thống ngự Tây Vực, nếu làm ầm đến tây bắc bách nghiệp tiêu điều, mọi người khó khăn, dân chúng lầm than. Một người thống trị ngu muội lạc hậu, đồng nghĩa là thiên địch của thương nhân chúng ta, ngươi vẫn không phải loại này.

Thổ Phiên bại lộ, người Khương sau khi nổi dậy, ba môn hộ Hạ Châu, Phủ Châu, Chiết Châu, và ở giữa tạp khi Hồi Hột, Thổ Phiên. Chiến tranh giữa các thế lực này không ngừng nghỉ, chiến loạn thường xuyên không hợp với sự sinh tồn của chúng ta. Cục diện lý tưởng nhất là tây bắc thống nhất, tạo thành thế chân vạc với Khiết Đan và Tống quốc, chúng ta mới có thể nắm chắc được.”

Dương Hạo nói: “Ngươi dường như là tình nguyện, dựa vào Đảng Hạng Lục thị bị Hạ Châu Lý thị áp bức, nhận ta làm cộng chủa cỉa họ? Ta không tiền không đất cũng không lương thảo, chỉ có mấy nghìn binh trong tay, dựa vào cái gì mà ngươi cho rằng ta có bản lĩnh thay thế được Hạ Châu Lý thị lớn mạnh, giỏi hơn Phủ Châu Chiết thị có bề dày kinh doanh hơn hai trăm năm, để trở thành cộng chủa tây bắc?”

Thôi Đại Lang than thở: “Ta đã nghĩ nhiều lắm rồi, trừ ngươi, ai cũng có thể có nhiều cơ hội như vậy sao? Ngươi có cơ hội, cho nên ngươi chính là thiên cơ, chính là thiên mệnh sở quy. Chỉ cần ngươi chắc chắn, tây bắc vương không phải ngươi thì là ai nữa đây? Ngươi muốn làm hoàng đế, cũng không phải là không có khả năng.”

Dương Hạo cười đau khổ, hắn luôn dùng thiên mệnh sở quy khuyên Chiết Tử Du bỏ đi sự phản kháng, đầu hàng Đại Tống, giờ lại bị người dùng thiên mệnh sở quy để khuyên nhủ, thực là báo ứng. 

Thôi Đại Lang đương nhiên không phải dùng lời nói này để sai Dương Hạo, hắn cổ vũ tiếp: “Khi Thổ Phiên hùng bá Tây Vực, Đại Đường cũng không có cách chinh phạt, chỉ có thể làm mưa làm gió. Nhưng trong lúc đó, Thổ Phiên khi bị Trương Nghĩa Triều nhất giới bố y vung tay một cái thì sụp đổ tan tành, sao vậy? Thời thế tạo anh hùng mà thôi.

Thế cục tây bắc hiện giờ, nam bắc Thổ Phiên liên hợp Hồi Hột, đang ức hiếp Hạ Châu Lý thị khổ chiến không ngớt, hai châu Lân Phủ chặn Hạ Châu qua lại với Trung Nguyên, Đảng Hạng lục thị nội bộ lục đục, nội ngoại Lý thị khó khăn dồn dập, bộ tộc tha hồ oán giận, các loại tranh chấp nổ ra, tương tự như Thổ Phiên đương quốc? 

Lại thấy Dương Hạo hôm nay có những điều kiện để so sánh với Trương Nghĩa Triều. Năm xưa Trương Nghĩa Triều khởi binh, nguồn cung cấp binh lực, tài lực đến từ ba phương. Một, danh môn vọng tộc của Đôn Hoàng, ví dụ Sách thị, Trương thị, Lý thị… các tộc tiền nhiều, có thể cung cấp quân tư. Hai, tăng chúng phật môn; phật giáo Tây Vực vô cùng phát triển, tín đồ vô số, các phật sống rất thân với Trương Nghĩa Triều, hắn có thể sử dụng các tín đồ. Ba, mới là dân chúng đã chịu đủ áp bức. Mà Dương huynh thì sao, giờ đã có một châu Lô Lĩnh, nam bắc hào thương tập trung đủ cả, lại còn có Thừa Tự đường ta toàn lực giúp đỡ, tiền tài không thành vấn đề…”

Dương Hạo cười nói: “Ta cũng biết vậy, dân chúng Tây Vực sùng bái phật sống vô cùng, tiếc là ta đồng thời xuất hiện với các cao tăng Tây Vực.”

Thôi Đại Lang mỉm cười nói: “Chưa chắc, giờ đã có rồi.”

Dương Hạo kinh ngạc nói: “Nói vậy có ý gì?”

“Ngươi trên đỉnh Lô Lĩnh từng đúc một pho tượng sắt Khai Bảo phủ?”

“Không sai.”

“Lệnh huynh Đinh Thừa Tông đã dựng thêm một pho tượng, mời phật sống Tây Vực đến chủ thiền viện, Tịch do đạt thổ Phật sống qua lại với các cao tăng Tây Vực, giờ quan hệ vô cùng thân thiết, hơn nữa…”

Thôi Đại Lang cười nói: “Ngươi, trong khai bảo thiền viện nhiều lần xuất hiện điềm lành, giờ không chỉ Hạ Châu Lý thị, đến Thổ Phiên, Hồi Hột và rất nhiều người tin yêu cũng lén truyền nhau, nói Dương huynh ngươi là cương kim cống bảo chuyển thế, lệnh huynh vì ngươi… mà tạo thanh thế mà.”

“Từ từ đã, cương kim cống bảo… nghĩa là gì?”

Thôi Đại Lang nói: “Đây là tiếng Thổ, dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm Bồ Tát.”

Dương Hạo ngẩn người, Quan Thế Âm Bồ Tát? Dương Hạo hơi lúng túng, nghĩ một lúc, mới nghĩ ra Quan Thế Âm Bồ Tát hình tượng vốn có trong phật giáo là nam, về sau trung thổ phật giáo tuy đã tạo hẳn thành nữ, nhưng trong phật giáo Tây Vực vẫn là hình tượng nam.

Thôi Đại Lang nói: “Trong truyền thuyết Tây Vực, Công Tán Can Bố, Gia Ngõa Nhân Ba Thiết một đời anh hùng, đều là hiện thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Giờ dân chúng Tây Vực coi ngươi là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, đều này đối với dân chúng Thổ Phiên, Hồi Hột mà nói có ý nghĩa gì, đối với người Khương chờ đợi hòa bình có nghĩa gì, ta nghĩ là ngươi hiểu.”

Dương Hạo lẩm bẩm: “Ta hiều, ta đương nhiên hiểu…, có nghĩa là các ngươi đã chuẩn bị tất cả sẵn sàng, kiệu hoa đã chuẩn bị xong, chỉ chờ đưa ta vào động phòng, ta đây một tân nương đồng ý cũng phải đồng ý, không đồng ý cũng phải đồng ý. Nếu không… tin đồn ta là cương kim cống bảo chuyển thế truyền đến triều đình, thì ta không chết cũng không được.”

Thôi Đại Lang không nhịn được cười phá lên: “Ngươi không cần lo lắng, giờ tạo thế còn ở giai đoạn làm nền, chỉ có tín đồ thành kính mới biết, họ sẽ không nói lung tung, càng bí mật họ càng tin tưởng. Không dấu ngươi, lệnh huynh còn tạo ra một cái thanh thế, nói Tống dựa vào ngũ vận chuyển rời mà lấy được mạng đế quyền, được thiền vu chu quốc. Nãi mộc đức, mộc sinh hỏa, cho nên Tống là hỏa đức, Tống lấy hỏa đức thừa chính thống. Mà ngươi ở Trục Lãng Xuyên đáng chết không chết, mới là thần thủy đức phù hộ, rồi rời quan Khai Phong, xây Hỏa Tình viện chuyên diệt hỏa, đây là thiên mệnh sở quy. Ta cũng cảm thấy hoang đường nực cười, nhưng đích thân đi tây bắc một chuyến, ta mới hiểu…”

Hắn trầm lặng một lát, khẽ thờ dài nói: “Ta mới hiểu hắn tại sao lại làm vậy. Đây là cường quyền võ lực, tiền bạc của cải đều không có cách nào đổi lấy tín phục và sùng bái. Mức sùng bái của người Tây Vực đối với thần linh chúng ta không thể tưởng tượng nổi, nếu ngươi thấy họ thành kính với thần linh, ngươi sẽ biết tại sao họ thà một năm bốn mùa ôm bọc rách, ăn uống kham khổ, nhưng mỗi quan tiền kiếm được đều đi nặn kim thân, trang sức cho thần phật.”

Hắn ngẩng đầu nhìn Dương Hạo, nói: “Hồi Hột, Thổ Phiên tranh đấu triền miên với Hạ Châu Lý thị, áp bức môn hộ của Lân Châu đối với ngươi lạc kiến kỳ thành, nội ngoại Lý thị khốn đốn, các bộ tộc đều rất oán giận, trên dưới Lô Châu duy chỉ có ngươi đáng tin, Đảng Hạng lục thị ngầm quy về ngươi, Thừa Tự đường ta nguyện giúp đỡ chính là thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Như vậy, Dương huynh nếu như quay về tây bắc, vung tay lên, sợ gì tây bắc không thuộc về Dương thị? Thời thế tạo anh hùng mà Dương huynh!”

Biết rõ hắn miệng lưỡi có sự khích lệ, Dương Hạo nghe vậy vẫn nhiệt huyết sôi trào. Đúng vậy, thiên hạ đã có phương hướng không giống với cái vốn dĩ của nó, mình chuẩn bị những điều kiện được trời ưu ái ở tây bắc, chỉ cần làm, sao lo làm không nổi. Dù Trung Nguyên có Triệu Khuông Dận là vị anh chủ, ta khó mà nhòm ngó ngôi báu, nhưng là lấy tây hạ, trở thành chủ của tây bắc thì có gì không thể chứ? Nếu ta đến làm tây bắc vương, lẽ nào không mạnh hơn tây hạ mà Lý thị xây sao? 

Dương Hạo trầm ngâm không nói gì, Thôi Đại Lang biết hắn lúc này đang phân vân khó xử, đưa ra một sự lựa chọn quan trọng nhất trong đời. Những lời hắn muốn nói đã nói hết, lúc này chỉ ngồi nhìn biểu hiện của Dương Hạo, không thúc dục.

Một lúc lâu sau, Dương Hạo liền dừng bước, ngẩng đầu nhìn trời, thở dài: “Người ở giang hồ, thân bất do kỷ, ta mộng tưởng hão huyền, mãn ý có thể giả chết để bình yên, từ nay sẽ tránh xa thế giới này. Điều ta nghĩ thật quá đơn giản.”

Thôi Đại Lang vừa nghe thấy thì vô cùng vui mừng nói: “Dương huynh có thể quyết định một lần nữa trở lại Lô Châu sao? Nếu như kế sách đã định, Thôi mỗ yên tâm vô cùng, lần này về tây bắc, tìm một cái thân phận khác, dứt khoát gọi là Thác Bạt Hạo, khi triều đình biết được, lúc đó Dương huynh căn cơ đã định, có đôi cánh khỏe mạnh, triều đình cũng chỉ đành quay mặt làm ngơ.”

Dương Hạo nói: “Không, ta đã thề với nương của ta, đời này chỉ mang họ Dương, sống cũng họ Dương, chết cũng họ Dương, mãi mãi không đổi. Đúng vậy, ta đồng ý về, Thôi huynh có sắp xếp cho ta từ Thái Thạch cơ qua sông không?”

Thôi Đại Lang nói: “Dương huynh nếu đã chắc chắn về tây bắc, ta bố trí đi men đường nhỏ, Thái Thạch cơ có đại quân tập trung dày đặc, nếu muốn thần không biết quỷ không hay mà đi qua thực là làm khó ta.”

“Không, ta phải đi gặp Tấn vương Triệu Quang Nghĩa.”

Thôi Đại Lang sửng sốt, Dương Hạo nhìn hắn cười, bình tĩnh nói: “Lòng ta vốn có một chuyện rất khó giải quyết, có sự ràng buộc giả chết, mọi chuyện đều bị giới hạn, cuối cùng cũng vẫn không nghĩ ra cách gì hay ho. Giờ nếu không phải chết nữa, ta có ý này, Đại Lang giúp ta đưa gia quyến về, còn ta về Tống quốc, tranh thủ lực lượng Tống quốc đang lộn xộn giải quyết cái đại sự đang khúc mắc trong lòng, đồng thời, nghĩ ra cách có thể quang minh chính đại về tây bắc. Với Tống quốc, chớ có làm ầm lên là tốt nhất.”

Thôi Đại Lang nói: “Dương huynh đi gặp Tấn vương, sẽ giải thích mình vẫn sống với hắn như thế nào?”

“Ta tự có cách của mình. Giờ họ chưa cảnh giác lắm,ta chủ động xuất hiện, ai sẽ còn nghi ngờ ta đã từng giả chết?”

“Nhưng… có chuyện gì cần lực lượng triều đình giúp vậy? Hơn nữa, làm sao có thể đường đường chính chính về tây bắc?”

Dương Hạo chau mày nói: “Đại Lang, đây có lẽ không phải là cách khởi đầu tốt.”

“Cái gì?”

Dương Hạo trầm giọng nói: “Ta và Đại Lang chỉ là một sự giao dịch, ta được đầu tư, phải hồi báo. Nếu ta thực sự có thể bảo đảm nắm trong tay tây bắc, tuyệt đối không nuốt lời và sẽ ủng hộ, đưa lại sự tiện lợi nhất cho các ngươi, nhưng các ngươi không nhất định không được can thiệp vào, hơn nữa càng không được nhúng tay vào, không được có ý đồ cản trở ta, ảnh hưởng đến ta. Hơn nữa, một khi bị ta phát hiện ra manh mối gì, giao dịch của chúng ta sẽ bị hủy bỏ, thứ các ngươi đã trả ra, ta sẽ không bồi thường.”

Thôi Đại Lang ngẩn người, không hiểu ra sao, ngược lại còn cười lớn, vỗ tay nói: “Dương huynh là ngọc thạch, giờ đã được dùi mài, quả nhiên có giá trị cao ghê gớm, đã là một sản phẩm tốt rồi. Được được được, Thôi mỗ đây sẽ không hỏi thêm gì nữa, ta sẽ đưa gia quyến của Dương huynh bình an đi tây bắc. Dương huynh, hãy đợi tin tốt lành của ta!”
***
“Diễm Diễm, nàng yên tâm, lần này về Tống doanh, ta tự có lý thoái thác, sẽ không có chuyện gì đâu.”

“Thiếp sao có thể yên tâm được? Thiếp đi theo chàng, nếu chết thì cũng chết cùng nhau.”

“Lại nói linh tinh gì vậy, nếu không định kế, ta bằng lòng đi vào chỗ chết sao? Nàng trở về tây bắc, còn có chuyện đại sự phải làm. Nàng cần đi gặp nghĩa phụ, bảo ngài lệnh cho Phi Vũ liên lạc với ta, từ nay về sau, ta đến thao túng, tin tức có động, ta đều cần nắm được kịp thời. Trước đây ta ở ẩn, làm chuyện đường hoàng, giờ ta tuy xuất hiện trước mặt người khác, việc làm lại phía sau màn, không có Phi Vũ liên lạc kịp thời, ta không làm gì được.”

Đường Diễm Diễm vui vẻ nói: “Hạo ca ca giờ như vậy, có vài phần giống khi ở Trung Nguyên, không chỉ nhượng bộ, nhượng bộ nữa, hi hi, như vậy khiếng người ta thích chết đi được.”

Dương Hạo cười nói: “Hoặc là không làm, hoặc là làm cho cẩn thận, không thể tùy ý sắp xếp. Nếu ta đồng ý xuất hiện, thì phải nghĩ cách khống chế hết thảy bọn họ. Ta có thể chủ động nhượng bộ, nhưng tuyệt đối không được để họ xỏ dây dắt đi.”

Đường Diễm Diễm gật đầu cười nói : “Vâng, vừa nãy bị người của Thôi Đại Lang khống chế, thực khiến người ta tức chết đi. Hắn cầu xin chàng, còn dám kiêu ngạo như vậy, phải cho hắn vài bài học mới được. Chàng tạm thời vể Tống triều cũng tốt. Nếu một mình đi Khiết Đan, thực sự là quá nguy hiểm, nếu có thể có chiêu bài của Tống quốc cũng an toàn hơn chút. Chỉ cần qua được cửa ải giả chết hồi sinh, thì mọi chuyện coi như yên tâm nhiều rồi.”

“Đương nhiên vậy rồi, các nàng thu dọn đi, mau chóng cùng với Thôi Đại Lang lên đường. Ta đi gặp Phàn tú tài cái đã, bàn bạc chuyện qua sông.”

Dương Hạo gặp Phàn Nhã Băng bàn bạc lúc lâu, nói xong chuyện đêm nay qua sông đi Tống doanh, Phàn Nhã Băng vui vẻ đồng ý. Dương Hạo lại gọi Bích Túc lại dặn dò, nói quyết định của mình cho hắn nghi: “Ngươi đi nói với Thủy Nguyệt cô nương một tiếng, bảo cô ấy cùng đi với Diễm Diễm bọn họ, tối nay chúng ta qua sông đi Tống doanh rồi.”

Bích Túc nghe vậy trầm ngâm một lúc, bỗng nói: “Đại nhân, tôi… tôi không muốn đi nữa…”

“Hả?” Dương Hạo nhướn mày: “Không đi, thế ngươi muốn đi đâu?”

“Đại nhân, Bích Túc vốn là một tên trộm lưu lạc giang hồ, chẳng có gì đáng giá, sau khi đi theo được, có lòng hướng thiện, muốn đi theo đại nhân xây dựng tiền đồ. Đại nhân quyết tâm quy về ở ẩn, Bích Túc cũng không oán hận một câu. Giờ đại nhân lại trở lại giang hồ, vốn hợp với ý của Bích Túc, nhưng… nhưng Bích Túc giờ đã có Thủy Nguyệt rồi. Thủy Nguyệt hiền từ dịu dàng, Bích Túc muốn… muốn sống cùng cô ấy, chẳng sợ một gian nhà tranh, hai mẫu đất cằn, nhưng lại có thể vui vẻ mà sống. Sự nghiệp… so sánh với cô ấy, thì không là gì nữa rồi.” 

Dương Hạo ngẩn người, bỗng bật cười. Hắn vỗ vào vai Bích Túc, nhẹ nhàng khuyên nhủ: “Không ngờ lãng tử như ngươi mà cũng có lúc động lòng, thực là giờ ta không thể ở ẩn được nữa, thì ngươi lại muốn ở ẩn. Thôi vậy, đi theo ta lâu như vậy, chịu kham chịu khổ, làm tùy tùng của ta cũng chẳng có lợi lộc gì, Dương mỗ cũng cảm thấy thẹn với ngươi. Ngươi quyết về ở ẩn, thế… Thiếu Hoa sơn bên đó có nhà cửa và vài mẫu đất, vậy nói sẽ là món quà ta tặng cho phu thê ngươi nhé. Ngươi và Thủy Nguyệt đến đó, sắp xếp cho Hạnh Nhi và Nguyệt Nhi bọn họ về Lô Châu, còn phu thê ngươi… hãy sống ở đó. Ở đó non xanh nước biếc, vô ưu vô lo, là một phú gia cũng tốt.”

Bích Túc từ chối không nhận, hắn vốn sợ Dương Hạo tức giận, không ngờ Dương Hạo lại còn tặng quà cho hắn nữa, không cầm nổi sự cảm kích và xấu hổ. Dương Hạo lại nói: “ Ta và ngươi hoạn nạn có nhau, tuy là chủ tớ, kỳ thực là huynh đệ thân thiến, có gì phải cảm ơn chứ. Ngươi có thể đi theo Đại Lang bọn họ chứ?”

Bích Túc nói: “Chưa chắc, con đường họ đi là hướng bắc trước, nếu như đi Thiếu Hoa sơn, không khỏi phải đi đường vòng. Ta và Thủy Nguyệt tạm thời tìm một chỗ ở tạm đã, đợi quân Tống qua sông, chúng ta sẽ tự qua sông mà đi về phía tây, tránh đi đoạn đường dài.”

Dương Hạo nghĩ ngợi giây lát, nói: “Cũng được, thế nhé, lên đường bảo trọng.”

“Đại nhân bảo trọng.”

Đêm hôm đó, bên bờ Trường Giang, Dương Hạo và Phàn Nhã Băng lại mang theo những bộ hạ biết bơi, tay cầm tiểu thuẫn, kéo chiếc thuyền nhỏ từ bụi cỏ ra, lặng lẽ cập vào bờ đợi người của Thôi Đại Lang cố ý gây động tĩnh gây sự chú ý của thủy quân đi tuần.

Đối diện bên kia, lửa trại mười dặm liên doanh. Nước sông cuồn cuộn, Dương Hạo vô cùng bình tĩnh, nghĩ đến lời của Thôi Đại Lang nói, Dương Hạo mất đi cảm giác căng thẳng, bật cười: “Trục Lãng Xuyên bị phá bởi nước, nghĩ đến đại sự Lô Châu, giờ ta tiếp tục đi qua sông, sẽ có vị thần nào đó che chở ta không đây?”

Chương 370:Xây cầu. 

“Hôm nay không có ta, ngày mai có còn vua? Một khi thiên tử nhà Tống dễ báo đền công lao, quốc vương cũng như dân ảo vải”.

Lá thư rất ngắn, không dài quá hai dòng, cũng không có những từ ngữ hoa lệ như văn phong thường thấy của Lý Dục, nhưng nội dung thì không hề đơn giản. Đây là lá thư Lý Dục viết cho Đông Nam Thăng Châu, là nguyên soái đại binh mã trong thien hạ, mật tín Ngô Việt Vương Tiền Thục đã trình Biện Lương, đồng thời cũng lưu giữ lại một bản, chuyển cho chủ soái Triệu Quang Nghĩa. Và lúc này đây Triệu Quang Nghĩa đang ngồi đọc bức mật thư đó.

Lý Dục viết bức thư này cho Tiền Thục không hề có ý phản loạn gì, Ngô Việt Vương Thẩm hổ tử nhìn một lúc lâu, cho rằng Ngô Việt không liên kết với Đường để chống Tống, cũng không xuất binh đi diệt Đường. Nếu nước Đường mà bị diệt thì Ngô Việt cũng không thể tồn tại, đại vương Tiền Thục không thành công thì cái tên tể tướng như hắn cũng phải về vườn. Tiền Thục ngay lập tức về quê nên bức mật thư này bị lưu lạc vào tay anh em Triệu Thị.

Triệu Quang Nghĩa ung dung cười, hắn đã sớm biết Tiền Thục không dám phản Tống. Hoặc giả, hắn có một phần nghìn hy vọng thì cũng sẽ bày tỏ lòng trung thành của mình với Tống, trợ giúp cho những kế hoạch của nhà Tống, có thể làm cảm động Triệu Thị, có thể giữ lại Ngô Việt Vương – cái tên chẳng hại nổi ai, nhưng nếu như nhà Tống thực sự muốn thôn tính Ngô Việt thì hắn cũng chỉ có thể tuân theo mà thôi.

Tiền Thục là một quân vương tuy không sánh được với Triệu Khuông về tài thao lược, không văn hay chữ tốt được như Lý Dục, nhưng hắn nhìn người rất chuẩn, cũng rất rõ sức lực của mình thế nào. Hắn đã nhìn ra bất kể Tiền Thục có tham chiến hay không thì kết cục của nhà Đường cũng sẽ thế, chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Nhưng kết cục của Ngô Việt Vương lại nằm hoàn toàn nằm ở vua Triệu, phản kháng hay không, đối với Ngô Việt Vương mà nói thì không có gì khác biệt, nhưng đối với gia tộc Tiền Thị thì lại rất khác, do đó hắn cần phải đưa ra lựa chọn thông minh nhất.

Triệu Quang Nghĩa không hề để ý đến lòng trung thành của Tiền Thục mà chỉ liếc mắt qua một cái, sự chú ý của hắn tập trung ở bản báo cáo tình hình quân sự. Tiền Thục bỏ qua tể tướng Thẩm hổ tử, tiếp tục tấn công mạnh mẽ, tấn công Nghi Hưng, Giang Âm, bao vây Thường Châu, Tín Trung Thuyết. Quân Đường ở Thường Châu khổ chiến, Ngô Việt quyết định bao vây Thường Châu, để tránh có viện binh hắn chỉ chờ đánh bại quân viện binh rồi lại tiếp tục tiến công vào Thường Châu, sau đó mới coi đây là cứ điểm, phối hợp với quân Tống để bao vây Đường, từng bước khép chặt vòng vây, ép quay về Kim Lăng.

Triệu Quang Nghĩa thấy trong lòng cấp bách, Tào Bân phá Kim Lăng, hôm nay chính là đêm tấn công Vu Hồ, Tiền Thục liên tục phá Nghi Hưng, Giang Âm, vây Thường Châu, thế còn mình thì sao? Bản thân mình là chủ lực của quân Tống, là cấm quân tinh nhuệ của kinh sư, nay cứ ngồi thủ mà không tấn công, nếu như đợi Tào Bân và Tiền Thục đến rồi mới tiếp thì còn mặt mũi nào nữa?

Triệu Quang Nghĩa bỏ bức mật thư của Tiền Thục xuống, cúi người nhìn tấm bản đồ phòng thủ tấn công Thải Thạch Phàn, đôi lông mày khẽ nhíu lại.

Hắn mặc giáp sáng loáng, toàn thân sáng ngời và tỏa ra nét lạnh lùng, ngồi ở đó. Mặc lâu ắt không thấy thoải mái, nhưng Triệu Quang Nghĩa lại thích cảm giác này, đã bao nhiêu năm không trải qua chiến đấu thế này, bây giờ mặc lại hắn dường như thấy mình lại là một đại nguyên soái thống lĩnh ba quân, hắn thích cảm giác trong khung cảnh cờ bay máu chảy, hàng nghìn người cúi đầu hô lớn, mặc áo giáp thế này hắn dường như lại được quay trở về thời thiếu niên huyết khí bừng bừng.

Nhưng khi hắn đang khí thế bừng bừng cầm kiếm hướng về Giang Nam thì khó khăn ầm ầm kéo đến, lại chắn đường đi Thải Thạch Phàn của hắn. Việc này khiến hắn cảm thấy thật trắc trở, lửa giận trào lên ngực, cúi người nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ, hắn tức giận đấm mạnh lên bàn, quắc mắt đứng dậy, đi lại phía bức trướng.

“Thiên tuế, đêm đã khuya rồi, hay là ngài hãy đi nghỉ trước đi”

Vương Kế Ân chậm rãi nói, mang đến một ấm trà nóng từ trong lò rồi rót ra một chén.

Triệu Quang Nghĩa đứng dậy, tay nhẹ nhàng vuốt bảo kiếm bên hông, trầm ngâm trong chốc lát rồi lùi lại đằng sau tấm trướng, dặn dò hai đại tướng tiên phong đang đứng trong trướng: “ Đêm qua bản tướng đã qua sông thành công, nhưng đáng tiếc là không còn chút sức lực nào, quân sĩ lên bờ rất khó đánh lại quân Đường, sự việc sắp thành lại bại. Sáng sớm ngày mai, ba quân sau khi dùng bữa hãy tạm nghỉ một lúc rồi lại tiếp tục tiến công”.

Hai viên đại tướng thi lễ nói: “Tuân lênh!” hai người vừa cử động, bộ áo giáp đã vang lên những tiếng kêu loảng xoảng, làm gia tăng thêm sát khí. Triệu Quang Nghĩa đưa mắt nhìn, nói với viên tướng đứng bên trái: “Ngũ Cáo Phi, sáng mai hãy tập trung lục soát từng thuyền đánh cá một, tự mình tấn công quân Thải Thạch Phàn”.

“Tuân lệnh!”

“Dương Hải Thanh, ngươi hãy phái quân theo sau viện trợ, một khi Ngũ Cáo Phi ra tay ngươi hãy lập tức lên bờ, dẫu cho tất cả đều chết hết thì cũng phải thủ ở bãi đầu, cho thuyền lập tức quay về đón quân ta qua sông”.

“Tuân lệnh!”

“Thư ký Thường, ngươi hãy viết một chiến thư, sáng sớm mai cho người mang sang bờ bên kia”.

Thư ký Thường Huy nắm chặt cây bút lông, mở giấy ra, chỉ nghe thấy Triệu Quang Nghĩa đằng đằng sát khí nói: “Nói với Dương Thu, Tôn Chấn, chiến thắng của bọn chúng chỉ là nhỏ, cũng chỉ là nhất thời được mất. Khó khăn lớn nhất chính là thiên binh hùng hậu của ta, nếu chúng tỉnh ngộ, nhanh chóng xin thua thì bản vương bảo đảm sẽ cho chúng hưởng vinh hoa phú quý. Còn nếu không biết điều mà cố chống đối đến cùng thì bản vương qua sông nhất định sẽ dốc sức thủ quân, bọn chúng gặp phải đại quân của ta thì bọn chúng sẽ biến thành biển máu, sức hai bọn chúng có gánh nổi không? Hãy suy nghĩ cho kỹ rồi tự định lượng”.

Triệu Quang Nghĩa nói dứt lời bộ áo giáp của hắn cũng rung lên từng hồi, quát: “Đi đi”.

Triệu Quang Nghĩa bước những bước lớn ra khỏi trướng, đi về phía phòng mình. Vương Kế Ân cũng nhìn hai vị tướng quân, bưng tách trà trên bàn lên uống một hớp hết sạch, rồi đuổi theo Triệu Quang Nghĩa.

Vào trong trướng của Triệu Quang Nghĩa, Vương Kế Ân mỉm cười khuyên nhủ: “Thiên tuế, thiên tuế, ngài chớ vội, Tào Bân thủy sư vừa đến sẽ hợp nhất thủy lục, Thải Thạch Phàn ắt sẽ là của Vương gia thôi”.

Triệu Quang Nghĩa nói: “Tào Bân phái người đưa tin đến, quân Hồ Khẩu phái thuyền quấy rối, tàn quân Đường liên tục phóng hỏa tiễn, cản trở trên sông, thủ quân ở Vu Hồ quyết tử chiến đấu đến cùng, hắn còn muốn mất mấy ngày nữa mới đến Thải Thạch Phàn? Bản vương cần gì phải đợi lâu như thế”.

Triệu Quang Nghĩa vừa nói vừa cởi áo giáp, khoát tay cho Vương Kế Ân ngồi: “Biết rồi, ngồi đi”.

Vương Kế Ân mỉm cười ngồi xuống, nói: “Dục tốc bất đạt, Thiên tuế nóng lòng lập công làm gì, chỉ sợ Dương Thu, Tôn Chấn nhận chiến thư của Thiên tuế lại càng kiên quyết thà chết thì mới nên chuyện”.

Triệu Quang Nghĩa cười lạnh nói: “Người Nam trước nay luôn khiếp nhược, chẳng phải sao?”

Vương Kế Ân chần chừ nói: “ Nhưng… nếu như Dương Thu và Tôn Chấn quả thực không hàng thì Thiên tuế thực muốn tàn sát cả thành ư?”

Triệu Quang Nghĩa cười lạnh nói: “Tàn sát cả thành là thế nào?”
Vương Kế Ân chần chừ, hơi cúi người về phía trước nói: “Thiên tuế đừng quên chuyện của Vương Toàn Bân”

Triệu Quang Nghĩa ngẩn ra, rồi lập tức cười lớn: “Vương Toàn Bân là Vương Toàn Bân, bản quan là bản quan, làm sao có thể đem ra để bàn luận với nhau?”

Vương Toàn Bân là danh tướng nhà Tống, chiến công hiển hách, không hề kém cỏi so với Tào Bân, Phan Mỹ. Khi Tống đem quân diệt nước Thục, hắn là chủ soái ba quân. Khi đó Tào Bân còn ở dưới trướng hắn, nhưng hắn có sát tâm quá nặng, sau khi chiếm thành hắn dung túng cho thuộc hạ giết người cướp bóc, hãm hiếp con gái nhà lành, ngược đãi chiến phu, cuối cùng bị dân nổi dậy, quân Ngụy đem toàn bộ quân tạo phản, Đặng, Thục, Mi, Nhã, Đông Châu… mười ba nước lần lượt hưởng ứng, phản quân nhanh chóng tập trung, số lượng lên đến mười mấy vạn người.

Kết quả là Vương Toàn Bân lo lắng quân binh sẽ đi hàng bọn phản quân nên đã ra một chiếu giết toàn bộ chiến phu, đến người già và ốm yếu bệnh tật cũng không tha, kích động người Thục phản loạn. Cuộc chiến kéo dài hơn hai năm, trả giá rất đắt mới có thể yên ổn. Vua Triệu hết sức phẫn nộ, ra lệnh cho thu giữ toàn bộ tang vật, sau khi giữ lại để quan sát tiết độ sứ, hắn cũng cho đến các tỉnh.

Vương Kế Ân nhắc đến Vương Toàn Bân cũng là có ý muốn nhắc nhở Triệu Quang Nghĩa, e rằng hắn sẽ khiến cho vua không vui.

Triệu Quang Nghĩa không cho là đúng, cười ha hả nói: “Tội của Vương Toàn Bân không nằm ở việc hắn cho lính cướp bóc hãm hiếp dân lành, cũng không nằm ở chỗ hắn giết chết mấy vạn chiến phu, mà nguyên nhân là do hắn đã kích động dân Thục làm phản, vua mới phẫn nộ. Người Đường nhu nhược, thấy thủ đoạn độc ác của ta ắt sẽ kinh hãi, làm sao dám phản? Nội trong Giang Nam không có nguy hiểm gì, lại không có lợi về địa hình, ai dám làm phản? Huống hồ bản vương đã nói với quốc vương muốn xây dựng một khu công nghiệp lớn để khai thác, nếu như không lấy của cải và gái đẹp cổ vũ tinh thần hướng sĩ thì làm sao mà được?”

Hắn cười dài nói: “Ta đã biết thành ý của ngươi rồi, bản vương rất hiểu, thôi ngươi nên về nghỉ ngơi sớm đi, sáng sớm ngày mai sẽ dấy binh đánh Thải Thạch Phàn, nếu như thành công thì ngươi cũng sẽ có một phần công trong đó đấy, haha, nên hãy an tâm mà đi ngủ đi”.

Triệu Quang Nghĩa đích thân tiễn Vương Kế Ân đi về trướng nghỉ ngơi, chắp tay từ biệt, nhìn theo bóng Vương Kế Ân xa dần, hắn mới lộ ra một nụ cười nơi khóe môi: “Làm thế nào có thể bình định Giang Nam nội trong ba tháng được? Không sát tâm quá nặng thì sẽ mất lòng dân, làm sao hóa giải được cảnh giác của vua?”

Mười năm làm quan ở Khai Phong, đến nay lật lại Triệu Phổ, cương vị của hắn trong triều Tống dưới một người mà trên vạn người, kể cả lư đa tốn hàng quan tam vị tể tướng cũng không dám làm trái hắn, nhưng uy lực của hắn chỉ có thể khuếch trương trong triều văn. Có thực tế thế thì hắn mới dám mạo hiểm ra tay, mạnh mẽ xuất binh. Đây chính là động lực cổ vũ hắn có dũng khí, nhưng thực ra trong lòng vẫn thấp thỏm không yên.

Hắn cũng đang suy nghĩ đến việc đại ca e rằng sẽ vì vấn đề này mà lo lắng, nhưng có được ắt có mất, đây cũng là chuyện không thể làm khác được.
Nhưng hắn hy vọng rằng quyền lực của hắn sẽ không bị tổn hại gì, nếu như hắn phát binh đến Giang Nam, ba tháng sau diệt được Đường, rồi quân nghiêm minh, không đả thương người vô tội, hết lòng quan tâm đến dân chúng Giang Nam, vậy thì thời huy hoàng của hắn cũng đến hồi kết thúc.
Nhưng nỗi khổ tâm này của hắn lại không thể nói rõ với bất kỳ ai, kể cả với Vương Kế Ân, người có mối tư giao lâu nay với hắn.

Hắn quay lại trướng cởi áo, nằm trên phản quay lưng ra ngoài, trong đầu đang thầm tính toán kế hoạch ngày mai đi đánh Thải Thạch Phàn, rất lâu sau mới tắt đèn, ngáp một cái rồi đi ngủ. Chỉ nghe thấy phía ngoài trướng tiếng bước chân chạy gấp lại, một người nói lớn: “Thiên tuế, thiên tuế, mạt tướng Trúc Vũ Minh có việc quan trọng xin cấp báo”.

Triệu Quang Nghĩa ảo não ngồi dậy hỏi: “Có chuyện gì?”

Trúc Vũ Minh nói: “Thiên tuế, quân phòng ngự tại bờ sông đã bắt được bốn tên từ bờ bên kia lặn sang…”

Triệu Quang Nghĩa vội hỏi: “Nhưng có phải là người nhà Đường không?”

Trúc Vũ Minh nói: “Trong số bốn tên đó có một tên tự xưng mình là hồng lư tự của nhà Tống – Dương Hạo, mạt tướng không biết phân biệt thật giả, chỉ nghe nói Thiên tuế có biết hắn nên mới đến bẩm báo thiên tuế”.

“Hồng lư tự Dương Hạo…” Triệu Quang Nghĩa vẫn còn chưa nhớ rõ ra là ai, bỗng chợt giật mình hỏi lại: “Dương Hạo? Ngươi nói hắn là Dương Hạo?”

“Đúng ạ, hắn tự xưng là Dương Hạo”.

Triệu Quang Nghĩa vội vứt chăn sang một bên, mặc quần áo lót vào rồi nhảy xuống đất, vừa chạy vừa hỏi: “Người đâu”

“Hắn vẫn còn trong lều chủ soái”.

Triệu Quang Nghĩa chạy nhanh, Trúc Vũ Minh ngẩn người, mãi sau mới nói: “Thiên tuế, ngài vẫn còn chưa mặc quần áo…”

Lúc này Triệu Quang Nghĩa đã chạy đến trước cửa lều…

**************************************
“Ngày xưa Bái công gặp Lệ Sinh, lấy chân trần chạy lại đón, nay Tấn Vương gặp Dương Hạo không cho cổ nhân, hạ quan thực quả rất cảm động”.
Vừa nhìn thấy Triệu Quang Nghĩa tóc tai bù xù, mặc bộ quần áo lót, Dương Hạo lập tức tiến lại gần, nhưng bị hai gã thị vệ giữ lại, hắn đành đứng tại chỗ nói.

Triệu Quang Nghĩa nhìn theo, người này quả nhiên là người đã khuất, sau đó được triều đình gia phong làm quốc bá, khắp nơi ai ai cũng thương tiếc. Dương Hạo đeo bên hông một chuỗi hồ lô, mặc một bộ quần áo dạ hành.
Triệu Quang Nghĩa kinh ngạc nói: “Dương Hạo không phải đã chết rồi sao?”

Dương Hạo than thở nói: “Việc này… thật là khó nói một lời mà hết”.

Triệu Quang Nghĩa thấy hắn đang đứng bên một tăng lữ, hai người đều mặc quần áo đen, vội hỏi: “Đến đây, đến đây, ngồi xuống, chúng ta từ từ nói”.
Bọn thị vệ dâng trà. Dương Hạo ngồi xuống, tựa hồ như chính mình vừa từ cõi chết trở về kể lại. Hắn kể rằng hôm đó sau khi bị hành thích, khi thê thiếp của hắn đều bị cướp giết chết, hắn chợt nhớ ra trên bờ có hai đoàn người ngựa, sợ rằng là sứ giả Khiết Đan và nhà Đường hợp sức muốn giết hắn nên hắn sợ hãi nên hắn nhảy xuống nước tháo thân, tìm đến chỗ thuộc hạ đang chờ sẵn rồi trốn mất.

Triệu Quang Nghĩa nghe xong liền nghi ngờ hỏi: “Dương đại nhân lo lắng nước Đường và sứ giả Khiết Đan một chủ một khách liên kết với nhau gây bất lợi cho ngài ư? Giả chết để ẩn náu, điều này có thể lý giải được, có điều… tại sao bao lâu như vậy rồi ngài không cho triều đình hay biết?”

“Cái này…” Dương Hạo mặt có vẻ bi phẫn nói: “Thiên tuế che chở được cho Dương Hạo, cũng là có lòng nên Dương Hạo không giấu Thiên tuế. Thuộc hạ một vợ một thiếp, dẫu cho có chết thảm trên thuyền, thù này không trả thì cũng uổng một đời trai. Do đó Dương Hạo ta phải làm vậy để tìm cách báo thù, như Gia Luật Văn bị chết trong lửa cũng là thê thiếp của ta ôm mối hận mà trả thù cho Dương Hạo. Dương Hạo báo được mối tư thù này e rằng sẽ kích động quan gia, giáng tội vào hạ quan, nên vừa quy về ở ẩn, vừa nghĩ cách thông báo cho tiêu tự thừa.

Nghe nói cũng thông, Triệu Quang Nghĩa nói: “Nếu ngài đã quyết định lui về ở ẩn rồi thì tại sao còn đến đây gặp bản vương?”

Dương Hạo nói: “Hạ quan dưỡng thương xong vốn định tĩnh tâm, muốn quy
về ở ẩn, không ngờ thiên binh lần này tới lại là quân của Thiên tuế. Thiên tuế đối với hạ quan ân trọng như núi, Dương Hạo có lòng báo đáp Thiên tuế nên mới mạo hiểm tìm hiểu tình hình quân sự của Thải Thạch Phàn, hy vọng có thể giúp sức được cho Thiên tuế. Cũng nhờ hồng phúc của Thiên tuế mà hạ quan đến được đây và gặp được vị tú tài này”.

Dương Hạo vừa nói vừa chỉ vào Phàn Nhược Băng, Nhược Băng vội vàng thi lễ, Triệu Quang Nghĩa kinh ngạc nói: “Vị hòa thượng này là một tú tài?”

Dương Hạo tiếp lời: “Đúng thế, vị tú tài này sớm đã có ý phò tá nhà Tống ta, hắn giả mạo làm tăng lữ để đến Thải Thạch Phàn, vất vả bao lâu mới vẽ ra được bản đồ sông Trường Giang. Thiên tuế mà có được tấm bản đồ này thì sẽ nắm rõ từng đoạn nông sâu rõ như lòng bàn tay. Dùng cầu nổi có thể đưa đại nhân qua sông. Hạ quan nắm được tin tức quan trọng này liền quyết định đi gặp Thiên tuế ngay”.

Triệu Quang Nghĩa mừng rỡ nói: “Dương đại nhân đúng là cái phúc của bản vương. Ngươi tới thật tốt, thật tốt quá. Việc này nếu như thành công thì cũng có phần của ngươi đó”.

Dương Hạo chần chừ nói: “Nhưng mà… hạ quan nhất thời tức giận giết chết sứ giả Khiết Đan, e rằng sẽ dẫn đến chiến tranh hai nước. Nếu như hạ quan chết rồi thì đã đành, nay lại sống sờ sờ quay về, triều đình sẽ phải ứng phó ra sao với bọn Khiết Đan?”

Triệu Quang Nghĩa cười lớn: “Chỉ là một tên Gia Luật Văn thôi mà, chết thì cũng chết rồi, người Khiết Đan làm sao? Giá mà Dương đại nhân biết được, tên Gia Luật Văn đó cùng cha hắn mưu phản ở Thượng Kinh, ấm mưu giết hết giới quý tộc Khiết Đan, nay binh lính phản loạn, âm mưu giết vua không thành, ngươi giết được con trai của tên phản loạn người Khiết Đan không trách tội ngươi đâu, mà còn phải cảm kích ngươi phen này ấy chứ, ha ha ha…”

“Có việc này sao?” Dương Hạo không hề biết tin từ Thượng Kinh nên vừa nghe được tin này đã không nén nổi niềm kinh ngạc.

Trời đã sáng. Triệu Quang Nghĩa nghi binh dẫn quân áp Thải Thạch Phàn, cho lính ra phá thuyền, nhân cơ hội gõ trống tiến vào, đánh tập kích doanh trại nhà Đường. Bên cạnh đó quân lính cũng đi gom được hàng đống thuyền nhỏ, bè gỗ, xếp chi chít trên mặt sông tạo thành một chiếc cầu nổi trên mặt sông Trường Giang.

Nhược Băng tự mình lấy tấm bản đồ ra chỉ điểm, chỗ nào nông, chỗ nào sâu, tất cả những cọc trụ dài ngắn, mặt nước rộng thế nào… tất cả những số liệu đó đều được hắn đo đạc lại. Đợi chiếc cầu nổi được kết xong, buộc chắc chắn vào hai cọc thì có thể đi lại vững vàng trên mặt nước được rồi.

Mục Vũ đứng sau lưng Dương Hạo trên con đường, nhìn thấy mặt sông xuất hiện một công trình như vậy mới hạ giọng hỏi: “Đại nhân chạy tới đây đúng lúc cấp bách thế này, hiến thủy đồ, hiến kế xây cầu nổi, đã được lòng tin của Tấn Vương rồi, bước tiếp theo ngài tính làm gì?”

Dương Hạo nói: “Ta vẫn cứ nghĩ ta đối với người Khiết Đan như thế thì sao có thể vào Thượng Kinh? Ngọc Lạc tuy là đã đi trước nhưng nàng không biết rõ thân thuộc nơi này, lại không thể tiếp cận với người trong hoàng cung.
Nếu muốn cứu Đông Nhi quay về thì tuy biết nàng đang ở đâu nhưng cung tường bao vây thế muốn khó thể với tới. Nhưng ta không muốn giả chết, như vậy sẽ dễ dàng hơn nhiều. Nếu như lấy thân phận Tống sứ đi sang Khiết Đan vào Thượng Kinh thì với tình thế hoàng hậu là người lên nắm quyền như hiện nay liệu ta muốn gặp nàng có còn dễ dàng? Đợi ta gặp được Đông Nhi, ta sẽ lập tức vạch kế hoạch cùng nàng tháo chạy, nàng chạy rồi ta sẽ về nước.
Ta là Tống sứ, ai dám khám xét xe của ta? Hoàng hậu Khiết Đan bị mất người cũng không dám nghi ngờ ta giấu trong xe. Nếu như có thể cứ thể cho qua chuyện thì ta sẽ có thể bình an đem nàng đi”.

Mục Vũ nghi ngờ nói: “Vậy… chúng ta làm sao có thể về được Lô Châu?”

Dương Hạo nhìn mặt nước sông trước mắt mà lo lắng bộn bề, trầm mặc một lúc lâu rồi mới nói: “Mọi việc tại nhân, ta cũng dò dẫm từng bước mà qua sông thôi, cứ tiến từng bước một”.

Coi thường người Tống thế công kém, bờ bên kia Dương Thu không hề nghi ngờ một chút gì. Đợi đến sáng, khi quân đi tuần ven sông phát hiện ra người Tống đaang làm cầu nổi trên sông mới vội vã bắn tên. Nhưng do mặt cầu dao động lại thêm có gió nên mũi tên bị gió thổi tạt bay hết xuống sông, không cách nào ngăn cản người Tống. Đến lúc này Dương Thu mới vội vàng chạy về Kim Lăng cấp báo.

Lý Dục đang cùng ngồi trong cung cầu phúc cùng các đạo sĩ, biết được tin không khỏi kinh ngạc, lập tức ra chiếu tập trung hết các quan trong triều nghị sự. Mọi người biết tin đều không khỏi bật cười: “Người Tống không biết đặc tính của nước, không biết nước sông tuy hiền hòa mà rất đỗi lợi hại, nếu như bắc cầu nổi trên những con sông nhỏ thì còn dễ, đằng này nước sông chảy cuồn cuộn, xem ra thì vô hại nhưng cả trăm trượng mặt sông như thế, sức công phá cũng không phải nhỏ, mà cầu phao lại dễ bị hủy, dễ gì làm nổi”.

Những đại thần tín cẩn của hắn cũng nói: “Từ trước đến nay chưa từng nghe thấy chuyện tương tự, người Tống quá ư mơ mộng viễn tưởng rồi”.

Lý Dục nghe thấy vậy cũng yên tâm, vui vẻ cười nói: “Đúng vậy, trẫm cũng cảm thấy Triệu Quang Nghĩa quá giỏi giở trò, người Tống ắt hẳn hết kế nên mới dùng hạ sách này. Xem ra trẫm kiên quyết chống chọi với quân Tống
cũng là có kết quả!” 

Chương 371:Không một vết tích. 

“Trò trẻ con” của Triệu Quang Nghĩa đã thành công. Khi người Tống tập trung hơn tám trăm binh lính lên bãi đầu, Dương Thu, Tôn Chấn đang chuẩn bị bổn cũ soạn lại thì cầu nổi của nhà Tống đã thành công cập vào bên kia bờ. Trên cầu, binh sĩ lập tức đem vô số những cây cọc ngắn dài cắm xuống nước, ngắn dài kết hợp vừa vặn, dùng thêm dây nối, thiết liên… làm thành già đỡ chắc chắn cho chiếc cầu nổi trên mặt sông Trường Giang cuồn cuộn.
Vô số binh lính nhà Tống đã lăm lăm qua sông.

Quân canh phòng thấy quân Tống đã làm nên kỳ tích, từ một điều ngỡ như không thể lại thành có thể nên tinh thần như chùng xuống, trái ngược với khí thế đang bừng bừng của nhà Tống. Dương Thu, Tôn Chấn tuy gắng gượng chống đỡ nhưng cũng chẳng chống được mấy, sau một thời gian cũng người chết kẻ hàng, kẻ chạy người trốn. Thải Thạch Phàn sa lưới.

Triệu Quang Nghĩa thân mặc áo giáp, ngạo nghễ sải bước qua sông Trường Giang, ngó ra bốn bề xung quanh.

Thuộc hạ của hắn chạy tới hỏi: “Thiên tuế, chúng ta có phải chiếm luôn doanh trại nhà Đường không hay đợi Tào tướng quân đến?”

Triệu Quang Nghĩa cười ngạo nghễ nói: “Binh quý thần tốc, đã qua sông rồi thì cứ đánh thôi. Chiếm lấy Kim Lăng. Thiêu cháy hết doanh trại của bọn lính Đường, hiệu lệnh cho ba quân lập tức lên đường”.

Tên lính nghe lệnh làm theo, để lại một đội binh mã dọc hai bên bờ Trường Giang bảo vệ cầu, còn lại những người khác lập tức tập hợp, không ngừng tiến về phía trước.

Cây cầu nổi này không được đứt, nếu như không có nó thì quân Tống khó lòng qua sông. Trận chiến này chỉ có thắng chứ không được phép bại. Nếu như nhất thời địch mạnh ta yếu, muốn tránh được thương vong là điều không thể. Hơn nữa nhà Đường lại kiên quyết phòng thủ, lương thảo cạn dần cũng nhất quyết thủ trong thành, nếu như cầu mà đứt thì quân Tống cũng chỉ còn nước ôm bụng đói mà đánh nhau. Do đó Triệu Quang Nghĩa tuy vội vàng đánh nhanh thắng nhanh nhưng cũng không dám không coi trọng sợi dây sinh mạng này.

Hắn cho Dương Hải Thanh và Trục Vũ Minh ở lại cùng bọn lính canh giữ cây cầu, còn mình thì đích thân dẫn quân chạy không ngừng về phía trước.

Ngoài thành Vu Hồ, Tào Bân được tin Triệu Quang Nghĩa đã qua được sông và đang thẳng tiến về phía Kim Lăng. Đại tướng Hắc Ân Thành thì không khỏi lo lắng: “Tấn Vương Thiên tuế khinh địch mạo hiểm vào thành, ngộ nhỡ có gì xảy ra thì tướng lĩnh ba quân đi đời mất. Chúng ta không nên ở lại đây nữa, mau nhập hội với Tấn Vương đi thôi”.

Tào Bân trầm ngâm trong chốc lát rồi lắc đầu nói: “Hồ Khẩu mười vạn quân Đường còn đang không chút thương vong, bọn chúng nhất định sẽ đuổi theo. Nếu như ven đường không có quân của chúng ta chặn đánh thì chúng có thể đi tiếp lương thảo, chúng ta sẽ không có đường lui. Tốt nhất là chúng ta cứ tận lực ở đây, còn về phía Tần Vương…”

Tào Bân mỉm cười nói: “Từ sau khi Lâm Hổ tử mất, nước Đường đã mất đi kiện tướng, mà Tần Vương lại là cấm quân tinh nhuệ, dưới trướng ông ấy thì mỗi người đều là bách chiến, gặp phải cường địch nào cũng không cần phải lo lắng”.

Hoắc Ân Thành nhíu mày nói: “Nhưng… chúng ta cứ ở đây không rút binh thì bao giờ mới có thể hợp binh cùng Tần Vương? Như vậy có đi ngược lại kế trước khi quan gia dấy binh chúng ta phải tập hợp vào không?”

Tào Bân cười nói: “Trên chiến trường phải lập tức vạn biến. Ngươi hãy nghe theo hiệu lệnh của ta, lập tức tấn công thành”.

Hoắc Ân Thành không khuyên nữa, chỉ biết nghe theo mệnh lệnh, nhanh chóng chỉ huy quân tiến vào thành.

Tào Bân đứng ở chỗ cao, nhìn xuống thành Kim Lăng, như nghĩ ngợi gì đó rồi lẩm bẩm: “Tần Vương vội gì chứ, đợi không nổi ta sao? Nếu như không muốn đợi ta thì ta cứ thức thời một chút, đợi Tần Vương chiếm được thành Kim Lăng rồi ta sẽ gặp vậy…”

*************************************
Tin Dương Hạo vẫn còn sống đã được Triệu Quang Nghĩa phái người tốc mã cấp báo về kinh thành.

Dương Hạo gặp cơn nguy hiểm mà không chết. Sau khi cuộc tự thuật của hắn được các quan chỉnh lý lại đã tập hợp và báo cáo cả công lao của Nhược Băng, lập tức công lao to lớn này không thể không thiếu hắn được.
Nhược Băng tuy chịu khổ hơn hai năm trời bên bờ sông Trường Giang nhưng giờ thì một bước lên trời, công sức cực khổ hai năm trời cũng không phải vô ích. Cả ngày cứ tỉ mẩn như ong đi hút mật, giờ thì đã có thể suốt ngày ở bên hầu hạ Tấn vương.

Dương Hạo không biết được việc Triệu Quang Nghĩa tự mình báo thẳng tin về kinh, hơn nữa chiến cuộc ở Giang Nam vẫn chưa kết thúc, e rằng quan gia cũng không có lòng dạ nào mà nghĩ về chuyện Bắc quốc, nên hắn tạm thời ở bên cạnh Triệu Quang Nghĩa.

Giang Nam nát vụn, đội quân rã rời, Lý Dục thấp thỏm trong lòng, cố kham đánh một trận nhưng kế kéo dài thời gian chống đỡ cũng đã bị phá sản. Nước Đường bị nước Tống đè bẹp đã là một kết cục tất nhiên. Dương Hạo hiện chỉ hy vọng kết cục này sớm kết thúc. Chỉ cần ở đây một ngày còn là chiến trường thì sẽ càng có nhiều người dân vô tội bị liên lụy, người chết là bách tính trăm họ. Sớm một ngày tiêu diệt nước Đường là sớm một ngày người dân được yên ổn, hắn cũng có thể sớm một ngày quay trở về Biện Lương.

Ở bên Triệu Quang Nghĩa, hắn không hề lãng phí cơ hội tốt này, điều động quân thế nào, tác chiến thế nào, bố trí hành quân thế nào, vận chuyển lương thực ra sao, trấn an lòng quân như thế nào, thậm chí cả các chiến thuật tiến công, phòng ngự hắn đều ra sức tìm hiểu và học hỏi.

Đúc kết kinh nghiệm từ thực tế trực tiếp tốt hơn nhiều so với việc học trong sách vở. Ở bên cạnh Triệu Quang Nghĩa, xem hắn nghị sự, phát hiệu lệnh, chỉ huy tác chiến qua sông, xem hắn tiếp thu tình hình quân sự, điều khiển chỉ huy chiến đấu, đứng ở chỗ cao mà quan sát toàn cục, càng dễ nắm bắt được rất nhiều chiến thuật.

Trong hoàn cảnh bị buộc phải lựa chọn để đánh Giang Nam, nhưng hắn đã chuẩn bị rất nhiều những điều kiện có lợi ở Tây Bắc, đối với những tiền đồ trước mắt hắn cũng không dám đắc ý. Những cái ở tương lai là những cái chưa biết, dẫu cho có thực lực nhưng những đánh giá khách quan về chuyện được mất trong chiến tranh rồi cũng ghi nhớ mãi trong lòng. Cũng rất hữu dụng nhưng hắn rất hiểu, đó không phải là cách sáng suốt để giành chiến thắng.

Cái mà học giả đời sau hiểu được, thì ở thời đại này người ta có thể thực sự lý giải hay không? Không, họ còn hiểu hơn bất cứ một người nào khác, không một ai có thể hiểu rõ hơn chính kẻ địch của mình, càng hiểu rõ những sở trường và điểm yếu của kẻ địch. Nhưng lý giải và hiểu khoogn có nghĩa là nhất định phải giải quyết, nằm ở muôn vàn điều kiện, họ chỉ có thể khống chế, lựa chọn những cách thích hợp mà không phải là lựa chọn khách quan thích hợp nhất của lịch sử.

Từ sau khi trở thành một phần của lịch sử, trong cái mê cung này hắn chỉ có thể tuân theo hết thảy những nguyên tắc, lợi dụng những điều kiện khách quan ở đây chứ không thể chỉ đạo hành vi của bản thân dựa trên những căn cứ sau này. Huống hồ…người hậu thế đứng ở góc độ tất cả đã xong xuôi để suy nghĩ, những kết luận được đưa ra có phải là khách quan hay không, ai là người đúng nhất? Tất cả đều rất khó nói.

Khi hắn đặt mình trong đó, khi ứng biến với tất cả dựa trên những kinh nghiệm của bản thân, những phản ứng và lựa chọn của đối thủ có thể khiến động tác của hắn thay đổi, thế là dựa vào những đánh giá và lựa chọn của lịch sử khi hắn đưa ra bước đầu tiên thì những kinh nghiệm đó cũng không có tác dụng gì.

Ví dụ như trong lịch sử hắn đã được mất gì đó trong một trận chiến với kẻ địch, sau đó vượt thời gian, tiến vào trận chiến này thì hắn có thể thành thần của cuộc chiến không? Đó chỉ là những hoang tưởng vô tri của thuở nhỏ. Khi hắn bước chân vào cuộc chiến này nếu như không thể chỉ đạo cuộc chiến thì chỉ có thể làm một tấm bia đỡ đạn, dẫu cho hắn có nắm chắc kết cục thì cũng không thể thay đổi được kết quả.

Nhưng nếu như hắn trở thành một chủ soái, hắn sẽ có thể thay đổi được những sai lầm này không? Đối với đối phương còn có cơ hội để đi theo những nguyên tắc này hay không? Đối phương cũng nhờ đó mà thay đổi, thì những thứ mà hắn nắm chắc trong lòng bàn tay cũng vô dụng. Đây giống như một quan sát viên, ngồi dưới võ đài rồi nhìn ngó quan sát hai quyền sư khác. Trên võ đài ai là người thảm bại hắn nhìn rất rõ, cũng có thể phân tích rõ mồn một trong đầu, nhưng để cho thời gian đảo ngược lại, trên võ đài lấy kẻ bại trận thì hắn đã quá lợi dụng rồi.

Từ việc thay đổi đấu pháp, khi chiếm lợi thế từ cú đấm thứ nhất, phản ứng của đối phương cũng theo đó mà thay đổi, tiếp sau đó không thể nào diễn tiến tình hình theo những lý giải trước đó được nữa, trừ phi cú đấm thứ nhất đó khiến đối phương gục ngay tại chỗ, nếu không hắn chỉ có thể dựa vào thực lực mà tiếp tục chiến đấu. Những dự tính ban đầu đã không còn tác dụng, những kế hoạch của hắn dường như đều mất hiệu quả, nếu như hắn vẫn cứ ngoan cố hành động theo những phân tích ban đầu thì hắn sẽ chết một cách còn thảm hơn lúc trước.

Do vậy, hắn phải dốc toàn lực để học hỏi, những dự tính tương lai đã thay đổi, hắn không cách nào có thể đi ngoài quỹ đạo, chỉ có thể dựa vào tài trí của bản thân.

“Đại nhân” Mục Vũ thúc ngựa chạy tới bên cạnh hắn, Dương Hạo khen: “Cấm quân huấn luyện có chất. Ngàn người như một, tiến lên như một tòa thành trì bằng thép đang đi động, quả nhiên rất giỏi”.

“Đúng vậy!” Ánh mắt của Mục Vũ lướt qua đoàn quân trước mặt, hỏi nhỏ: “Đại nhân, nếu như chúng ta có được đất Bắc thì triều đình sẽ có ngày… phát động chiến tranh không?”

“Hy vọng là không, nếu như có, cũng sẽ không đánh đến cùng…” Dương Hạo nhẹ thở dài: “ Nếu như không phải sự đã rồi thì ta cũng không muốn gây chiến với họ. Quân vương muốn thần chết, thần chỉ còn nước chết, ta giả chết để thoát thân cũng là vì mục đích này, tiếc là đã bại. Nếu như sau này… quân bắt thần chết…”

“Vậy đại nhân làm thế nào?”

Dương Hạo trầm mặc trong chốc lát rồi mở miệng cười: “Vậy thì thần cũng không còn cách nào khác, đành bắt vua… chết trước thần!”
Mục Vũ nghe thấy liền nắm chặt đuôi đao, mặt đỏ gay lên nói: “Tiểu nhân xin thề sẽ đi theo đại nhân!”

Phía trước có một người cưỡi ngựa đi tới, Dương Hạo vội nói: “Chớ có lên tiếng”.

Người đó đeo một lá cờ đỏ hình tam giác trên lưng, thúc ngựa đi, lá cờ bay phấp phới trong gió. Vừa nhìn thấy lá cờ đó bọn binh lính vội dạt sang hai bên nhường đường, người kị mã như ngọn gió lốc lướt qua bọn vệ binh, xông thẳng vào chỗ của Triệu Quang Nghĩa rồi mới thắng ngựa. Bước lại gần, hắn quỳ xuống bẩm báo: “Bẩm, phía trước có một đoàn quân Đường đang tiến đến”.

Triệu Quang Nghĩa ghìm cương hạ giọng nói: “Người tới ở phương nào? Có bao nhiêu binh mã?”

Tên kia vội báo: “Trên cờ có thêu chữ Đỗ, xem lai lịch thì chắc là thuộc hạ của quân thiên đức Đỗ Chân, khoảng hơn vạn người”.

Triệu Quang Nghĩa ngửa mặt lên trời cười to: “Chỉ có khoảng hơn vạn binh mã thôi ư, dám đến xin chết à? Ha ha ha, truyền cho ba quân nhanh tiến lên phía trước, san bằng bọn hắn cho bản quan”.

“Thiên tuế xin chậm đã”.

Đoàn cấm vệ quân của đô chỉ huy sứ nghe hiệu lệnh vội chậm bước, đến bên Triệu Quang Nghĩa nói: “Vương gia, đoàn quân của chúng ta mới qua sông, quân sĩ tuy mạnh nhưng thể lực không đủ, tuy là quân ta nhiều hơn chúng nhưng nếu như cương chiến thì cũng bị tổn thất không ít. Nếu như quân của chúng chỉ hơn vạn người mà dám nghênh chiến chúng ta thì hiển nhiên là chúng chỉ biết rằng bị mất Thải Thạch Phàn mà không biết chúng ta có bao nhiêu người đã qua sông, càng không dự liệu được chúng ta không hề nghỉ ngơi gì mà đã lên đường. Nếu đã như thế thì hà tất phải đương đầu, chúng ta chi bằng cứ lùi một bước, mai phục chúng, giết chúng sau cũng không muộn, vừa giảm được số lượng thương vong của chúng ta vừa tránh được cảnh chúng chạy toán loạn bốn phía khó bề truy kích”.

“Ừm.. lời của ngươi nói cũng có lý”.

Sau khi qua sông Triệu Quang Nghĩa đã thấy không còn vội vã nữa, hơn nữa tướng lĩnh cấp cao Lục Diệp Lan cũng là người mà Triệu Quang Nghĩa tin tưởng, lời của hắn lẽ nào lại không được xem trọng. Hơn nữa phân tích của Lục Diệp Lan cũng thấu tình đạt lý, nếu như giảm bớt được thương vong thì chẳng tốt hơn sao?

Triệu Quang Nghĩa lập tức hạ lệnh cho ba quân dừng bước, chạy trở về. Ba mươi dặm phía Bắc từ Thải Thạch Phàn có một cái hồ lớn gọi là Từ Hồ, cách Từ Hồ về phía tây không xa lắm là Trường Giang. Triệu Quang Nghĩa phái quân chặn đầu đoàn quân của Đỗ Chân, còn mình là Lục Diệp Lan dẫn hai vạn binh đến chỗ giữa Từ Hồ và Trường Giang, đợi đội quân giả vờ bại trận quay về, dẫn theo hai vạn người ngựa đến chỗ phục kích này.

Trong bụi cỏ, Dương Hạo nằm sấp ở đó náu mình, đột nhiên nghe thấy một loạt tiếng động ầm ầm, Phàn tú tài bò lại. Dương Hạo lười nhác gọi hắn lại, Phàn Nhược Thủy biết được hắn là tâm phúc của Triệu Quang Nghĩa, lại là bá nhạc của mình nên vừa thấy hắn liền lộ vẻ thân thiết: “Dương tả sứ, mấy ngày nay chỉ thấy Tống quân luyện tập, có thể chinh chiến, nay mới biết danh tiếng không phải là hư. Binh mã nước Tống tướng có mưu, sĩ có dũng, quân nước Đường làm sao mà có thể trở thành đối thủ được? Đỗ Chân chỉ có hơn vạn người, đội quân hơn năm vạn của thiên tuế còn cần phải đánh ư? Chỉ cần lấy số đông áp đảo bọn chúng thì Thiên tuế lại quá cẩn thận như vậy, đội quân như vậy mà không đánh thắng thì còn đánh thắng nổi ai nữa?”

Dương Hạo thấy tên này có chút vô xỉ, bèn cười lạnh mà nói: “Trên chiến trường thì phải có thiên thời địa lợi nhân hòa, cơ mưu, đó là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thắng thua của trận đánh, không phải cứ đông là có thể giành thắng lợi, từ cổ chí kim lấy ít địch nhiều, thậm chí lấy tám trăm người mà đánh bại đội quân hơn mười vạn người cũng không phải là không có, thiên tuế cẩn thận như vậy là đúng chứ sao”.

Phàn tú tài cười khô nói: “Tả sứ nói đúng, Phàn mỗ không biết dụng binh đã thành trò cười rồi”.

Dương Hạo cười cười, hắn đang nằm chỗ đó đến vô vị, có người nói chuyện cũng hay, bèn nói: “Đỗ Chân là người thế nào? Ngươi có biết không? Binh mã của hắn tuy ít nhưng nghe nói Thải Thạch Phàn bị tấn công liền không nề hà sinh tử mà dẫn binh đến, cũng là một tướng tài hiếm có đấy chứ”.

Phàn Nhược Băng nói: “Tại hạ ở Thải Thạch Phàn đã ba năm rồi, cũng có hiểu đôi chút về tướng lĩnh và nơi trú quân. Mạt Lăng quan có hai tướng cố thủ, một người là Trịnh Ngạn Hoa, là chủ soái của Mạt Lăng quan, túc trí đa mưu, là một nho tướng, dưới trướng hắn có hơn một vạn quân. Còn người kia là Đỗ Chân, là một đại tướng dưới trướng của Trịnh Ngạn Hoa, dũng mãnh thiện chiến, Trịnh Ngạn Hoa phái hắn tới đây hiển nhiên là đã biết rõ Thải Thạch Phàn đã thất thủ, hắn cũng không giữ vững Mạc Lăng quan nữa rồi. Nhưng hắn xuất binh đến giải cứu thế nào đây?”

Dương Hạo cảm khái mà thở dài nói: “Đúng vậy, trên đời này tuy có nhiều việc đã thay đổi nhưng có những việc mà chỉ có một người mới có thể ảnh hưởng tới, cái gì đến sẽ phải đến, vận mệnh của nước Đường đã được định đoạt rồi”.

Phàn Nhược Băng không biết suy nghĩ kỳ quái này của hắn có ở đâu ra, nghe nói thế không hiểu ra sao chỉ biết cười bồi theo một tiếng.

Dương Hạo thay đổi tư thế, thuận miệng hỏi: “Phàn tiên sinh trong nhà có ai?”

Phàn Nhược Thủy than thở: “Song thân phụ mẫu, thê tử con cái đều có, than ôi, ba năm nay Phàn mỗ xa nhà, rời xa vợ con và song thân phụ mẫu, ở lại Thải Thạch Phàn, đúng là hổ thẹn với họ quá. May thay được tả sứ dẫn tiến, Tấn vương ưu ái, Phàn mỗ cuối cùng cũng có ngày xuất đầu lộ diện, những ngày sắp tới có thể báo hiếu cho cha mẹ, đối xử tử tế với thê tử”.

Dương Hạo trêu chọc nói: “Như thế là tốt, Phàn tiên sinh phải ghi nhớ những gì mà phụ mẫu và thê tử bỏ ra vì ngươi mới đúng. Những ngày tới được làm quan to, có ngựa cưỡi, tuy là những điều đang mừng nhưng cũng đừng có mới nới cũ, đừng có là một kẻ như Trần Thế Mỹ bị người đời sau khinh ghét hahaha…”

“Đại nhân chỉ dạy phải ạ”. Phàn tú tài tươi cười hớn hở: “Chỉ là không biết cái tên bị người đời khinh ghét Trần Thế Mỹ đó là vị nào ạ?”

“Haha, người ấy hả, hắn ta là đồng hương của ta… Không phải, không phải…”
Đang muốn lấy lòng Dương Hạo, Phàn Nhược Băng đột nhiên căng thẳng nói: “Đại nhân bảo cái gì không phải?”

“Không phải là không phải, mà là người thủ giữ ở Mạc Lăng quan – Đỗ Chấn có gì đó không phải…”

Dương Hạo nhíu đôi lông mày, suy nghĩ một hồi lâu rồi đột nhiên đứng phắt dậy nói: “Thiên tuế ở đâu, Thiên tuế ở đâu?”

Đang đứng ở chỗ mai phục đột nhiên thấy có người đứng lên, đang muốn quát lớn chợt nhận ra thân tín Tấn vương thiên tuế đang đứng bên cạnh hắn, có vài người nữa không có thân phận gì nhưng cũng đã từng thấy cưỡi ngựa đi bên cạnh Tấn vương, Tấn vương nói chuyện với bọn hắn cũng hết sức hòa nhã, vừa nói vừa cười, lập tức không dám răn dạy mà vội vàng chạy khỏi chỗ ẩn nấp, chạy lại chỗ Thiên tuế đang đứng.

Triệu Quang Nghĩa đang cúi thấp người sau một lùm cây để trông tình hình của địch, Dương Hạo liền vụt xuất hiện sau lưng, đứng bên cạnh Triệu Quang Nghĩa, dồn dập hỏi: “Thiên tuế, hạ quan đột nhiên nảy sinh nghi ngờ, do vậy nên phải cấp tốc chạy đến bẩm báo. Xin thiên tuế tham khảo”.

Triệu Quang Nghĩa giờ rất khách khí với Dương Hạo, vốn xuất thân đã là quan của triều đình, khi đó lại còn là người được coi trọng. Dù chỉ là đồng hương hoặc là môn đồ của cùng một thầy giáo đã có thể cảm thấy gần gũi mà giúp đỡ lẫn nhau rồi, huống hồ đây là một viên quan trong triều. Hơn nữa Dương Hạo còn đem tấm thủy đồ tới, khiến hắn nhờ đó mà qua sông được nên hắn mới có được chiến thắng đáng mừng này. Khi nghe Dương Hạo nói thế hắn làm mặt ôn hòa mà nói: “Dương tả sứ có gì nghi vấn không tiện nói ra?”

Dương Hạo bèn kể lại câu chuyện hắn mới nghe được từ Phàn Nhược Băng thuật lại, rồi nói: “Thiên tuế, nếu như những tin tức Nhược Băng nghe được là đúng thì Mạc Lăng quan chỉ có hai vạn binh mã, Trịnh Ngạn Hoa liều lĩnh phái một nửa số quân đến thật khiến người ta nghi ngờ. Thiên tuế nghĩ xem, Trịnh Ngạn Hoa túc trí đa mưu như thế làm sao có thể dễ dàng để cho người ta biết rõ hắn có bao nhiêu binh mã? Mà thông tin về hai vạn quân đóng tại Thải Thạch Phàn bị tiết lộ thì ắt hẳn hắn cũng đã biết. Chúng ta là bên tấn công, binh lực ắt hẳn là nhiều, Trịnh Ngạn Hoa làm sao có thể yên tâm mà phái một nửa số quân của hắn đi như thế? Chắc chắn là có thể thu phục Thải Thạch Phàn hay sao?”

Ánh mắt Triệu Quang Nghĩa chợt lóe lên, mặt dần dần sầm lại.

Dương Hạo nói: “Mạc Lăng quan không phải là nơi khó tấn công, đến Phàn Nhược Băng một kẻ không biết gì về binh mã còn hiểu được việc Thải Thạch Phàn bị mất, Mạc Lăng quan căn bản không có nguy hiểm và có thể thủ, chắc chắn bị mất. Trịnh Ngạn Hoa không biết ư? Hắn tập trung toàn bộ lực lượng tử thủ, hoặc là muốn vứt bỏ cả thành mà chạy trốn, hoặc là khuynh sào xuất động, cứu lấy Thải Thạch Phàn, vốn binh lực yếu kém mà còn phân ra như thế, đó là cách làm của một tướng giỏi túc trí đa mưu đó ư?”

Ánh mắt Triệu Quang Nghĩa lóe lên không ngừng, rồi hắn trầm giọng hỏi: “Vậy Dương tả sứ cho rằng hắn có ý đồ gì?”

Dương Hạo trầm giọng nói: “Mạc Lăng quan có đến một nửa là thủy binh, một nửa là bộ binh, đều là nhưng lực lượng mà Đỗ Chân dẫn đến nghênh chiến với chúng ta, vậy một nửa số thủy binh đến nay vẫn còn ở Mạc Lăng phải không?”

Triệu Quang Nghĩa biến sắc, nói từng chữ từng chữ: “Dương đông kích tây, muốn phá hủy cầu phao của ta ư?”

************************************
Triệu Quang Nghĩa dụng binh tuy không được như các lão tướng Tào Bân, Phan Mỹ, nhưng sát phạt quyết đoán, cũng có phong thái của một tướng lĩnh. Những nghi ngờ của Dương Hạo tuy chỉ là có khả năng, nhưng Triệu Quang Nghĩa không dám coi thường, lập tức chia một vạn binh ra lệnh cho Dương Hạo và Nghiêu Lưu dẫn cấm vệ quân lập tức quay về Thải Thạch Phàn.
Nghiêu Lưu vẫn còn rất trẻ, cơ thể cường tráng, ánh mắt cương nghị, trông có vài phần có cái thần vận giống như La Khắc Địch

Nơi này cách Thải Thạch Phàn không xa, hai người vội vã dẫn binh quay lại, khiến Dương Hải Thanh và Trúc Vũ Minh không khỏi giật mình, còn tưởng rằng Tấn vương chưa chi đã bại trận nhanh như vậy. Vừa nghe thấy Dương Hạo nói, hai người vội cẩn thận cảnh giác, vội chèo những chiếc thuyền của nhà Đường ra xa, bố trí quân cảnh giác đi men theo Trường Giang.

Thuyền chiến của quân Đường đều rất sắc bén, nếu như chúng chủ động xuất kích thì chiến cục cũng chẳng có ngày hôm nay, tiếc rằng chúng đã sớm khiếp sợ uy phong của nhà Tống, lại có kế vườn không nhà trống của Lý Dục, kiên quyết cố thủ, tuyệt đối không chủ động xuất binh nên hôm nay mới thất bại.

Từ xa xa nơi bóng chiều quả nhiên có một đoàn quân đang giương buồm đến. Quân Tống hai bên bờ sớm đã chuẩn bị nên lập tức vào thế sẵn sàng chiến đấu, giương cung, đội thuyền chiến mười mấy chiếc tiến lên phía trước, bên trên chất đầy củi và cỏ, chi cần đợi thuyền của địch đến thì sẽ đốt lửa cho thuyền chạy về hướng địch. Tuy những con thuyền không thiện chiến nhưng hai bên bờ đã có cung thủ hỗ trợ, sẽ tập trung hết thuyền chiến lại với nhau, chuẩn bị một trận sống chết để bảo vệ cây cầu.

Người tới quả nhiên là Trịnh Ngạn Hoa. Hắn sai cấp dưới là Đỗ Chân dẫn binh đi giương đông kích tây, còn mình thì đích thân xuất binh, mục đích là muốn phá hỏng cây cầu phao này. Cây cầu này rất quan trọng, chỉ cần phá được cầu thì quân Tống sẽ hết đường lui. Có cây cầu, bọn chúng có thể đem vô số quân đến đây, vận chuyển lương thực đến cho quân Tống, bọn chúng lại hùng dũng tiến bước mà không phải lo nghĩ, thế nên nhất định phải đánh sập cây cầu, bất kể có phải trả giá gì đi chăng nữa.

Khi hắn vội vàng tới, hai bên bờ cung tên bắn ra như mưa, trên mặt nước có mười mấy chiến thuyền cháy rừng rực lao đến, quân Tống đã sớm dự liệu nên trận đánh lén đã biến thành một trận địa chiến. Lúc này, quân của Đỗ Chân hơn một vạn quân đang thảm bại mà chạy tán loạn, cho quân Tống thuận lợi xiết chặt vòng vây.

Lúc này đây, ngọn cờ giương cao, pháo hiệu nổ liên hồi, phía Tây có Trường Giang, phía Đông có Từ Hồ, phía Nam là Lục Diệp Lan, Triệu Quang Nghĩa đang cắt đứt hết đường tháo lui của hắn, đánh cho hắn không còn lối thoát. 

Chương 372:Vây thành. 

Nói thực, Đỗ Chân thực là một viên mãnh tướng, nhưng nếu như bàn về dũng mãnh, quân Đường tuyệt đối sẽ không thể so sánh được với quân Tống, thêm nữa sự gia tăng binh lực còn kém xa, tiến vào vòng vây, nhân mã của hắn lập tức bước vào trận chiến gian khổ, bị bên quân Tống giết hại.

Đỗ Chân không phá vây ngay lập tức, cho dù sự dũng mãnh của quân Tống, hắn lập tức phá vây chưa chắc đã thành công, nhưng hắn đến thử cũng không dám làm, vì hắn cần tranh thủ thời gian cho tuyến binh mã Trịnh Ngạn Hoa, dù toàn quân bị diệt đi chăng nữa, chỉ cần chủ soái Trịnh Ngạn Hoa có thể hủy được cầu nổi của người Tống thì cũng xứng đáng. Hủy bỏ cầu nổi, người Tống lại muốn vơ vét vật tư để làm cầu mới, lại còn cần thời gian mấy ngày, thời gian vàng bạc mấy ngày ấy, chỉ cần quân Đường nắm bắt được thời cơ cuộc chiến, tập trung các lộ binh mã tấn cong và tiêu diệt thì có thể xóa bỏ quân xâm lược.

Mà cái sự tính toán này, bọn họ thậm chí còn không kịp báo cho Kim Lăng, hôm nay quả nhiên đã ứng chiến, là sự bàn bạc của Trịnh Ngạn Hoa và cá nhân hắn, sứ mệnh của họ chỉ như con thiêu thân mà thôi, liều chết lao vào đám lửa hoàn thành sứ mệnh, còn về triều đình có nắm bắt được thời cơ cuộc chiến hay không, thì các quan văn võ trong triều phải tự phán đoán, hoặc là họ sẽ vứt bỏ cái cơ hội khó có được này, vẫn cứ chờ đợi một cách bị động co rút thành trì, nhưng đó đã không phải là chuyện mà hắn có thể hao tâm nữa, hắn là người Đường, là một viên Đường tướng, hắn tự biết thân phận của mình, chết không uổng.

Đỗ Chân quyết tâm chết để làm một mồi nhử khi nước gặp nạn, thấy bị chủ lực quân Tống bao vây không sợ hãi, mà hắn còn lấy làm mừng, hắn chỉ huy một bên kháng lại, một bên thì chuyển dời số lượng nhỏ của Triệu Quang Nghĩa, làm ra cái tư thái phá vây, cố gắng lôi kéo quân chủ lực quân Tống, vì chủ soái Trịnh Ngạn Hoa mà chiếm lấy thời gian vàng ngọc.

Chiến hạm của Trịnh Ngạn Hoa còn chưa đến bên cầu phao, liền gặp một trận mưa gió rền dữ, mỗi chiến hạm đều bị cắm đầy tên, chưa giao chiến mà đã thiệt nhân mã, lập tức có mấy chục hỏa thuyền phong tỏa mặt sông đại giang, đánh tới chiến hạm không hề nể nang.

“Tướng quân sớm đã có sự chuẩn bị!”

Trịnh Ngạn Hoa giật mình, lập tức nhìn về phía cột buồm xa xa rồi lại quay về phía binh sĩ hô: “Đã phát hiện ra quân Tống, tướng quân Đỗ Chân đã bị bao vây”.

Mặt Trịnh Ngạn Hoa biến sắc, tập kích bất ngờ, tập kích bất ngờ, công kích chưa có chuẩn bị mới gọi là tập kích bất ngờ, không thể ngờ kế giương đông kích tây này lại dễ dàng bị quân Tống phá được, xem ra, quân Tống sớm đã đoán được sự đến của hắn, hắn còn có thể đắc thủ sao?

Trong lòng tràn ngập hi vọng mình có thể dựa vào kỳ quân mà có được kết quả kỳ diệu, thật không ngờ Triệu tiết độ lại bị rơi vào nơi đáng hối hận, nhìn thấy hỏa thuyền lái tới bị thu, rồi hàng loạt tiếng hò reo ầm ĩ của người Tống càng ngày càng gần hắn, Triệu đại tướng quân quả nhiên đưa ra quyết định: “Đi!”

Một mũi tên chưa được bắn ra, vài huynh đệ đồng đội lấy tính mạng làm mồi nhử và Triệu tướng quân tung hoành đại giang giỏi thủy chiến đã tiền đội biến thành hậu đội, hậu đội biến thành tiền đội, dựa vào tốc độ vô địch, triển khai thủy quân đã được huấn luyện nghiêm chỉnh của hắn rat rước mặt quân Tống, sự cao siêu của việc điều khiển thuyền, trước khi hai quân giao đấu, họ bỏ trốn mất dạng.

Dương Hạo và Nghiêu Lưu bất chấp khó khăn chỉ huy cấm quân chiến sĩ đã từng được huấn luyện vội vàng và sơ lược biết cách điều khiển thuyền, một nửa lưu động nhờ vào lực nước Trường Giang, đi từ từ tiến về phía quân địch, do tốc độ thuyền chậm, các binh sĩ dùng lực ở hai bả vai dùng để gõ trống trận, tiếng trống gõ vang, sau đó họ thấy quân địch đến trước mặt và kỹ thuật điều khiển thuyền thành thạo liền xoay thuyền lại, sau đó lướt trên mặt nước như bay, nhanh đến mức chúng muốn đuổi cũng chẳng thể đuổi được.

Đội quân như vậy, làm sao có thể thất bại!

Dương Hạo thầm than thở, hắn giờ đã hiểu, sự nhanh và mạnh của con bướm nhỏ đập cánh, thế giới này đã có sự thay đổi rất mạnh mẽ, sự thay đổi này đã đủ để ảnh hưởng tới rất nhiều đại sự của lịch sử, nhưng có vài thứ không phải hắn có thể thay đổi được, thực lực quân sự, cục diện chính trị, nhân tính,……

Quân Đường nhiều năm gom góp, một quốc chúa đùa gió trêu trăng, trước mặt quân Tống, căn bản chẳng có sức mà kháng lại, vị tướng như Lâm Hổ Tử vẫn còn sống thì đã không ra nông nỗi này, song giờ hắn chẳng qua kéo dài vài ngày, để Đường Quốc kéo dài hơi tàn vài ngày, chẳng có ai giúp được Lý Dục, đến thần Phật cũng đành bất lực.

Đỗ Chân toàn thân nhuốm máu đứng ở trên cao nhìn xuống phía Thái Thạch cơ, nhìn về phía cột buồm di động, đã hiểu được kế hoạch tập kích đánh úp bị thất bại, nhân mã của Triệu soái bị hủy nhanh như vậy, sợ…sợ rằng chúng căn bản chưa từng giao đấu với quân Tống, hắn trở thành một binh tốt vô dụng bỏ đi, tất cả những cái đã có hy sinh hết sạch.

Đỗ Chân buồn bã, tình hình giờ hắn báo quốc, chỉ có thể một đường sinh nào đó cấp dưới thề sống chết, Đỗ Chân dẫn thân binh vệ đội đến ngăn chặn đường lui của Triệu Quang Nghĩa, vì các huynh đệ đồng chí mà giành lấy con đường sống, hắn dùng máu thét ra lệnh lập tức phá vây, còn mình thì dẫn thân binh vệ đội thắt cổ phải trái, đảm bảo lỗ thủng sẽ không bị quân Tống lấp kín.

Triệu Quang Nghĩa phân một nửa quân để Dương Hạo dẫn binh, kết quả cuộc ẩu đả liều chết của Đỗ Chân bị hắn phá ra một lỗ thủng, không khỏi vừa giận vừa sợ, Triệu Quang Nghĩa cũng không kiềm chế được, lập tức mặc giáp lao vào đoàn chiến, cầm lấy một cây côn thép, lao về phía Đỗ Chân, thân binh bên cạnh sợ hắn gặp nguy hiểm vội bảo vệ bên cạnh hắn, Triệu Quang Nghĩa cầm thanh côn khí thế hừng hực, đằng đằng sát khí lao đến.

Máu nhuốm đỏ chiến bào của Đỗ Chân, tay cầm cây thương, máu tươi chảy theo cây thương, đang cố gắng ngăn cản sự tấn công mãnh liệt của quân Tống, Triệu Quang Nghĩa đến, hét lớn một tiếng, tay cầm côn thép vung mạnh về phía Đỗ Chân.

Đỗ Chân còn chưa kịp nhìn xem đó là ai thì nghe thấy một tiếng sét đánh ngang tai, tiếng côn đập trúng vào đầu, Đỗ Chân lập tức giơ vai lên chặn ngang hét: “Khai”.

Tiếng “Keng” phát ra, thương côn tương giao, trường thương hơi cong, sau đó lại thẳng lại, hai vai Đỗ Chân run rẩy, bàn tay cũng run lên, không khỏi thầm giật mình: “Tên này là tên nào, côn mạnh quá”.

Chiếc côn kia văng ra, đại hán mặc giáp cầm côn xoay người, đứng ở phía không xa mượn thế lại tiếp tục đánh xuống, không để cho hắn có thời gian thở, trước sau phải trái Đỗ Chân toàn là người, muốn xê dịch cũng khó, đại thương không kịp đánh trả lại quân địch, dưới tình thế cấp bách chỉ có thể đưa ngang cây thương ra đỡ.

“Haiizzzz”. Côn thứ nhất vừa đỡ được thì côn thứ ba lại bổ tới, chỉ nghe thấy tiếng “Răng rắc”, đại thương trong tay Đỗ Chân không ngăn được lực cực mạnh từ cây côn thép bổ tới, thương gãy, tiếng côn giáng mạnh bổ vào đầu Đỗ Chân, máu tươi tóe ra, cây côn của Triệu Quang Nghĩa dường như bổ một mạch xuống dưới bụng.

Triệu Quang Nghĩa thu côn lại, nhìn đám quân Đường bỏ chạy, gằn giọng hét lớn: “Năm vạn giết một vạn, còn để chúng bao vây, bổn vương còn mặt mũi gì nữa? Đuổi theo!”

****

Dương Hạo thu thập tình hình của Thái Thạch cơ, dặn dò các thủ tướng men theo sông lập trạm canh gác ngoài ba mươi dặm, lúc này mới huy quân đến giúp Triệu Quang Nghĩa, đợi hắn đến, Triệu Quang Nghĩa đã đích thân dẫn đại quân đuổi theo giết quân Đường, bộ đội đến sau thu dọn chiến trường, Dương Hạo hỏi rõ chuyện gì đã xảy ra, lập tức đuổi theo hướng Triệu Quang Nghĩa.

Quân Đường tháo chạy về phía thành Đương Đồ gần đó, Đương Đồ là một tòa thành nhỏ, không có đại quân bảo vệ xung quanh, đợi họ chạy đến Đương Đồ, thấy truy binh vẫn bám riết không tha. Tòa thành nhỏ không chống lại được, nên lại phải liều mạng bỏ chạy, quân Tống lao vào thành, bắt đầu cuộc đánh giết mới.

Khi Dương Hạo đuổi đến nơi, chỉ thấy lửa chiến hừng hực trong thành, gian dâm, bắt người cướp của, người dân bị giết trong tay không có mảnh vũ khí đâu đâu cũng thấy, binh sĩ bị giết thậm chí đến cái chùa chiền cũng không bỏ qua. Tuy nói người Tống tín Phật khá đông, nhưng người không tín Phật cũng có. Trước đây Sài Thế Tông diệt Phật, lệnh phá hủy các pho tượng Phật, các sư tăng hoàn tục giờ rất nhiều đã làm quân quan hạ cấp trong quân, họ bất kính thần minh, lâm nguy mang theo đồ châu báu trốn vào trong chùa miếu, dân chúng coi chùa miếu ấy thành nơi bảo vệ cũng bị cướp bóc trắng trơn, cô gái nào có chút nhan sắc cũng bị cưỡng trước Phật đường.

Dương Hạo vừa kinh ngạc vừa tức giận, thấy binh sĩ như bọn thổ phỉ, làm các nơi tan tác, muốn ngăn lại cũng không đủ sức, đành tức giận lao đi tìm Triệu Quang Nghĩa.

Khi Dương Hạo gặp Triệu Quang Nghĩa, phẫn nộ bẩm: “Thiên Tuế, vương sư quân Tống ta tới Giang Nam, tên cần thảo phạt là Đường chúa, còn dân chúng kia, vài ngày nữa cũng sẽ trở thành con dân Đại Tống cả, sao lại để binh như đám thổ phỉ, tùy tiện bắt người cướp của thế kia”.

Triệu Quang Nghĩa không cho là đúng, mỉm cười nói: “Bổn vương đã sớm hẹn với tam quân, nếu tam quân dũng mãnh tấn công, được một thành thì có thể bắt người cướp của, giờ quân ta phá được Thái Thạch cơ, diệt được Đỗ Chân sở bộ, ai nấy đều thiện chiến không sợ chết, ta nên khao thưởng chứ, bổn vương há có thể thất tín với tam quân?”

“Thiên Tuế, thảo phạt Đường Quốc, dân chúng nào có tội tình gì, nhìn thấy bọn họ phải chịu oan ức, Thiên Tuế cũng chịu được sao?”

Triệu Quang Nghĩa cười ha ha nói: “Hiền thì không nắm binh, mà chẳng lẽ không quan tâm đến tài của. Dương tả sứ há có thể có lòng dạ đàn bà như vậy? Thê thiếp ngươi chết thảm ở Đường Quốc, lẽ nào không hận bọn Đường, sao lại xin tha mạng thay chúng vậy?”

Dương Hạo chắp tay nói: “Dương Hạo có hận, song không muốn tội tình đến với dân chúng vô tội, nếu binh sĩ mà như thổ phỉ, mất đi niềm tin của con dân Giang Nam, quân dân Giang Nam khó bảo đảm không dẫm vào vết xe đổ của người Thục. Mất đi thành an dân, quân kỷ nghiêm minh, thì sao có thể lấy được lòng dân?”

Triệu Quang Nghĩa dung túng cho bộ đội sở thuộc, còn khích lệ tam quân thề sống chết cống hiến, cũng là có ý tự làm ô nhục, đồng thời quân quyền trong tay, chiến công của bản thân nhuốm tì vết, đây là quyết định sớm định ra ở bờ tây Trường Giang, lời khuyên của Dương Hạo đương nhiên là không có tác dụng gì.

Nhưng hắn giờ vô cùng nể trọng Dương Hạo, kế giương đông kích tây của người Đường bị phá công là ở Dương Hạo, hắn cũng không muốn chỉ biết mình, mục đích hiện giờ đã đạt được, hắn cười tỏ vẻ biết thời biết thế nói: “Nếu trong thành không gặp chống cự, bổn vương còn cần phải hạ lệnh giết hại dân trong thành ư, Dương tả sứ có tấm lòng nhân hậu, song không thích hợp là người dẫn binh, thôi, bổn vương nể tình ngươi, thu binh là được chứ”.

Quân Tống tuy khi đánh cướp như thổ phỉ, nhưng cuối cùng quân đội cũng có quân kỷ nghiêm minh, gọi một tiếng lập tức về đội, Dương Hạo dẫn người dập tắt ngọn nửa ở các nơi trong thành, sau đó mang theo thân binh đi vòng xem nơi này một lượt, thấy Bích Túc và Thủy Nguyệt tiểu sư thái đã không còn ở đó, lúc này mới yên tâm.

Dắt ngựa quay trở về, nhìn thấy khắp nơi bị phá, chiến hỏa la liệt, Dương Hạo không khỏi tức giận, nhưng cũng không biết làm thế nào. Cùng với chiến loạn, tai ương đều là dân chúng chịu, cái gọi là nhân nghĩa chỉ tồn tại ở trong thần thoại sách sử.

Cái gọi là sự khác biệt giữa vương giả và quân đội khác cũng có ít thôi, lúc đó kiêu căng, dân chúng thường chịu sự chỉ huy của mình. Dương Hạo bùi ngùi thở dài: “Một ngày kia ta là soái thống binh cũng sẽ thạo thành sự lưu lạc của vô số người sao?”

“Nhưng ý chỉ của thống soái, phá bỏ chiến thời, xây lại sau chiến tranh có ảnh hưởng rất lớn. Cái gọi là không phá mà xây, máy móc chiến tranh nắm trong tay ta, còn hơn rất nhiều những cái có trong tay Lý Thị. Nếu không thể từ chối sứ mệnh lịch sử này, ta sẽ thử đi đón nhận nó.

Trận chiến Giang Nam này, là binh lính khó ta thống binh trước, cũng sau chẳng mấy thời gian, ta sẽ đích thân ra trận, cầm cung, cưỡi ngựa, dấy lên chiến trận ở tây bắc, hoặc là, ta sẽ trở thành một kẻ bại trận, hoặc là sẽ trở thành vương tể tây bắc. Chiến công, hậu nhân bình luận, lịch sử sẽ viết tên ta vào sử sách hay không đây?”

*********

“Sau trận chiến này, ta sẽ ghi danh sử sách!”

Triệu Quang Nghĩa ghìm cương ngựa, đắc ý nhìn bờ sông đối diện.

Cục diện đang phát triển có lợi cho bên quân Tống, Võ Ninh Khiêm đô giam nhân mã Hoàng Châu lục tục qua sông, tấn công chiếm Phàn sơn trại; hành doanh tả sương chiến trạo đô giam điền Khâm Tộ dẫn quân phá Lật Thủy( thuộc Giang Tô – TốNG QUốC), tấn công quân Nam Đường, giết đô thống Lý Hùng, mà Triệu Quang Nghĩa thì đích thân dẫn chủ lực lao tới Kim Lăng, sau đó Tào Bân kịp thời đuổi tới phối hợp với Triệu Quang Nghĩa.

Lý Dục vội vàng triệu tập thủy quân hơn mười vạn người trên sông Tần Hoài, dựa vào thành Giang Ninh để lập thế trận phòng thủ, đúng, phòng thủ vẫn là phòng thủ.

Triệu Quang Nghĩa hăng hái đối diện với đối thủ xác định mình trong một cái vòng không thể vượt qua, trận này đánh thoải mái vô cùng.

Triệu Quang Nghĩa ghìm ngựa đứng ở bờ sông, bên cạnh là giáp sĩ san sát, phía sau là quân đội đông nghìn nghịt. Bờ đối diện, quân Đường sẵn sàng chờ đón quân địch, đội hình san sát nhau đang ở tiền quân tiến hành điều động, như mạch nước ngầm lưu động. Song phương có mấy chục vạn quân, song lại lặng ngắt như tờ, chỉ có tiếng bước chân vang lên, tiếng trống khiến lòng họ chợt động, không khí bị áp lực ở quân mã, bộ quân và thủy quân Tống, đại quân hai bờ sông lưu động.

Dương Hạo cưỡi trên yên ngựa, lặng lẽ nhìn cục diện đôi bờ. Hắn qua một lượt thấy cục diện mấy chục vạn đại binh ở bờ đối diện, lần đó, song phương đều đã sẵn sàng, thống soái tam quân là nhất đế nhất hậu, giờ bên cạnh hắn hoặc sẽ nhận Hoàng đế của Tống Quốc, mà Hoàng đế bờ đối diện vẫn tránh ở trong đại viện thâm cung thành Kim Lăng không lộ diện, nhưng mà khí thế lần này căng thẳng vì đây là cuộc chiến then chốt của vệ quốc và diệt quốc.

Lần đó, hắn là một vị khách; Lần này, hắn là người xem, lần sau thì sao đây?

Tào Bân và Lý Hán Quỳnh đang một tả một hữu, điều động thủy binh, như một mỏ cặp, kìm chặt quân Đường, sau khi họ lay động trận thế quân Đường, Triệu Quang Nghĩa sẽ có thẻ phát động tổng tấn công, vừa mới phá hủy mười vạn đại quân, nhưng Triệu Quang Nghĩa không thích cách đánh này, giờ, người người theo dõi, hắn là thống soái tam quân, lẽ ra nhất mã đương tiến, há có thể bị người ta đoạt mất danh dự?

Hắn từ từ giơ roi ngựa lên, tam quân nín thở nhìn theo động tác của chủ soái, Triệu Quang Nghĩa vung roi giục ngựa, hét lớn: “Toàn quân, tấn công!” Câu vừa nói, chiến mã tiến về nước sông phía trước.

Dũng sĩ trái phải ngẩn người, lần lượt giục ngựa xông về phía trước, hò la phi về phía nước, mùa đông rét buốt lao vào nước để tấn công, thủy sư điều binh thấy chủ soái phát động, bất chấp trận hình tấn công có lợi nhất, lập tức tập trung vào chiến đấu. Triệu Quang Nghĩa lớn tiếng dọa người, làm tam quân Đường Quốc khiếp sợ, chúng vọi vàng phản lại.

Kim Lăng bảo vệ chiến, phát hỏa rồi.

Trận chiến này rốt cuộc thắng thế nào, người trong cục diện không thể nhìn rõ, Dương Hạo chỉ là bị động theo bên cạnh Triệu Quang Nghĩa, thúc ngựa, qua sông, trận địa địch, Triệu Quang Nghĩa dùng kiếm của hắn chém quân địch nghênh diện, tay cầm côn thép, sát khí đằng đằng đích thân lao về phía quân địch, tiếng chém giết, toát mồ hôi ra toàn chiến giáp, khi nghe thấy tiếng hét: “Người bắc rất mạnh, không thể địch lại được, mau lui, trở lại vị trí thủ thành!”

Tiếng hét inh tai nhức óc, quân Đường lập tức binh bại như núi đổ, quân Tống được họ cuốn theo, vừa đuổi vừa giết, sau khi vô số tử thi quân Đường nằm xuống, tàn binh thì rút vào trong thành, thế là…quân Tống thắng.

Hoàng Phủ Kế Huân cũng không biết quân Đường bại như thế nào, hắn quăng mũ cởi giáp trốn vào trong thành, kinh hồn bạt vía ngồi ở ghế, một lúc sau mới hoàn hồn. Hắn quan thần vệ thống quân đô chỉ huy sứ là đại tướng của Đường Quốc, nhưng hắn chưa bao giờ khuếch trương thanh thế, trong vạn mã thiên quân, mỗi một sự mãnh liệt đều mất đi vô số tính mạng, giống như nhành hoa bị chặt đứt.

Hắn được thân binh liều mạng che chở, trong mắt hắn tràn ngập bóng hình của quân Tống, tai dường như còn nghe được tiếng la hét của quân Tống, cuối cùng, hắn cảm thấy không thể đánh tiếp được nữa, nếu có đánh tiếp thì quân bảo vệ Kim Lăng sẽ bị tiêu diệt toàn bộ, hắn nhất định phải làm được gì đó cho triều đình, thế là hắn hét lớn: “Người bắc mạnh lắm, không địch lại được…”

Sự thực đã chứng minh hắn đúng, quân Đường quả nhiên đã bị đánh bại.

*****

Đêm đến gió bắc mang theo luồng không khí lạnh tràn vào toàn thành Kim Lăng.

Trong cung của Lý Dục, nội thị, quan nhân bước đi lại vội vàng, vẻ mặt vô cùng lo lắng, tin tức về mười vạn đại quân đã bị bại họ đã biết, Lý Dục ngồi đần ra ở trên ghế, tay buông thõng, lạnh ngắt.

Hơn mười vạn đại quân tham chiến bị rơi vào kết cục ấy, hắn đâu phải có trái tim băng giá. Quân cảm tử chết ở chiến trường, Lý Dục đến giờ vẫn chưa hiểu mười mấy vạn đại quân sao lại bại được, lẽ nào trời trừng phạt mình? Nếu không, mười mấy vạn đại quân sao có thể bại một cách dễ dàng như vậy? Tiểu sư phụ thần thông quảng đại tại sao lại không cáo mà từ biệt?

Lý Dục đăm chiêu, vẻ mặt vô cùng khó coi.

“Bệ hạ, Trần Kiều, Từ Huyễn cầu kiến”.

“Mau, mau mời vào”. Lý Dục giật mình, giờ nếu như có ai đó hiến kế, hắn chắc chắn sẽ nghe theo.

Trần Kiều vừa gặp Lý Dục, phẫn nộ nói: “Bệ hạ, hôm nay quân ta thảm bại, thần vệ quân đô chỉ huy Hoàng Phủ Kế Huân lâm trận bỏ chạy, khiến nhuệ khí tam quân bị mất sạch, bệ hạ không trảm tên này để lấy lại nghiêm pháp, thì ý chí tam quân sẽ mất, không thể chiến đấu được nữa”.

“Lý Dục giật mình nói: “Cái gì? Hoàng Phủ Kế Huân? Hoàng Phủ Kế Huân thẳng thắn vậy, sao…sao lại…?”

Trần Kiều tức giận giậm chân nói: “Bệ hạ, Hoàng Phủ Kế Huân chỉ có trung dũng một nửa thôi, hơn mười vạn đại quân bối thành, tấn công cái là quân Tống phải tan rã”.

Trần kiều thuật lại chuyện Hoàng Phủ Kế Huân lâm trận cởi giáp và câu nói ‘người bắc mạnh lắm, không thể địch lại’ cho Lý Dục nghe, rồi lại nói tiếp: “Hắn còn xứng đáng là thần vệ quân chỉ huy sứ Trịnh Bất Phàm nói với thần rằng, khi đó hắn đứng gần bên trái Hoàng Phủ Kế Huân, Hoàng Phủ Kế Huân nói vậy xong liền quay đầu bỏ chạy, tam quân mất đi nhuệ khí, thất bại thảm hại.

Trịnh tướng quân còn nói, Hoàng Phủ Kế Huân sợ hãi quân Tống, nói là người Tống không thể địch lại nổi, khi nghe tin quân ta bị bại, còn nói là ‘người bắc mạnh lắm, ngoài người Đường ta có thẻ địch lại, giờ thì sao? Hắn là thần vệ quân đô chỉ huy sứ, chủ tướng oai phong vô cùng, chưa chiến đã nghĩ đến bại, quân ta sao lại bại chứ?

Chiến bại ngày hôm nay, Trịnh tướng quân đi gặp Hoàng Phủ Kế Huân, nói quân Tống có chiến thắng mới, binh lính kiêu ngạo vô cùng, tất sẽ sơ hở phòng bị, binh sĩ cảm tử có thể đêm hôm tập kích doanh trại địch, không ngờ Hoàng Phủ Kế Huân nghe vậy sợ hãi, phản đối và quát Triệu tướng quân, Triệu tướng quân hơi cãi lại, hắn bèn thẹn quá thành giận, trách Triệu Bất Phàm làm nhiễu loạn lòng dân, lệnh thân binh trói hắn lại, quất cho vài roi, Trịnh tướng quân vô cùng phẫn nộ, lúc này mới đi báo với thần, nếu không…thần cũng giống như Bệ hạ, chẳng hay biết gì”.

Lý Dục nghe vậy tức giận run người, không kiềm chế được quát: “Người đâu, người đâu, nhanh chóng đưa Hoàng Phủ Kế Huân lại đây chịu tội! Lập tức cho hắn vào ngục!”

Nội thị vội chạy đi truyền chỉ, Lý Dục nói xong ngồi sụp xuống ghế, lẩm bẩm: “Giờ…quân Tống đã hưu binh Kim Lăng, Trẫm…Trẫm phải làm gì đây?”

Từ Huyễn liền an ủi nói: “Bệ hạ, các châu phủ được triều đình ta cai quản, mười vạn thủy quân Hồ Khẩu không bị đả thương, tuy sự việc xảy ra thế này, chưa chắc đã không có cách giải quyết, bệ hạ chớ nên nổi giận”.

Lý Dục trừng mắt nói: Tình hình hiện nay, Trẫm có thể làm được gì chứ?”

Trần Kiều nói: “Thần và Từ đại nhân đã bàn bạc với nhau, thần cho rằng, bệ hạ đã diệt trừ gian nịnh, quân dũng mãnh thiện chiến, quân thủ thành trì, binh sĩ không đủ sao, có thể đưa thanh niên trai tráng tập trung lại thủ thành; Đồng thời phái người phá vây ra, viện trợ cho mười vạn đại quân Hồ Khẩu, thêm nữa hạ thánh chỉ, kêu gọi các châu phủ giúp đỡ, nội ngoại hợp tác, cái nguy của người Tống chưa chắc đã không giải được”.

Lý Dục tuyệt vọng nói: “Triệu Quang Nghĩa giương giương mắt hổ dưới thành, hắn há có thể để Trẫm phòng bị?”

Từ Huyễn bước đi thong thả, thản nhiên nói: “Thần nguyện vì bệ hạ mà làm sứ giả, kéo dài thời gian bên quân Tống”.

“Từ Huyễn? Không gặp, nếu cần bổn vương hưu binh, ngoài Lý Dục phơi thịt ra xưng hàng với bổn vương ra, Từ Huyễn đến làm cái gì? Bảo hắn về đi”.

“Từ đã!”

Tào Bân tiến lên phía trước nói: “Thiên Tuế, Lý Dục không hàng, lại còn đưa sứ giả tới, danh nghĩa là cầu hòa, thực chất là kéo dài thời gian ra. Đại quân triều đình gặp tình thế hết sức nguy ngập, đương nhiên không thể đồng ý điều kiện gì của hắn, nhưng thành Kim Lăng tường dày, dễ thủ mà khó công, nếu như để hắn nghỉ ngơi vài bữa, khí thế quân thủ trong thành mất đi, là có lợi với chúng ta. Hơn nữa, nhất lộ tấn công của quân ta chiếm Kim Lăng, các thành trì Giang Nam vẫn nằm trong tay Lý Dục, Hồ Khẩu càng có mấy vạn đại binh chờ lệnh, nếu đi đánh, khó tránh khỏi điều động binh lực, giờ nếu như vây lấy Kim Lăng có thể dẹp các đường giúp đỡ quân Đường. Mà lương thảo quân nhu của quân ta giờ tiếp tế không kịp, Đường Quốc kiên trì vườn không nhà trống, chẳng có cách nào bổ sung, cần phải đợi đồ trong nước vận chuyển đến, thời gian chờ đợi kéo dài. Thứ tư, đường binh tốt tập kích bất ngờ đã mỏi mệt không chịu nổi, cũng cần có thời gian nghỉ ngơi, Thiên Tuế, không gặp Từ Huyễn sao”.

Dương Hạo cũng tiến lên trước nói: “Tào tướng quân nói phải lắm, nếu có thể ép Lý Dục cùng đường chủ động đầu hàng, không chiến mà khuất phục, thực tế tấn công sẽ khiến cho sinh linh kêu thán. Kim Lăng phồn hoa, không kém Khai Phong, nếu như ép hắn, Lý Dục học Lưu Kế Hưng của Hán Quốc, cho toàn bộ thành một bó đuốc, há không tiếc sao? Huống hồ, giờ kiên thành tuyệt đối không chỉ dựa vào nhân lực thì có thể leo lên mà tấn công, cần chế tạo ra các loại vũ khí công thành cũng cần có thời gian, giờ bọn họ cần thời gian để điều binh khiển tướng, ta thì cũng cần thời gian để chuẩn bị cho tốt, có thể tính được kế nào thì tính, còn về giảng hòa…trận chiến này đánh hay không đánh, cần xem xem Lý Dục hàng hay không hàng; Trận chiến này là thắng hay bại, cần xem xem thực lực mạnh yếu của song phương, Từ Huyễn chỉ khéo nói, có thể xoay đổi thời cuộc sao, hắn là ai chứ?”

Triệu Quang Nghĩa nhướn mày, mặt giãn ra vui vẻ nói: “Hai vị đại nhân nói đều có lý. Được, người đâu, đánh trống lên, kêu Từ Huyễn tới gặp ta”.

Chiến tướng trong lều lớn nhiều vô kể, ai ai cũng mặc bộ giáp, đứng trang nghiêm sừng sững như núi, nhìn vô cùng nghiêm túc, khí thế giết, khiến người ta phải khiếp sợ. Từ Huyễn đội cao quan, ngang nhiên vào lều, thấy tình hình không nề hà, ung dung tự nhiên đi đến. Đến trước mặt Triệu Quang Nghĩa, Từ Huyễn thi lễ nói: “Đường Quốc Từ Huyễn, bái kiến Tấn Vương”.

Triệu Quang Nghĩa cười hỏi: “Bổn vương phụng lệnh Hoàng thượng thảo phạt nhị thần, giờ binh đang vây thành Kim Lăng, Lý Dục không ra mà thỉnh tội, lại còn phái Từ đại học sĩ ra, xin hỏi có ý gì vậy?”

Từ Huyễn nghiêm túc đáp: “Tấn Vương nói vậy sai rồi, Đường Quốc ta đã hồi phục quốc hiệu, xưng Hoàng đế. Giờ chúa ta vẫn là Hoàng đế Đường Quốc, là độc nhất vô nhị với quý quốc quân thượng, đều là chí tôn, hà tất lại nói là nhị thần - bề tôi thờ hai triều đại (quan triều đại trước đầu hàng và ra làm quan cho triều đại sau)? Từ Huyễn phụng quốc thư, lần này đi sứ, gặp Hoàng đế bệ hạ quý quốc giáp mặt Trần Từ, Tấn Vương có thân thế cao quý, không phải là nhân vật bình thường, há lại coi đại sự quốc gia này như vậy là có ý gì?”

Triệu Quang Nghĩa bật cười nói: “Hóa ra Từ đại học sĩ lần này xuất thành xuất sứ đến Tống Quốc ta, lãnh thổ quý quốc giờ chẳng phải là trong thành Kim Lăng sao? Ha ha, thất kính, thất kính, thực sự thất kính, không biết Hoàng đế Kim Lăng quý quốc có lời gì không?”

Các tướng đứng trong trại đều cười ồ lên, Từ Huyễn vẫn rất bình tĩnh, cũng cười theo một lúc rồi điềm tĩnh nói: “Từ Huyễn phụng chỉ Hoàng đế ta, mong gặp được Hoàng đế bệ hạ Tống Quốc, hưu binh giải hòa. Nếu Tấn Vương làm chủ, thế thì Từ Huyễn sẽ đưa quốc thư cho Tấn Vương, bàn bạc với Tấn Vương”.

Nói rồi, Từ Huyễn mỉm cười, tay hơi cong, rút ra từ trong một cái quyển vải, tháo sợi lụa vàng ra, tiến lên một bước dâng.

Triệu Quang Nghĩa thấy quốc thư trong tay Từ Huyễn, hai hàng mày rậm rạp nhướn lên, mặt đen xì xì, tức giận vô cùng, nhưng không biết làm thế nào. Trong lều lặng ngắt như tờ, các tướng lĩnh không ai nói gì, lặng yên nín thở quan sát, Triệu Quang Nghĩa im lặng một lúc lâu, rồi bỗng bật cười, mặt mày vui vẻ nói: “Từ đại học sĩ nói gì lạ vậy, đại sự quân quốc Tống Quốc được quyết định bởi thánh chỉ, Triệu Quang Nghĩa nào dám làm chủ. Từ đại học sĩ lần này lấy thân phận quốc sứ tới gặp Hoàng đế của chúng tôi, bổn vương há dám ngăn cản, giờ đâu đâu cũng là loạn binh, con đường hướng bắc không hề an toàn, hôm nay trời cũng đã tối rồi, mời Từ đại học sĩ vào trong doanh trại bổn vương nghỉ ngơi tạm, sáng sớm ngày mai, bổn vương sẽ đích thân phái người đưa các người tới kinh”.

Từ Huyễn mỉm cười, nhận lại quốc thư, cung kính đáp: “Đa tạ Tấn Vương Thiên Tuế”.

Sau khi Từ Huyễn ra ngoài, văn võ tướng quân ra khỏi lều, Triệu Quang Nghĩa ngồi trước bàn, trán nhăn lại, tức giận, quát: “Ân Duy, vào đây”.

Một viên quan đứng trước lều bước lên phía trước, cung kính thi lễ. Người này là thân tín của Triệu Quang Nghĩa, nguyên là một công tào ở Khai Phong, người này vô cùng thông minh, lo liệu mọi việc rất được, Triệu Quang Nghĩa khong thể không mang theo một thân tín như này theo bên mình, hắn cùng ở trong quân trại, chỉ đứng trước lều nghe ngóng sự tình.

Triệu Quang Nghĩa dặn dò nói: “Ân Duy, ngươi mau chóng đem trăm tên đại hán biết sử dụng thông thuộc thuyền bè, chọn ra một cái thuyền nhanh, đồng thời chuẩn bị khoái mã xe kiệu, gặp nước dùng thuyền. Gặp đường dùng ngựa, hộ tống bọn họ, ngày đêm đưa tới Biện Lương, nếu như Từ Huyễn có ý kéo dài, ngươi phải coi chúng như mạng chó chết, kéo dài cũng phải kéo tới Biện Lương, không được để họ trì hoãn một ngày nào giữa đường “.

Ân Duy ngầm hiểu, lập tức nhận lệnh.

Triệu Quang Nghĩa hừ nhạt một tiếng, nói: “Từ Huyễn hao tâm tổn khí, muốn kéo dài thời gian cho Lý Dục, thì có thể thay đổi được gì chứ? Bổn vương giờ vừa tĩnh dưỡng binh mã, vừa chuẩn bị khí giới, đợi ngươi quay lại, lập tức sẽ san bằng Kim Lăng, dựa vào tài khéo ăn khéo nói của ngươi thì có tác dụng gì chứ! Ha ha!”

******

“Dương tả sứ, ôi, tại hạ khi ở trong thành nghe nói Dương tả sứ có phúc lớn mạng lớn, rơi xuống nước mà không chết, hôm nay được gặp, mới biết lời đồn có thật”.

Dương Hạo đi ra lều chủ tướng thì gặp một sứ tiết đoàn của Đường Quốc vô cùng to lớn, có mấy chục người với thân phận là tòng sứ, tướng từ trong lều đi ra nhìn thấy một sứ tiết đoàn, cảm thấy vô cùng lạ, đứng ở đó chỉ chỉ trỏ trỏ, bàn tán với nhau. Dương Hạo cũng dừng chân, vừa đúng lúc có một quan văn bước ra từ sứ đoàn thi lễ với hắn.

Dương Hạo nhìn, chẳng có chút ấn tượng gì về người này, liền ngạc nhiên nói: “Vị huynh đài là…Dương mỗ quen ngươi sao?”

Vị quan văn đó vuốt vuốt chòm râu cười nói: “Hạ quan là Lý Thính Phong là Đường quan Hồng Lư tự của Đường Quốc, đã từng cùng Dạ phu nhân tiếp đãi Dương tả sứ, Dương tả sứ quý nhân hay quên, hạ quan nghĩ tất là bất nhận ra”.

Dương Hạo cười nói: “Trí nhớ tại hạ kém quá…”

Hắn đang nói, Lý Thính Phong cười theo, tay trái vỗ vào hắn, nhét một tờ giấy lấy từ trong ống tay ra đưa cho hắn, Dương Hạo ngạc nhiên, cầm lấy giấy, cười nói: “Tại hạ vụng quá, không giỏi nhớ người, nói thế này, ta nhớ ra rồi. Thế…lần này Dạ Vũ Dạ đại nhân không cùng đi xuất sứ với Từ đại nhân sao?” 

Chương 373:Đàm phán.

Người đó nói: “Sứ tiết Tống Quốc, sứ tiết Khiết Đan ngay cả xảy ra chuyện trong thành, bệ hạ thì tức giận, bãi đi chức quan của Dạ đại nhân, Dạ đại nhân đã về quê nhà Bành Thành rồi”.

Dương Hạo ngây người, khẽ thở dài nói: “Tái ông mất ngựa, yên tri phi phúc…giờ quan này…bãi rồi cũng tốt. Ha ha, lần trước xuất sứ quý quốc, nhận được khoản đãi, Dương mỗ luôn khắc ghi trong lòng, hôm nay lại gặp túc hạ trong doanh ta, hôm nay Dương mỗ có móc câu con cá béo ú ở sông tần Hoài, đúng lúc đến cùng nhậu, Lý Đường quan có thể uống cùng Dương mỗ vài chén được chứ?”

Lý Thính Phong mặt vui mừng nói: “Đại nhân nói vậy, hạ quan nào dám chối từ”.

Vui mừng đi theo Dương Hạo, các vị quan trong sứ tiết đoàn thấy Lý Thính Phong nhanh chóng giao hảo với quan bậc trên của Tống Quốc, nhìn hắn đầy vẻ thán phục.

Đến trong lều của Dương Hạo, Dương Hạo bảo quân lui đi, chỉ để lại thân tín bảo vệ cửa lều, mở giấy ra, chỉ thấy bên trên có vài tên người, nghiêm mặt hỏi: “Các hạ đây là gì vậy?”

Lý Thính Phong vào lều, cười không nhìn nữa, hắn bình tĩnh nhìn Trình Vũ đứng bảo vệ ở cửa lều, hỏi: “Người này có đáng tin không?”

Dương Hạo trả lời: “Là thuộc hạ của ta, không phải lo đâu”.

Lý Thính Phong gật đầu, chắp tay nói: “Lý mỗ được Đại Lang báo tin, biết đại nhân giờ có quan hệ với đẳng ta. Hôm nay nguy hiểm hết sức, có việc cần nhờ đại nhân, mong đại nhân đưa tay giúp đỡ”.

Dương Hạo giật mình, thất thanh nói: “Đại Lang? Các hạ cũng là Thừa…người trong Thừa Tự đường?”

Lý Thính Phong mỉm cười, nói: “Đúng”.

Dương Hạo nhìn không chớp mắt hỏi: “Không biết Lý huynh đến tìm ta có chuyện gì?”

Lý Thính Phong nói: “Chẳng qua là phòng mà thôi. Không giấu gì đại nhân, Triệu Quan Gia ý xuất binh thảo phạt Đường là chắc chắn, chúng ta đã được tin, sản nghiệp nội cảnh Đường Quốc, tộc nhân quan trọng, chỗ nên dời, chỗ nên trốn, đã bắt đầu có sự chuẩn bị rồi”.

Dương Hạo thầm nghĩ: “Thừa Tự đường này thực to lớn, sợ bất cứ thế lực mạnh nào cũng có tai mắt của họ, đây quả thực là một hệ thống gián điệp vô khổng bất nhập, nếu có thể đến giúp họ, muốn dụng binh như thần có gì khó. Nghe khẩu khí của hắn, và ý của Thôi Đại Lang, giữa chúng không phụ thuộc, hắn họ Lý, hay cũng là nhân vật quan trọng trong thất tông ngũ tính? Nếu như vậy, năng lượng vĩ đại có thể dùng được ở Thừa Tự đường không thể lập đại sự, thực là tổ chức quy mô của Thừa Tự đường, thất tông ngũ tính của Thừa Tự đường là chính, hình thức thì tương đương với thương gia hội, chẳng có duyên cớ nào lấy lực lượng các thị cùng thống nhất dùng. Giờ ta hợp tác với Thừa Tự đường, nếu có thể thông qua Thôi Đại Lang, có mối quan hệ với các thị tộc khác, thì mới có thể xoay chuyển được cục diện, hóa bị động thành chủ động, không bị chúng dắt mũi, ngược lại có thể dễ dàng không chế chúng trong lòng bàn tay”.

Dương Hạo nghĩ đến đây, liền tỏ ý thân thiết nói: “Lý huynh mời ngồi, thế các người sớm đã có sự chuẩn bị, không biết muốn Dương mỗ làm gì vậy?”

Lý Thính Phong nói: “Có vài tài sản song không thể kịp thời ra tay, trong tộc ta có vài người vì thân phận đặc biệt công khai cũng không tiện nói đi thì đi, ví như tại hạ và người nhà, ở lại trong thành, mãi đến hôm nay, giờ chúng ta muốn đi thì cũng không đi được, nếu Lý Dục hiến thành đầu hàng, vạn nghìn sinh linh trong thành hoặc những tai bay vạ gió khó tránh được, bằng không, đại quân một khi tấn công thành, thì coi như Triệu Quan Gia đích thân chỉ huy cũng không thể bắt người đốt giết, trong lúc quân loạn cũng không thể khống chế được, như vậy thì tộc người chúng ta ở lại trong thành càng nguy hiểm”.

Dương Hạo giật mình nói: “Lý huynh có ý là…bảo ta phá thành cứu lấy bọn họ?”

Lý Thính Phong thản nhiên nói: “Đúng vậy”.

Dương Hạo nói: “Lý huynh đến tìm ta, Dương mỗ không thể từ chối, nhưng mà, một khi đại quân phá thành, nơi nơi có báo động, khói lửa khắp nơi, chiến tranh loạn lạc, tại hạ không có nghìn tay nghìn mắt, nào có thể lo liệu được những người trong danh sách thoát khỏi nguy hiểm được?”

Lý Thính Phong cười nói: “Điều này không có gì khó cả, một khi phá thành, tộc người chúng tôi lập tức sẽ tập trung đến một địa điểm đã hẹn, đại nhân vào thành xong thì đi đến chỗ đó, ngăn được quân binh giết người, đương nhiên có thể bảo vệ được chúng ta rồi”.

Dương Hạo bừng tỉnh hiểu ra, nghĩ đi nghĩ lại, trong thành tiện cho họ tập trung, nơi mà mình biết lại không nhiều, nghĩ đi nghĩ lại ngoài cái Lễ Binh viện, Kê Minh tự, thì cũng chẳng còn nơi nào nữa. Hắn bỗng nghĩ đến một nơi, vội vỗ vào trán mình nói: “Thế…hẹn nhau ở Giang Nam thư viện, thấy sao? Ở đó là thư viện, không có tiền tài, nữ tử, nếu tướng lĩnh như thổ phỉ, cũng chưa chắc đã chọn nơi đó, nếu như có phá thành thật, ta sẽ đến thẳng nơi này”.

Lý Thính Phong vui vẻ nói: “Như vậy là tốt nhất, ta lập tức sẽ truyền tin này về trong thành, hiểu dụ tộc nhân của các nơi”. Nói rồi, hắn rút từ ngực ra một cái bọc, đặt lên trên bàn, mở cái bọc đó ra là vàng bạc châu báu.

Dương Hạo chau mày, nói: “Ta và Lý huynh, kết giao với nhau không vì tiền tài, chỗ vàng bạc châu báu này không cần dùng đến đâu”.

Lý Thính Phong cười ha ha nói: “Đại nhân, ngươi nói Từ đại học sĩ xuất sứ Biện Lương, có biết bao quan viên cố sống cố chết đâm vào cái sứ đoàn? Họ đều muốn có bí quyết trước, khẩn cầu các vị tướng quân, bảo đảm nhà họ bình an. Giờ nghĩ các vị tướng quân tất đang hoạt động, chỗ tài của này của ta, chỉ là chút ít thôi, đại nhân đồng ý nhận lấy, mà không nhận thì nó giao cho Tấn Vương”.

Hắn cười dài và đứng dậy, chắp tay nói: “Lý mỗ còn lưu lại lâu sẽ gây bất lợi cho đại nhân, xin cáo từ”.

Dương Hạo tiễn hắn tới cửa lều, nhìn thấy sứ giả Đường Quốc, Tào Bân, Tào Hàn đi ra, gật đầu khom người thi lễ, Tào Hàn đứng ở cửa mỉm cười và nói gì đó với hắn, bỗng nhìn thấy Dương Hạo, thấy trong lều Dương Hạo đi ra một sứ tiết Đường Quốc, Tào Hàn cười ngụ ý với hắn, chắp tay thi lễ xa, rồi mới xoay người vào trong lều.

Dương Hạo thấy vậy không khỏi lắc đầu: “Tai vạ đến nơi tự bay, Giang Nam quan lại đã bawtd đầu tìm lối ra, nhưng Lý Dục…lối ra của ngơi ở đâu vậy?”

******

Đầu thành Kim Lăng, Hoàng La Tản Cái Hạ, Lý Dục đang đích thân tuần thành, ủng hộ sĩ khí tam quân.

Đầu thành, giáp sĩ san sát, trong đó có rất nhiều binh sĩ đều đội giáp trắng, loại nón giáp sắt/khôi giáp dùng giấy làm, bình thường là lấy vải cứng dán lên phần khung, rồi sau đó lấy giấy dán lên, vô cùng nhẹ, chất lượng lại ngăn cản được cung nỏ, gọi là giấy giáp, bình thường cũng sẽ dựa vào màu vải mà trang trí các loại hình vẽ, giờ Lý Dục đều nắm các tráng đinh trai tráng sĩ nông công thương trong thành, khôi giáp tự chế vội vã, không nhuộm màu cũng chưa tô điểm gì, còn về bên trong không ăn bớt nguyên vật liệu, thì không thể biết được.

Dân chúng Kim Lăng thường xuyên nhìn thấy Quốc Chúa Lý Dục, khi hắn xuất cung, hoặc là đi vào chùa chiền bái Phật, hoặc là đi du lãm sông Tần Hoài, lần này vẫn là nhìn thấy long bào của hắn, đầu đội vương miện, uy nghi đi tuần tra tam quân.

Tiếc là khi cổ vũ sĩ khí tam quân, bộ mặt vui buồn của Lý Dục không thể che dấu, hắn chau mày, bộ dạng lo lắng. Một loạt những binh giáp trắng cầm đao thương đứng ở đầu thành, khi nghe tiếng bước chân Tống Quốc dưới thành điều động, những binh sĩ chưa từng được huấn luyện, chưa từng thấy chém giết chiến trận thì sợ hãi mặt tái xanh, Lý Dục ở chỗ bọn họ, xung quanh là giáp trắng/bạch giáp, cứ như đưa ma.

“Từ Huyễn có thể hoàn thành sứ mệnh không? Thủ quân Hồ Khẩu khi nào có thể cứu trợ? Cần Vương của Trẫm đều ở đâu hết rồi?”

Lý Dục mù tịt nhìn doanh trại Tống Quốc dài liên miên không thấy đuôi đâu cả, nối tiếp nhau về phía bắc, lại nhìn về phương hướng Khai Phong, cái tên Triệu Đại Lang thô bỉ bất văn, bất kính thần Phật, chỉ là một thối quân mà thôi, sao lại có thể kiêu ngạo vậy, may mắn vậy, trở thành bá chủ Trung Nguyên? Trẫm…lần này có thể thoát khỏi bàn tay quỷ dữ của hắn không đây? Cứu binh, cứu binh rốt cuộc ở đâu?”

Da Luật Văn từng để cho hắn một cơ hội, đầu tiên để hắn vui mừng an nhàn thụ hưởng cuộc sống, và bắt đầu dã tâm xưng bá Trung Nguyên, hắn từng mơ tưởng hợp tác với Khiết Đan, một nam một bắc đánh Tống, rồi từ nay về sao làm cửu ngũ chí tôn của toàn phương nam, nhưng…

Nhưng cái tên Dương Hạo đáng chết lại sống trở lại, Da Luật Văn lại thực đáng chết đi, giờ cũng không biết Khánh Vương mưu phản của bắc quốc có thành công hay không, nếu hắn thành công, thì cái khế ước của mình có hiệu lực, vấn đề là, nếu như hắn thành công, mình có thể kéo dài tới ngày đó sao? Thượng Kinh, giờ sao rồi? Da Luật Hiền là Đế vương có được quốc gia cường mạnh, hắn…giờ đã làm con quỷ dưới đao Khánh Vương rồi sao?

******

Thành Thượng Kinh, một đoàn tướng lĩnh đang đi tuần thành.

Đi ở giữa là một viên nữ tướng, người mặc bộ trường bào màu lam, khoác ngoài áo giáp, trước ngực là ngọc kính bảo hộ sáng chói, đầu đội mũ lông cáo, trên mũ có lông trĩ bay bay, da trắng môi đỏ, khuôn mặt đẹp vạn phần, oai hùng hiên ngang, bước chân đi rõ ràng, chính là hoàng hậu Khiết Đan Tiêu Xước.

Bên phải cô là một viên nữ tướng, mặc chiến bào trắng, sườn dắt bội kiếm, trên vai đeo cung, sau lưng là lông chim, mắt ngọc mày ngài, đoan trang quyến rũ, là một thân tín được sùng ái lục cung thượng quan La Đông Nhi.

Bên trái là một thanh niên võ tướng anh tú, chính là đại thích ẩn ti, cung vệ quân nguyên soái Da Luật Hưu Ca, sau đó có mấy viên tướng lĩnh, La Khắc Địch, Loan Đao Tiểu Lục và Thiết Đầu. Bọn họ ai nấy đều chiến bào, giờ cũng là tướng lĩnh trong cung vệ quân, sau khi giết lui phản quân, Tiêu Xước lập tức phong tướng cho họ, thành Lang quân, giống như tiến sĩ trong kỳ thi của Tống Quốc, có nghĩa là có thể làm quan. Quả nhiên, Da Luật Hiền sau khi mang thương tuần thành, thì một đạo chiếu lệnh được ban, ba người họ trở thành đại tướng cung vệ quân.

Tiêu Xước sắp xếp Thượng Kinh thiết dũng, mỗi ngày cô đều tuần thành, xử lý quốc sự, ban thưởng cho quan binh thủ thành, những tên nào tung tin vịt ra thì giết bất luận tội, khó khăn chống đỡ cục diện Thượng Kinh. Hôm qua, nam viện cuối cùng cũng đã đưa tin tới, quân Tống đã nam phạt.

Tiêu Xước nghe vậy không khỏi thở dài, người Tống lần này nam phạt, chứng minh là Tống Quốc đã quyết định vứt bỏ cơ hội bắc phạt, lúc này, cô mới hạ chiếu lệnh cho nam viện đại vương Da Luật Tà Chẩn phân binh phó viện, giải vây Thượng Kinh. Tiêu Xước không lệnh cho Da Luật Tà Chẩn phân binh đi Thượng Kinh, Thượng Kinh được cô phòng ngự thiết dũng, Khánh Vương tuy ngày đêm công thành, tạm thời cũng không có cơ hội mà tiến thêm. Tiêu Xước lệnh cho Da Luật Tà Chẩn phân binh tập kích bổ sung bộ tộc lãnh địa, đặc biệt mấy người ủng hộ kiên định nhất đối với Khánh Vương, ví như bạch cam bộ lạc.

Trước lúc này, cô đã phái các tù lĩnh xuất thành bí mật tiếp xúc với các đồng phản, và kẻ đầu cơ chiến tranh phản loạn ý chí vô cùng kiên định của cải kim tiền, mỹ sắc, phân hóa phản quân, tin tưởng mấy bộ tộc phản loạn bị máu rửa bộ lạc xong, công phu cô dự trước lên men để phản quân tứ phân ngũ liệt.

Quá trình tuần tra đã xong, Tiêu Xước về cung, trước tiên đi thăm Hoàng đế, Hoàng đế bộ dáng già cả, bị hôn mê, bất tỉnh nhân sự. Tuy nói hai người không có tình cảm gì, song vẫn là phu thê, nhìn Da Luật Hiền hai má hóp lại trắng xanh, bộ dạng hấp hối, Tiêu Xước mắt đẫm lệ.

Cô không chỉ buồn thương cho Hoàng đế, mà cũng tự buồn thương cho mình. Da Luật Hiền vốn gầy còm ốm yếu, sau khi bị trúng kiếm độc thì bệnh càng nặng hơn, cả ngày chỉ hôn mê, lúc tỉnh lúc không, thời gian hôn mê thì nhiều mà thời gian tỉnh chẳng được bao lâu, thực ra không chỉ là cô, mà người trong tẩm cung Hoàng đế đều biết, Da Luật Hiền giờ là một cái xác sống, chỉ dựa vào dược vật đem mạng đi mà thôi.

Tiêu Xước thành thân với Hoàng đế không lâu, không có con, nếu Hoàng đế băng hà không người nối nghiệp, lúc đó phải làm sao đây? Gia tộc Da Luật vì xã tắc giang sơn, vì tình đoàn kết các bộ lạc, sẽ chọn ra một Hoàng đế mới, thậm chí giảng hòa với phản quân cũng không phải là không có khả năng, còn mình thì sao? Cảnh tượng cuối cùng chính là bị bãi chức thái hậu, chuyển lãnh cung, từ đó về sau bị giam cầm trong một góc cung điện, cách biệt với thế giới bên ngoài, sống vậy cả quãng đời còn lại.

Một Thái hậu mười bảy tuổi…

Nước mắt lăn dài trên má nàng, đôi vai non nớt khẽ run run, lúc này ai còn có thể nói nàng là một nữ trung hào kiệt sát phạt tuyệt đoạn, dẫn ngàn quân, là nữ đế Khiết Đan nữa? Tiếng thút thít vọng ra từ trong tẩm cung, các quan nhân nội thị đều bị đuổi rồi, ai cũng sẽ không thấy cô rơi nước mắt.

Khi cô đi khỏi tẩm cung, thay bộ áo khác, áo màu xanh, cổ tay áo có điểm vài bông hoa thêu, bộ váy ôm lấy eo thon được buộc bằng một sợi dây, mái tóc đen bóng được búi cao. Vai nhỏ nhắn, đi lại nhẹ nhàng không tiếng động, nhưng khuôn mặt thì lạnh lùng vô cùng, uy nghiêm vô cùng, khiến người ta không dám nhìn, ai cũng sẽ không ngờ tới, một vị Hoàng hậu như vậy, cô cũng có lúc mềm yếu, cũng có lúc khóc.

Cô khẽ thở dài, chỉ thấy trong cung điện còn lạnh băng hơn cả phía đầu thành, cô khẽ chớp mắt nhìn quanh, tất cả nội thị trong cung nhìn thấy cô đều nơm nớp lo sợ không ai dám nhìn trực diện, trong cung điện lo lớn, không một ai nói chuyện. Tiêu Xước buồn rã rời, thở khẽ, phất tay áo đi ra ngoài.

Tiêu hậu không mang theo người phục vụ trong cung, như bình thường lại đến chỗ ở của La Đông Nhi.

Mở cửa đi vào, vòng qua bình phong, là một chiếc giường, trước giường là hai chậu than cháy. Trong trướng, một chiếc quần lót ôm lấy cơ thể mềm mại đang duỗi thẳng tắp trên giường, hai tay đỡ eo, từ ngực xuống mũi chân thẳng tắp một đường, đầu và ngực gãy thành góc chín mươi độ.

Tiêu Xước nhìn thấy, môi cô hơi mấp máy, bước về phía trước, người trên giường thấy có động tĩnh, hai chân hơi động, định buông xuống.

“Đừng động, cứ luyện đi”.

Tiêu Xước mỉm cười, đưa tay để vào một bên hông, áo bào không tiếng động chảy xuống đất, lộ ra cơ thể mềm mại, nàng khẽ lên giường, vào bên trong giường, ưỡn bụng, cơ thể cong lại, lưng kề sát với mông, hai chân gãy về phía trước, hai chân để lên vai, Tiêu Xước dùng tay đan chéo, cầm lấy hai mũi chân, toàn người trở thành cái tam giác.

Cô để cằm lên giường, tạo thành trung tâm của chiếc tam giác, nhìn La Đông Nhi, Tiêu Xước thản nhiên cười nói: “Ngươi đã lớn, xương cốt đã cứng, không ngờ ngươi có thể tập luyện động tác khó như này, đây là công phu mà tăng nhân tây vực truyền cho Trẫm, nghe nói là Thiên Trúc. Võ công này không chỉ có thể cường thân kiện thể, còn có tác dụng tu chỉnh thân thể đấy, ngươi cũng biết, người ở thảo nguyên ngay ngày cưỡi ngựa, nếu không chú ý, hai chân sẽ vòng kiềng, trông rất buồn cười, nhưng…võ công này còn có một môn kỳ hiệu…”

“Gì ạ…kỳ hiệu?” Công phu của Đông Nhi mềm hơn của cô, giờ còn không làm được động tác khó của cô nữa, lúc này mới trở về tư thế đầu và hít thở sâu, cô điều phối hơi thở, lúc này mới cất tiếng nói.

Tiêu Xước nở nụ cười, nói nhỏ: “Còn có thể có tác dụng làm tình trong khuê phòng”.

Đông Nhi xấu hổ mặt đỏ ửng, không biết vì đứng chống ngược quá lâu hay là do xấu hổ.

Tiêu Xước mỉm cười nói: “Đông Nhi, Trẫm và ngươi tình như tỷ muội, có gì mà không dám nói vậy? Ngươi còn trẻ, có dự định cô đơn tuổi già không? Hưu Ca rất tốt với ngươi, lẽ nào ngươi không động lòng sao? Sau khi thê tử của hắn bệnh chết, theo phong tục Khiết Đan ta, là em gái hoặc chị gái phải lấy thay tiếp tục thay em là thê tử của người ta, nhưng Hưu Ca vì để lại vị trí chính thất cho em, quyết định không lấy cô ấy.

Cho dù là nữ chân nhân, người Bắc Hán hiến mỹ nữ cho hắn, hay là Trẫm ban thưởng cho hắn những cô gái đẹp, dù những người con gái đó đều quan tâm yêu thương hắn đến mấy, cuối cùng cũng không được làm thê tử của hắn, Da Luật Hưu Ca vẫn để ngôi vị chính thất đó cho em đấy, hắn coi trọng em đến nhường nào chắc em cũng tự rõ. Phẩm chất con người Hưu Ca, võ nghệ, quan vị, chẳng lẽ không xứng với em sao? Em trở thành chính thất của hắn cũng chính là người của nhà Tiêu chúng ta, cô ta đã nhiều lần tìm tới Trẫm làm ầm lên, Trẫm vì các người nên đều đuổi cô ấy về”.

“Nương nương…”, Đông Nhi ngăn lời của cô, ngập ngừng một lát nói: “Nương nương, sau khi nam viện đại vương xuất binh, Khánh Vương sẽ biết khó mà lui, giải vây cho Thượng Kinh không?”

Tiêu Xước thầm thở dài, biết cô ấy sẽ không chịu tái giá, bèn nói: “Khánh Vương chẳng qua là dựng một vở hài kịch mà thôi, Trẫm nể nang không để ý tới hắn, Trẫm giờ để ý là bàn long Biện Lương đó”.

Ánh mắt nàng đăm chiêu nói: “Đường Quốc dễ đánh, Khiết Đan khó công, Triệu Khuông Dận bỏ cơ hội trời cho là nội loạn của ta đoạt U Vân, mà tập trung lực lượng đánh Đường Quốc, thực ngoài dự tính của ta. Xem ra, mấy năm này hắn tuy ở Trung Nguyên đông chinh tây phạt, lại chưa từng bỏ qua Khiết Đan ta. Thế nhân đều nói Trẫm và Khánh Vương theo thành tử chiến, cho rằng cơ hội chiếm lấy U Vân, trên thực tế, hắn nếu như bắc phạt thật, bộ tộc Da Luật vì bảo vệ xã tắc giang sơn, sẽ buông tha cho chỗ này không đến ba năm, Hoàng đế lâu rồi không lo được triều chính, cùng Khánh Vương giảng hòa cộng ngự ngoại địch. Triệu Khuông Dận có cái nhìn xuyên suốt, giỏi giang, nhân vật này, xưng chúa, nếu Trẫm lo liệu không chu toàn, sau khi Tống thống nhất trung Nguyên, chắc chắn sẽ là kẻ địch mà Đường Quốc ta không thể coi thường…”

******

Triệu Khuông Dận ngồi trên cao nói: “Tuyên Đường Quốc sứ tiết Từ Huyễn, Chu Duy Giản tiến kiến!”

Trước hoàng nghi điện, một tiếng hô lớn, chính phó Đường sứ vào tấn kiến.

Từ Huyễn là sứ bộ thượng thư của Đường Quốc, còn phó sứ Chu Duy Giản là một đạo sĩ, gần đây Lý Dục mê mẩn “Chu dị”, Chu Duy Giản bình thường vào cung giảng Dị kinh cho Lý Dục nghe, vì thế trở thành thân thiết, hoàn tục làm ngu bộ lang trung, lần này xuất sứ, Lý Dục lại gia phong hắn là điện tiền cấp sự trung, tu văn quán học sĩ thừa chỉ đưa theo lão đạo này đến, đại khái là mượn võ công thái cấp của hắn và Triệu Khuông Dận chăm chỉ luyện thôi thủ, nhưng không biết, Triệu Khuông Dận có thói quen dùng côn và có cái tâm tình kia không.

Hai người lên điện, bước lên bậc thang, Từ Huyễn dừng lại hít một hơi sâu, hô to: “Lý Dục vô tội, bệ hạ xuất binh vô danh”.

Triệu Khuông Dận ngồi ở ghế trên, nhìn hai bên, mỉm cười nói: “Từ Huyễn lão này đến thực quá vội, để hắn vào rồi mới nói”.

Từ Huyễn tiến vào điện, thất thanh nói: “Lý Dục dựa tiểu sự đại, như tử sự phụ, tất cung tất kính, chưa bao giờ thất lễ, giờ vì ốm yếu, không thể đi xa, nên mới tới chỗ bệ hạ xin khẩn từ, và bảo sứ giả mang theo trọng lễ, thần lấy thân phận quân quốc, những hành vi của Lý Dục, đều rất kính trọng tôn sùng bệ hạ, không hề có gì khiển trách, bệ hạ có tâm nhân hậu, thiên hạ hữu đạo minh quân, dựa vào cái gì tự nhiên hưng binh thảo phạt, 19 châu Giang Đông chiến hỏa loạn lạc, vô số lưu dân khóc lóc kêu than, tội của bệ hạ cũng…”

Từ Huyễn vừa đi vừa nói, lời nói của hắn dõng dạc vô cùng, nhịp điệu trầm bổng, khi hắn đi đến chính diện điện thì bách quan nghe vậy mặt biến sắc.

Triệu Khuông Dận bễ nghễ cười nhạt, hỏi: “Từ đại học sĩ nói hết chưa? Đại học sĩ đọc nhiều thi thư, há lại không nghe bách hành chi thủ? Ngươi nói Lý Dục đối với Trẫm như con với cha, thế Trẫm thấy lạ lắm, nếu Trẫm và Lý Dục có tình là phụ tử, thì sao lại ăn cơm hai nơi?”

Từ Huyễn cứng họng không nói được gì, không ngờ ngôn từ của Triệu Khuông Dận sắc bén như vậy, đấu tài ăn nói quá là mạnh, và không ngờ gậy ông lại đập lưng ông, hắn đem Lý Dục và Triệu Khuông Dận so sánh với tình quân thần cha con, giờ bị Triệu Khuông Dận dùng một lời nói chặn cứng họng hắn, ngay cả hắn đầy bụng kinh luân, tuyệt chiêu đòn chí mạng của hắn không sao xoay chuyển được.

Chu Duy Giản thấy tình thế không ổn, vội lấy ra quốc thư giấu trong tay áo, cao giọng nói: “Bệ hạ tức giận, khởi binh thảo phạt, Lý Dục tự biết mình đắc tội, xin thỉnh bệ hạ nguôi ngoai cơn giận, Lý Dục nguyện sẽ nhượng triều, chịu cơn thịnh nộ của bệ hạ. Mong bệ hạ hiểu tấm chân tình của Lý Dục, hạ chiếu hoãn binh, bảo toàn mệnh nhất bang”.

Lý Dục phái sứ đến Tống Quốc, nhằm vào khả năng phản ứng của Triệu Khuông Dận, chuẩn bị hơn mười quốc thư, lần lượt giấu ở trên người của hai vị sứ giả, hai vị đại sứ giống như nghệ nhân Biện Lương, tùy lúc mà hành sự, và lấy quốc thư ra ứng biến. Giờ thấy Triệu Khuông Dận không buông tha, Chu Duy Giản bèn lấy một quốc thư ra, chuẩn bị nhượng ngôi của Lý Dục, phù nhi tử lên đài.

Nội thị nhận lấy quốc thư, dâng lên ngự giá, Triệu Khuông Dận cầm lấy nhìn, cười khinh miệt, rồi để luôn sang một bên bàn, thản nhiên nói: “Lời của chúa ngươi nói, Trẫm xem không hiểu”.

Từ Huyễn thấy Triệu Khuông Dận đùa dỡn như vậy, tức giận run người, râu bay bay, nhưng không thể làm gì được đành cúi đầu, sức người không đông, làm sao đây? Rắn cũng không được, mềm cũng không xong, Triệu Khuông Dận quyết lấy Đường Quốc, giờ còn định sao nữa?

Từ Huyễn mặt tím tái, bỗng nhiên ngã bịch luôn xuống đất, bỏ mũ, khấu đầu cầu xin, tiếng nói tiếng khóc, văn võ trong triều thấy vạy không khỏi động lòng, Triệu Khuông Dận nghe vậy không kiên nhẫn được, từ từ đứng dậy nói: “Từ Huyễn!”

Từ Huyễn ngẩn người, ngẩng đầu dậy, nghe thấy Triệu Khuông Dận gọi tên mình, nói: “Chớ nhiều lời, Trẫm hôm nay nói thực cho ngươi biết, chúa ngươi tội gì. Một mái nhà thiên hạ, chỉ biết nằm, rồi ngủ. Ngươi tự về, nói với Lý Dục hắn đừng có mơ tưởng, mau mau hiến thành xưng hàng, Trẫm tất sẽ không bạc đãi, bằng không nếu như dụng binh, thì Trẫm sẽ không nể nang gì đâu”.

Từ Huyễn mặt mày ảm đạm, quỳ ngu si trên đất, không nói được câu nào, nào thì xuất quân vô danh hữu danh không tính toán nữa, Triệu Khuông Dận đã nói thẳng vào mặt hắn trước văn võ bá quan, chính là cần phẫn cường đạo, hắn còn có thể nói gì đây? Đường Quốc, thực là đại thế đã mất…

Từ Huyễn và Chu Duy Giản bị bẽ mặt trước điện, không dám ở lại lâu, lập tức trở về Kim Lăng báo tin của Triệu Quan Gia, nhìn Từ Huyễn đi lảo đảo, Triệu Khuông Dận có điều suy nghĩ: “Lý Dục xem ra còn chưa có ý quy hàng. Mệnh kinh tây chuyển vận sứ Lý Phù Ích vận chuyển lương thảo từ Kinh Hồ, tiếp tục vận chuyển hướng Giang Đông, vừa chuẩn bị chiến tranh, vừa dùng để chiến hậu an dân, Đường Quốc này, nay tất phải bị diệt”.

Hắn lại gọi người mang tấm bản đồ Đường Quốc mà Ân Duy tiến kinh sứ tiết Đường Quốc đến, đây là bản đồ bố trí quân sự của Triệu Quang Nghĩa ở Kim Lăng, Triệu Khuông Dận tỉ mỉ xem một lúc lâu, gọi Ân Duy đến, chỉ vào ngoại thành Kim Lăng bắc trại nói: “Lý Dục dựa vào địa thế hiểm trở, khó bảo toàn sẽ không xuất binh đánh lén, Trẫm thấy tình hình Kim Lăng, chỉ có bắc trại thích hợp đánh lén, ngươi về báo cáo với Tấn Vương, làm hoa tiêu, làm bức thành che chở, để phòng Lý Dục dùng cảm tử quân ban đêm xông vào đại doanh, tuyệt đối không được lơ là”.

Ân Duy vội nhận chỉ, Từ Huyễn đáng thương và Chu Duy Giản bị hắn ngày đêm chạy đi, một phần gây sức ép, hai tên sứ giả một hớp nước cũng không uống, vội vội vàng vàng ngay cả cửa viện cũng chưa vào thì bị Ân Duy tiễn luôn về Đường Quốc.

Lúc này, dưới thành Kim Lăng, Dương Hạo cũng đội mũ cao, thân mặc bộ long trọng, đeo ngọc bội, cùng tùy tùng đang dưới thành đợi thủ quân trong thành phóng cầu vào thành, phụng lệnh Tấn Vương Triệu Quang Nghĩa, hắn cần vào thành khuyên Lý Dục đầu hàng.


Quay lại  l Xem tiếp 


BigKool BigKool
Vườn Hoàng Cung - Nông Trại Online Vườn Hoàng Cung
Khu Vườn Thần Kỳ Khu Vườn Thần Kỳ
Vườn Thủy Cung Vườn Thủy Cung
goPet Online goPet Online

C-STAT