Bộ Bộ Sinh Liên
Quyển 8:Xuất Thái Giang Nam Liên
Chương 341: Đường sứ (2)
Lý Tòng Thiện chỉ là một thiếu niên mới hai mươi tuổi, một bậc nhân tài, nho nhã phóng khoáng. Từ Huyễn là một danh sĩ Giang Nam, lại là người nói chuyện nhả ra thơ, văn tài lưu loát. Danh sĩ này đúng là "hàng thật đúng giá", hắn ở trong quan trường không lâu, lời nói linh hoạt, đối đáp đâu ra đấy, so với loại kiêu ngạo như Lục Nhân Gia thì cao hơn nhiều.
Hai bên trò chuyện vui vẻ, dắt tay nhau vào thành. Thấy thành Biện Lương đường đi rộng rãi, phố phường phồn vinh, bến Biện Hà thuyền bè tấp nập, trên đường không nhìn thấy binh lính, hàng hóa nhiều như mây, đủ màu sắc và đầy không khí ấm no, Lý Tòng Thiện và Từ Huyễn không khỏi thấy kinh ngạc, không ngờ tốc độ hát triển của nơi đây lại nhanh đến vậy. Nhớ lại năm đó, khi mà Nam Đường ở vào giai đoạn phồn vinh nhất, có đến ba mươi châu, bao gồm cả Cống, Hoàn, Tô, Mân, Kinh, Hồ, dân chúng lúc đó lên đến năm trăm vạn người, binh cường mã tráng, vậy mà bây giờ đã tiêu tan, lại suy yếu rất nhiều, không khỏi thầm thương tiếc.
Triệu Phổ và Dương Hạo đưa hai vị quốc sứ tiến vào lễ tân viện, lại mở một bữa yến tiếc thiết đãi. Hỏi han ý kiến đối phương, biết được Đường quốc là tự tước quốc hiệu để xưng thần, thỉnh thần quy thuận, hai người họ cảm thấy không vui, nên yến tiệc bị hoãn lại, lập tức chuyển tin tức vào cung. Sau đó Triệu Phổ trở về phủ tể tướng, lập tức triệu tập mạc liêu, phân tích dụng ý của Đường quốc, thương lương kế sách ứng phó.
Buổi sáng hôm sau, Đường quốc Trình Vương Lý Tòng Thiện và Từ Huyễn lên điện diện kiến quân vương, tất cả các quan từ tứ phẩm trở lên đều có mặt chứng kiến. Lý Tòng Thiện và Từ Huyễn cũng là lần đầu tiên gặp mặt hoàng đế Tống quốc, thấy Triệu Khuông Dận ngồi trên ngai vàng, tai to mặt lớn, khí độ ung dung, hai mắt lấp lánh, không tỏ ra quá oai nghiêm mà nói chuyện lại khá thoải mái, trong sự anh vũ không mang theo sát khí. Bách quan trong triều ra vào rất có trật tự, tuân thủ lễ nghi, trật tự ngay ngắn, lại nghĩ lại cảnh tượng hôm qua đã ở Khai Phong, biết rõ Tống quốc đã tạo ra thành công sự thái bình, không khỏi có sự kính sợ.
Đường quốc sứ tiết bây giờ đến lại thỉnh cầu tự tước quốc hiệu, hạ thấp quốc cách, thỉnh làm thuộc quốc của Đại Tống, sau này tuân thuận Đại Tống, bình dân dẹp loạn, mỗi năm đều cống tấn Đại Tống hai vạn lượng bạc trắng. Hoàng đế cải hiệu xưng quốc vương, hoàng bào đổi thành tử sam, những nơi trang trí long phụng trong cung điện đều được cạo bỏ, con cháu vốn xưng "vương" thì đổi thành "công", những nha môn tương đương với Đại Tống cũng đều cần đổi tên, ví dụ như Thư Tỉnh, Môn Hạ Tỉnh, Thượng Thư Tỉnh, Ngự Sử Đài....đều đổi thành "tả, hữu nội sử phủ" "Ti Hội Phủ"....các chức quan cũng đổi lại, để tránh hiềm nghi.
Tất cả các điều kiện làm cho Triệu Khuông Dận thấy rất vui mừng, cả triều vui vẻ như mùa xuân, bây giờ mới chỉ là nói về ý của Đường quốc, Tống triều cũng phải đưa ra những điều kiện tương đương, không thể lập tức kí kết quốc thư xác lập quân thần địa vị của hai bên được.
Nhưng những lễ vật được nói đến thì lại lập tức được dâng lên. Ba mươi mĩ nữ Giang Nam được đưa đến đại điện, đó đều là những mĩ nữ yêu kiều đáng yêu, mắt đen da trắng, răng trắng, quần áo sặc sỡ, hương thơm ngào ngạt. Triệu Khuông Dận cười nhạt nhìn một lượt rồi ra hiệu bảo đưa vào hậu cung.
Từ Huyễn lại sai người mang lên các bảo bối, vàng bạc châu báu khác, Triệu Khuông Dận mỉm cười gật đầu chấp nhận. Tiếp theo đó Từ Huyễn lại dâng lên một đai ngọc có nạm vàng khảm ngọc, cực kì hoa lệ.
Tiểu nội thị dâng lên trước mặt hoàng đế, Triệu Khuông Dận chạm nhẹ vào, nghi ngờ nói: "Vật này cũng được coi là bảo vậy, nhưng lại không có tác dụng đặc biệt, tại sao lại dâng lên một mình như thế này?" Từ Huyễn cúi người xuống nói: "Thần thỉnh bệ hạ hãy thử ấn vào miếng ngọc ở giữa."
Triệu Khuông Dận nghi hoặc, cầm đai ngọc lên, ấn vào miếng ngọc giá trị nghìn vàng ở giữa lên, ấn một cái, thì nghe thấy một âm thanh leng keng vang lên, đai ngọc lập tức thẳng tắp, một lưỡi dao sắc bén bắn ra nửa thước, lưỡi dao sáng lóa, Triệu Khuông Dận không khỏi hai mắt sáng lên, thốt lên tán thưởng: "Hảo kiếm!"
Vẻ mặt Lý Tòng Thiện có chút đắc ý, nói: "Kiếm này là được thợ rèn nổi tiếng Long Tuyền dùng năm lượng vàng tinh anh luyện thành, mềm như lụa, nhưng thắng được cả thép, sắc bén vô cùng. Khi vô sự thì có thể thu gọn trong đai ngọc, nhưng khi gặp biến cố thì có thể rút ra để làm vũ khí phòng thân, đây là báu vật nước thần cẩn hiến cho bệ hạ."
Triệu Khuông Dận nghe xong liền cười ha ha: "Trẫm là thiên tử, đợi đến khi trẫm cần phải đích thân dùng kiếm để bảo vệ mình thì tình thế đại cục còn phải hỏi nữa sao?"
Lý Tòng Thiện thất kinh, vội vàng sợ hãi xưng tôi, Triệu Khuông Dận cười không nói gì, rút kiếm ra thử. Cánh tay mềm dẻo của Triệu Khuông Dận lượn vài đường kiếm, tiếng kiếm chém gió thanh thoát vang lên, nghe rất vui tai.
Cả triều đình văn võ bá quan đều không khỏi ngạc nhiên, kinh than tài nghệ kiếm thuật của Triệu Khuông Dận, kiếm đó là kiếm mềm, vốn không dễ chém, nhưng hắn lại có thể dứt khoát chém thẳng lên không trung liên hồi, rõ ràng là thủ pháp kì diệu. Lập tức có người cao giọng nói: "Bệ hạ thần dũng."
Lý Tòng Thiện mặt vàng như đất, Triệu Khuông Dận lại mỉm cười, an ủi vài câu, rồi bảo bọn họ về nơi đã được sắp xếp nghỉ ngơi, suy nghĩ kĩ lại chuyện Đường quốc tự tước quốc hiệu, quy thuộc Đại Tống.
Triều hội vừa tan, "Dương toàn bồi" liền dẫn Lý Tòng Thiện và Từ Huyễn trở về lễ tân viện, nghe họ nói điều kiện chi tiết mà Nam Đường tự tước quốc hiệu muốn đưa ra. Còn Triệu Phổ thì ở lại đi cùng khu mật sứ Lý Sùng Củ và Triệu Khuông Dận đến điện Văn Đức.
Khi đến điện Văn Đức thì khuôn mặt tươi cười của Triệu Khuông Dận lập tức biến mất, ánh mắt ngưng trọng nói: "Hai vị ái khanh, các khanh xem, tên Lý Dục này đang giở trò gì?"
Lý Sùng Củ khinh thường nói: "Quan gia, đây rõ ràng là Lý Dục đã thấy uy phong của binh mã Đại Tống, trong lòng sợ hãi, cho nên mới tự mình xin hạ cách làm vương, ý đồ dẹp loạn binh phạt. Lúc trước, cha hắn làm hoàng đế, vì khiếp sợ uy quyền của Thế Tông hoàng đế chiều Chu, không phải cũng từng tự hạ quốc cách một lần hay sao? Bây giờ Lý Dục chỉ là bắt chước làm theo cha hắn, thi triển trò cũ mà thôi."
Triệu Khuông Dận trầm ngâm nói: "'Cũng có thể, hoặc có thể đây là kế hoãn binh. Trẫm vừa nhận được tin báo, triều ta động binh với Mân Nam không lâu thì Đường quốc đã cho chỉnh đốn lại mười vạn hải quân, đại quân, có gì đó khác thường, nhưng không lâu sau đó lại đột nhiệt giải bỏ trạng thái khẩn cấp, không biết là xuất phát từ nguyên nhân gì? Bây giờ nghĩ lại, e rằng Lý Dục đã từng muốn nhân lúc trẫm động binh Mân Nam, để sơ hở phía Khai Phong mà đánh úp trẫm, sau đó không biết tại sao lại thôi, từ bỏ ý định đó." Nói đến đây, Triệu Khuông Dận có chút sợ hãi nói: "May mà hắn đã bỏ chủ ý đó.
Nếu không lúc đó người cô quả, đại quân thì ở bên ngoài, nguy cơ lương thực của Khai Phong vẫn chưa được giải quyết, một khi mười vạn tinh binh Đường tấn công thẳng vào Khai Phong, kinh đô chấn động, lòng dân hoang mang, dũng khí của đại quân tấn công Mân Nam cũng suy giảm, lúc đó lại truyền ra tin lương thực không đủ, đến lúc đó không phải chỉ thất bại một chỗ, mà tất cả đều thất bại, vận mệnh giang sơn Tống quốc ta không biết sẽ như thế nào nữa?"
Triệu Phổ mỉm cười nói: "Cơ hội tốt như vậy mà Đường quốc lại vứt bỏ, đây đúng là tự diệt mình, cũng là trời phù hộ cho Đại Tống ta. Quan gia, cơ hội tốt như vậy mà chúng chưa từng lợi dụng, bây giờ bình quyền của Tống quốc ta mạnh nhất từ trước tới nay, Lý Dục sao dám động vào mũi nhọn này chứ? Theo như thần thấy, Đường quốc phái sứ thần đến có lẽ không phải là kế hoãn binh, sợ là giống như Lý mật sứ đã nói, đây chính là bắt chước theo cha hắn, ý đồ lấy cách xưng thần để tạm thời bảo toàn quốc vận Giang Nam mà thôi."
Triệu Khuông Dận cười lạnh nói: "Bây giờ không giống ngày xưa, Trung Nguyên bây giờ tất cả đã vào tay trẫm, giường hắn bên cạnh, trẫm sao có thể để hắn ngủ ngon được?"
Triệu Phổ mỉm cười nói: "Bệ hạ đừng quên những nghị định đã nói từ lần trước với thần, nếu như muốn tổn hại ít nhất, tốc độ nhanh nhất, nắm được tận gốc thì phải bỏ qua các chuyện khác, đợi khi triều đình ta chuẩn bị ổn thỏa, rồi mới lại thảo phạt."
Triệu Khuông Dận hơi nhíu mày: "Điều trẫm lo lắng là thảo phạt Hán quốc là dùng danh nghĩa cứu giúp dân chúng Hán quốc cả triều đa phần là hoạn quan, ức hiếp dân chúng đến cùng cực. Nhưng nếu đã chấp nhận cho Lý Dục xưng thần, sau này Đường quốc lại luôn tỏ ra cung kính, sao trẫm có thể vô cớ thảo phạt được?"
Triệu Phổ tối hôm qua sớm đã bàn tính xong xuôi kế hoạch với đám người Mộ Dung Cầu Túy, lúc này trong lòng đã có mưu tính, liền nói: "Quan gia, tên Lý Dục này đúng là bê đá ném xuống chân mình, hắn tưởng rằng xưng thần với quan gia thì quan gia sẽ không có cớ để xuất binh sao? Ha ha, thần có kế này. Chúng có điều kiện thì chúng ta có thể đáp ứng hết, sau đó ban trạch viện, phong quan cho Trịnh vương Lý Tòng Thiện, để hắn lưu lại kinh sư không thả ra, nếu hắn đã thừa nhận là Tống thần thì chức vị mà quan gia ban cho hắn, hắn lại dám không nhận sao?
Đợi khi triều ta chuẩn bị sẵn sàng thì triệu Đường quốc Lý Dục đến tấn kiến, lấy thần gặp quân, là lẽ đương nhiên, nhưng có vết xe đổ phía trước của Lý Tòng Thiện, thì hắn tuyệt đối không dám đến, cho dù hắn dám đến thì chúng thần Đường quốc cũng không dám để cho hắn đi. Đến lúc đó, thần không phụng chỉ, quân muốn thảo phạt là là chuyện đương nhiên." Triệu Khuông Dận cười ha ha: "Được, vậy làm theo kế của khanh đi."
Ba quân thần lại bàn tính kế sách một hồi. Triệu Phổ và Lý Sùng Củ liền cáo từ rời đi. Triệu Khuông Dận xử lý thêm một số công văn tấu chương nữa, xong xuôi đang định về hậu điện nghỉ ngơi thì một khoái cước hồng lư tự được đưa vào điện, Triệu Khuông Dận vội vàng hỏi: "Lý Tòng Thiện và Từ Huyễn khi trở về đã nói những gì, nhắc đến điều kiện gì?"
Tên khoái cước đó cong người vái lạy nói: "Bẩm quan gia, Lý Tòng Thiện đó lại không nói nhiều lời, còn Từ Huyễn lại thao thao bất tuyệt, Đường quốc tuy có ý xưng thần, nhưng ngữ khí lại không muốn quá nhún nhường, trong lời nói có cả cương cả nhu, có ý ép triều đình chúng ta phải kí điều ước vĩnh viễn không xâm lược Đường quốc." Triệu Khuông Dận mắt lóe lên, vội hỏi: "Vậy Dương thiếu khanh đã trả lời như thế nào?"
Tên khoái cước đó nghe xong, khóe miệng liền nhếch ra, lộ ra một thần sắc cổ quái như cười mà như không.
Chương 342: thoại lao khắc tinh
Hồng lư khoái cước đó nói: “Sau khi trở về đến lễ tân viện, Dương tả sứ đã theo lễ chế mở thịnh yến khoản đãi Trịnh vương và Từ Huyễn. Trong bữa tiệc Từ Huyễn miệng lưỡi lưu loát, kể về Giang Nam.”
Hắn vừa nói vừa dâng lên những gì đã ghi chép được. Triệu Khuông Dận nhận lấy, đọc rồi tán thưởng nói: “Quả nhiên không hổ là Giang Nam đệ nhất tài tử. Những lời này đề cập đến Lý Dục, làm cho người ta không có cảm giác chán ghét, là một tinh phẩm, khí độ vửa phải, lại ứng với khí tượng hôm nay, vừa lấy lòng Tống quốc ta, lại vừa không làm giảm uy phong Đường quốc. Trong những học sĩ triều đình ta, chỉ có Lô Chế Cáo mới so sánh được, những người khác không bằng, mà với học thức của Dương Hạo thì đương nhiên không có cách nào ứng phó được.”
Hồng lư khoái cước dạ một tiếng rồi nói: “Quan Gia nói đúng, Dương tả sứ chỉ giơ chén lên ca ngợi, mời rượu Từ Huyễn mà không đối đáp lại.”
Triệu Khuông Dận cười nói: “Tiếp tục nói đi, sau đó như thế nào?”
Hồng lư khoái cước nói: “Từ Huyễn thấy Dương tả sứ không tiếp lời, hứng thơ cũng dần giảm, lại uống thêm ba tuần rượu, rồi nói về việc Đường quốc xưng thần, nói đến chuyện này thì thao thao bất tuyệt. Tiểu thần trốn đằng sau bức bình phong đã ghi chép lại, do không kịp nên chỉ ghi lại những ý chính.”
Triệu Khuông Dận cười lạnh nói: “Từ Huyễn vốn là một nhân tài, nhưng hắn lại không hiểu được thời cục. Tình thế thiên hạ thống nhất là không thể ngăn cản. Từ Huyễn hắn chỉ dựa vào cái lưỡi không xương của mình mà nghĩ rằng có thể khống chế được cục diện thiên hạ trong tay hay sao? Thật là sự hạn hẹp của thư sinh! Hừ, hắn nói những gì?”
Hồng lư khoái cước nói: “Từ Huyễn nói, chủ của Đường quốc tấm lòng nhân hậu, từ trước đến nay tự lực cánh sinh, dẹp quân nổi loạn, làm an dân. Dưỡng binh là để tự bảo vệ mình, không có tâm dành thiên hạ. Bây giờ Tống chủ anh minh, thiên hạ quy tâm, Đường quốc cũng không phải là người lạc hậu, vì dân chúng mà tự tước quốc hiệu, hạ cách làm vương, thiện sự Đại Tống, dẹp binh yên dân,sau này Tống quốc và Đường quân thần hòa khí, vĩnh viễn không binh phạt, thực là chuyện may mắn. Ừm… đại ý là như vậy. Từ Huyễn xuất khẩu thành chương, lời như gió, những gì tiểu thần ghi lại quả thực không bằng…”
Triệu Khuông Dận từ từ thưởng thức, khóe miệng nở ra một nụ cười nhạt: “Câu này mấu chốt là ở chỗ dưỡng binh tự bảo vệ. Chúng xưng thần lại sợ trẫm mượn cơ hội dụng binh hoặc đóng quân ở đó. Câu này rõ ràng chính là Đường quốc có thể xưng thần nhưng ta không được động binh với Đường quốc, cũng không được đóng quân ở Đường, vì chúng có đủ sức tự bảo vệ. Ha ha ha… Dương Hạo nói như thế nào?”
“Ừm… Dương tả sứ mỉm cười, chỉ tiếp rượu.”
Triệu Khuông Dận ngẩn ra: “Hắn một câu cũng không nói sao?”
“Không có.”
Triệu Khuông Dận ngẩn ra một hồi, lại nói: “Vậy Từ Huyễn lại nói gì?”
Hồng lư khoái cước nói: “Từ Huyễn lại nói Đường quốc hàng Tống là thành tâm, hy vọng quân vương Tống quốc ta cũng có lòng nhân nghĩa tiếp đãi Đường quốc, chớ sinh đao binh dẫn đến thiên hạ rối loạn. Hắn nói thiên hạ không có nước nào nghìn năm không diệt, vì được sủng mà mưu đồ bá vương, dẫn đến ngàn vạn lê dân thống khổ, không phải là phúc của dân chúng mà lại là tội nhân thiên cổ. Lại nói trên thế gian này không có người nào trăm năm không chết, nếu như Tống quốc ta muốn dùng vũ lực ép Đường, thì trên dưới Đường, từ quân đến dẫn sẽ đều một lòng, hợp chí thành thành, nếu không chống lại thì vạn tuế sẽ cười phỉ nhổ.”
Triệu Khuông Dận chỉ cười lạnh, lần này không đợi hắn hỏi, Hồng lư khoái cước liền bổ sung thêm một câu: “Dương tả sứ vẫn chỉ lộ mặt cười và uống rượu.”
“Nói tiếp đi.”
“Vâng, Từ Huyễn lại nói, Đường quốc phục Tống là vì muốn dập đao binh, dưỡng vạn dân. Lại thêm Quan Gia nhân đức, tất sẽ không đối xử hà khắc với người Đường, cho nên sẽ quy tâm. Nay Đường đã dâng biểu xưng thần, hy vọng quân vương Tống quốc ta sẽ có thể đối với chủ quân thần Đường quốc như phụ tử, mãi mãi hòa hợp, không gây binh biến. Nếu không, Đường chủ mấy mươi năm nhân chính được lòng dân, bây giờ nơi hiểm yếu Trường Giang có thể nương tựa, quân thần đồng lòng, Tống sư tuy mạnh nhưng cũng không thể mạnh bằng lòng dân.”
“Miệng lưỡi hắn thật lợi hại.”
Triệu Khuông Dận khinh thường nói: “Hiểm yếu Trường Giang có thể nương tựa sao? Bảo vệ Giang Nam bảo vệ Hoài Nam, Đường quốc Hoài Nam không bảo vệ, bây giờ đã vào hết trong tay Đại Tống ta, Trường Giang rãnh trời có thể yên hay sao? Trẫm luận thi từ không thể bằng hắn, nhưng câu này trẫm lại có thể bác bỏ lột hết da hắn. Đáng tiếc trẫm thân làm thiên tử, không thể đích thân phản bác hắn, quả thực là đáng tiếc. Dương Hạo ứng đối như thế nào?” Hồng lư khoái cước nhăn mặt lại, đáp: “Dương tả sứ chỉ mỉm cười mời rượu.”
Triệu Khuông Dận nghe rồi liền giống như bị truyền nhiễm, trán hắn cũng nhăn lại, nói: “Tiếp tục đi.”
“Vâng, Từ Huyễn đó vẫn tiếp tục nói, Đường quốc biên cương không rộng bằng Tống, binh tướng không dũng mãnh thiện chiến bằng Tống quốc, nhưng Giang Nam nhiền sông nhiều hồ, Đường có thủy quân mấy chục vạn, giỏi thủy chiến, mà binh mã phía bắc cảu ta cho dù đang nuôi thủy binh nhưng e rằng trong thời gian mười năm cũng khó trở thành vũ khí mạnh, mà binh thì sẽ dần già yếu. Vì điểm mạnh này của Đường, nếu Tống thiện đãi Đường thì Đường sẽ lấy thần lễ để đối quân, vĩnh viễn không phản kháng. Nếu không, Đường quốc chủ đã chính miệng nói rằng: ‘Nếu vương sư kiến thảo, bắt khom lưng quy phục, thì sẽ đích thân dẫn đầu sĩ tốt, dựa thành mà đánh. Cho dù có không dành được thắng lợi thì cũng không làm con quỷ của đất nước.’ ”
Triệu Khuông Dận cười lớn ha ha, khinh thường nói: “Thật là làm khó Lý Dục rồi, lại có thể nói ra được một câu đầy khí phách như vậy. Đáng tiếc, đây cuối cùng cũng là một câu nói khoác của một tên thư sinh thối mà thôi, Lý Dục hắn có thể làm được sao? Dương Hạo đáp thế nào?”
Hồng lư khoái cước nói: “Dương tả sứ mỉm cười…”
Triệu Khuông Dận nhăn mày, ngắt lời nói: “Chỉ mời rượu?”
“Ừm… vâng”
“…. Từ Huyễn đó lại nói gì?”
Hồng lư khoái cước cười khan nói: “Từ Huyễn không nói gì nữa, chỉ uống rượu.”
Triệu Khuông Dận im lặng chốc lát, xoay mình chợt cười: “Ha ha ha… ha ha ha… ha ha ha… nước chát chấm đậu phụ, vỏ quýt dày có móng tay nhọn, hóa ra khắc tinh của loại người như Từ Huyễn lại chính là Dương Hạo. Trẫm thật không lầm, ha ha, lấy ngu trói trí, Dương Hạo này quả thật đã làm cho tài tử như Từ Huyễn phải đuối lý, làm một cái miệng hồ lô, thật là buồn cười chết mất…”
***
Từ Huyễn tuyệt đối không nghĩ rằng khi mình đến Tống quốc, trong lòng đã chuẩn bị rất kĩ những lời hay ý đẹp mà lại gặp phải một tên dở hơi như Dương Hạo, những lời đó hoàn toàn không có đất dụng võ. Tính khí của tên Dương Hạo này rất tốt, chăm lo cho họ cũng không chút thiếu sót, nhưng bất kể là hắn có dùng mỹ tử nào để ám chỉ cho hắn, hay là chính diện đưa ra yêu cầu thì Dương Hạo chỉ mỉm cười, dáng vẻ như cao thâm khó lường, làm hắn phải đoán xem Dương Hạo rốt cuộc là đang có ý gì?
Từ Huyễn bị hắn dày vò đến mức một chút tức giận cũng không còn. Hắn muốn gặp Triệu Phổ? Không rảnh, tể tướng đại nhân bận rộn như vậy, thời gian đâu mà gặp? Muốn gặp Quan Gia? Nực cười, tể tướng còn không có thời gian thì Quan Gia sao có thể rảnh rỗi nghe hắn chứ. Thời gian cứ thế từng ngày trôi đi, thời cục càng lúc càng bất lợi đối với sứ đoàn Đường quốc.
Đầu tiên là tin tức Đường quốc tự hạ mình tước quốc hiệu đã được lan truyền ra, không những truyền khắp Đại Tống mà truyền đến khắp tứ phương, Khiết Đan phía bắc, tam phiên tây bắc, Ngô Việt Giang Nam, còn cả những dân chúng Đường quốc vốn bị che giấu cũng biết được. Hơn nữa còn biết rõ ràng rằng Đường quốc Trịnh vương Lý Tòng Thiện và sử bộ thượng thư Từ Huyễn bây giờ đã đang ở lễ tân viện của Khai Phong Đại Tống, mỗi ngày hồng lư tả khanh sứ Dương Hạo đều đích thân đến cùng đi nghe ca vũ khúc nhạc, mỹ tửu giai hào, đối đãi rất thịnh tình với họ. Cho dù quốc thư chính thức vẫn chưa được dâng lên, hai bên vẫn chưa hề ký kết điều khoản giữa quân quốc và thần quốc, nhưng việc này đã làm cho cả thiên hạ đều biết đến, họ không còn đường lui nữa rồi.
Đúng vào lúc này, một tiếng sét giữa trời xanh trong dự đoán đã vang lên, chiến sự ở Mân Nam đã kết thúc. Tống tấn công đã lấy được Bang Châu, Hạ Châu, tứ châu Chiêu, Đỗ, Liên, Thiều đại bại, hơn mười vạn quân Nam Hán như chóp của cánh hoa sen, Nam Hán lấy Quảng Châu làm trung tâm, cắt theo hai hướng Lĩnh Nam, bây giờ cuối cùng đều đã quy thuộc Trung Nguyên.
Tống quốc cả nước ăn mừng, Triệu Quan Gia đại thưởng cho quần thần, ngay cả nội thị đô tri Trương Đức Quân cũng được phục hồi lại nguyên tính, lại còn đường thưởng thêm gọi là Kế Ân. Vương Kế Ân vốn họ Vương, lúc đầu vào cung làm tiểu nội thị đã nhận đại thái giám họ Trương làm nghĩa phụ, cho nên đổi họ, gọi là Trương Đức Quân, bây giờ hồi phục lại danh tính, lại được Quan Gia ban tên, vô cùng lấy làm vinh hạnh. Ngay cả hắn cũng được phong thưởng thì có thể thấy bách quan trong triều, đám tướng lĩnh có công sẽ được thưởng lớn như thế nào rồi.
Trong triều bận rộn đến chuyện này nêu càng không để tâm tới đoàn sứ Đường quốc. Cần phải biết rằng đây chính là Đường quốc chạy đến muốn dâng thuận biểu quy hàng, nhưng đối với Đại Tống mà nói thì chuyện như thế này chẳng đáng là gì, không muốn lại được, Tống quốc đương nhiên sẽ làm cứng lên, Từ Huyễn đến lúc đó vẫn phải kiềm chế cơn giận, nhưng biết rõ huynh đệ mình bây giờ ăn ngủ bất an, Trịnh vương Lý Tòng Thiện đang lo lắng đợi tin tức, đến ngồi cũng không yên. Hắn không hy vọng xa vời rằng có thể nhận được những yêu cầu mà Từ Huyễn đã đưa ra, hắn chỉ là một thư sinh ngây thơ, hắn giống như huynh trưởng của hắn, không cần phải lột bộ mặt yêu cầu Tống triều giấy trắng mực đen viết chi tiết một số việc ra. Triệu Khuông Dận đã thừa nhận địa vị quân thần thì sẽ cần phải tuân thủ quy tắc của quân thần, nếu không… lẽ nào hoàng đế Tống quốc không sợ người đời cười hắn nói không giữ lời, chịu sự phỉ báng chế nhạo của người đời sao?”
Lý Tòng Thiện rõ ràng là đã quên mất chuyện Triệu Khuông Dận mấy năm trước tại Kim Giám điện đã thân thiết nhiệt thành mà bắt tay với tiết độ sứ Vĩnh An quân khi hắn chủ động đến quy hàng, rồi đã hứa với hắn gì rồi. Nội bộ sứ đoàn đàm phán xảy ra bất đồng ý kiến, mà Trịnh vương Lý Tòng Thiện bất luận là địa vị hay quan hệ thân thiết với Đường quốc chủ Lý Dục đều khác xa với Từ Huyễn, đàm phán đương nhiên là do hắn làm chủ.
Cho nên điều kiện đàm phán mỗi lúc lại hạ xuống, Tống quốc lại càng ghê gớm hơn, không những không chấp nhận thêm bất cứ điều kiện gì mà còn ngay cả với vấn đề vụn vặt liên quan đến lễ chế giao nộp quốc thư qua lại giữa hai bên sau này cũng bắt Đường quốc phải nhượng bộ nhiều, quy định trên chiếu thư mà hoàng đế Tống quốc gửi cho quốc vương Đường quốc không xưng là quốc vương Giang Nam mà trực tiếp xưng bằng tên.
Đối với Tống quốc mà nói đây có thể coi là song hỷ lâm môn, Hán quốc bị tiêu diệt, cương vực mở rộng, uy danh vang dội, còn Đường quốc lại là thêu hoa trên gấm. Vừa mới cử hành nghi thức Đường quốc quy thuận, chính thức xác lập danh phận quân thần, đại tướng Phan Mĩ đã áp giải hoàng đế Hán quốc Lưu Kế Nghiệp trở về Khai Phong, cho nên tiếp theo đó lại lập tức triệu tập nghi thức nạp hàng, và mời sứ tiết Đường quốc đến tham gia.
Triệu Khuông Dận ngồi trên cao, văn võ bá quan xếp hai hàng hai bên, các ngoại thần tham gia lễ cũng đứng ở trên điện, hoàng đế Hán quốc Lưu Kế Nghiệp bị đưa đến cung điện. Vị hoàng đế Hán quốc này là một hôn quân hiếm gặp, vì lo tông thất sẽ cướp hoàng vị mà đã chém sạch huynh đệ thúc bá cháu chắt. Hắn cho rằng đại thần có gia thất sẽ ôm lòng riêng, cho nên phàm như người làm quan nào đều phải tự thiến chính mình, khắp triều đại thần đều là hoạn quan và cung nữ.
Vị hoàng đế này sủng ái một nữ tử Ba Tư cực béo, sau khi làm cho hoang dâm ở hậu cung xong thì tự xưng làm “Tiêu Nhàn đại phu”, nhưng một người như vậy thể trạng lại rất đầy đặn, mi thanh mày tú, trên điện đối mặt với quân vương thi lễ như nghi, trả lời khôn khéo, giỏi ăn nói. Dương Hạo đứng bên cạnh nhìn, nhưng quả thật nhìn mãi không thấy một người như thế này lại là một kẻ hoang dâm vô đạo.
Triệu Khuông Dận lúc này tâm trạng rất tốt, tuy khinh thường không coi tên Lưu Kế Nghiệp này là người, nhưng thấy hắn quỳ ngoan ngoãn dưới kim điện, hô vạn tuế lại thấy rất vui vẻ, lập tức gia phong Lưu Kế Nghiệp làm đại tướng quân, gia tước Ân Xá hầu, và ban cho phủ đệ. Lưu Kế Nghiệp nơm nớp lo sợ, vốn nghĩ vị hoàng đế Tống quốc này sẽ chém đầu mình, không ngờ lại khoan dung như vậy, không khỏi vui mừng ngoài mong đợi, lập tức khấu đầu tạ ơn.
Triệu Khuông Dận cười ha ha, ban cho hắn ngồi. Lưu Kế Nghiệp nghìn ân vạn ta, ngồi xuống một bên. Triệu Khuông Dận lại sai người ban cho hắn mĩ tửu, không ngờ Lưu Kế Nghiệp vừa nhìn thấy mĩ tửu bê đến trước mặt, sắc mặt liền đại biến, lập tức trượt xuống khỏi ghế, quỳ xuống khóc lớn: “Bệ hạ tha mạng, bệ hạ tha mạng.”
Triệu Khuông Dận kinh ngạc, nhìn xung quanh rồi hỏi: “Đây… đây là trẫm ban cho mĩ tửu mà thôi, Ân Xá hầu sao lại khóc như vậy?”
Phan Mĩ cười nói: “Quan Gia có điều không biết, Ân Xá hầu khi còn làm hoàng đế Hán quốc, thường dùng một cách tốt nhất để giết đại thần, đó là ban rượu độc. Quan Gia lại thưởng rượu cho ngài ấy, ngài ấy liền cho rằng Quan Gia muốn giết ngài ấy.”
Triệu Khuông Dận vừa nghe xong liền cười ha ha, xua tay nói: “Đến đây, đem chén rượu đó cho trẫm.”
Triệu Khuông Dận cầm lấy chén rượu, uống một hơi cạn sạch. Lưu Kế Nghiệp thấy Triệu Khuông Dận uống hết chén rượu, lúc này mới hiểu được mình đã lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử, không khỏi thấy xấu hổ.
Triệu Khuông Dận cười nhìn Lưu Kế Nghiệp nói: “Trẫm nếu muốn giết khanh thì sẽ đường đường chính chính chém đầu khanh, là quân vương của một nước, cần gì phải dùng thủ đoạn hèn hạ như vậy. Lưu khanh sau này chỉ cần an phận thủ thường, trung với Đại Tống thì lưỡi đao của trẫm tuyệt đối sẽ không để lên cổ khanh.”
Hắn vừa nói ánh mắt vừa cố tình mà như vô ý nhìn lướt qua Lý Tòng Thiện và Từ Huyễn. Hai người không khỏi chán nản cúi đầu xuống.
Triều hội đã tan, Triệu Khuông Dận liền bày yến tiệc ở trong cung, khoản đãi Ân Xá hầu, Lý Tòng Thiện và Từ Huyễn cũng đều đến. Trong bữa tiệc khả năng nịnh nọt của Lưu Kế Nghiệp nhanh chóng đã được sử dụng. Mới hôm qua hắn vẫn còn là một đế vương cao cao tại thượng, vậy mà hôm nay đã có thể nhanh chóng sắm cái vai mới của mình, làm một tên nịnh thần đạt tiêu chuẩn. Dương Hạo đứng một bên nhìn, lại không khỏi thầm bái phục tố chất người này. Lý Dục… sẽ có một ngày đến nơi này chứ, nếu như Lý Dục có được một nửa sự thức thời của Lưu Kế Nghiệp thì chắc cũng không phải chết bất đắc kì tử, ừm… cũng chưa chắc, Triệu Quang Nghĩa dù sao cũng không phải là Triệu Khuông Dận, lòng dạ hắn… hắn… hắn…
Dương Hạo giơ chén rượu lên, đột nhiên ngẩn ra tại chỗ, hắn không có cách nào xác định được thời gian mà Triệu Khuông Dận sẽ chết, nhưng hắn nhớ rất rõ, Tống lấy Nam Hán không lây, Triệu Khuông Dận liền chết bất đắc kì tử. Bây giờ triều đình đã đánh bại được Nam Hán, Quan Gia đã từng nói với hắn, sẽ phái hắn đi sứ Đường quốc, dò thám quân tình, ly gián quân thần chúng, sau đó… năm sau muộn nhất là đến cuối năm Tống quốc sẽ động thủ với Nam Đường, như vậy chính là nói Triệu Khuông Dận sẽ không còn nhiều thời gian nữa?
Triệu Khuông Dận ngồi trên đó, đang cùng cười nói với đám thần tử, Dương Hạo âm thầm nhìn hắn, con người trước mắt này là cái tên mà hắn đã từng nhìn thấy trong đống giấy, nhưng bây giờ mình lại có thể tận mắt nhìn thấy một người sống sờ sờ, con người này chắc chắn là một vị anh chủ tài trí đa mưu, không lâu sau này hắn lại bị hóa thành một cái tên, chỉ là một cái tên được sử sách ghi lại.
Từ trước tới nay chưa từng có một người nào có cảnh ngộ như Dương Hạo, hắn có thể tận mắt nhìn thấy một vĩ nhân đã được ghi chép trong lịch sử, lại chính tai nghe được tin về cái chết của hắn, cụ thể về cái chết của hắn. Hắn sẽ chết như thế nào? Nghi án thiên cổ rốt cuộc là như thế nào? Dương Hạo ngẩn ra nghĩ ngợi, tất cả những tiếng huyên náo bên tai đều không nghe thấy, hoàn toàn chìm vào suy nghĩ của mình…
“Dương khanh, Dương khanh… Dương Hạo!”
“Dạ! Thần ở đây.” Dương Hạo đột nhiên bừng tỉnh, thấy Triệu Khuông Dận đang gọi hắn, Trịnh vương Lý Tòng Thiện đang ngồi một bên, mặt vàng như đất, Từ Huyễn lại mặt xanh như đồng, không khỏi kinh ngạc.
Triệu Khuông Dận mỉm cười nói: “Lý khanh lời ăn tiếng nói phong lưu, làm cho trẫm rất vui, trẫm đã quyết định rồi, trẫm sẽ phong tước gia quan cho Lý khanh, cho Lý khanh lưu lại Khai Phong. Giang Nam chủ quốc khiển sứ đến triều đáp lễ qua lại mà, trẫm muốn phái khanh đến Đường để tuyên chiếu, đợi khi Từ khanh trở về thì khanh hãy cùng khanh ấy đi nhé.”
“Cơ hội của ta cuối cùng đã đến rồi, Triệu Quan Gia, còn ngài thì sao? Ngài còn có cơ hội không…”
Dương Hạo nhìn sâu vào mắt hắn, rồi khom lưng nói: “Thần… tuân chỉ!”
***
Lý Tòng Thiện bị giam lỏng ở Khai Phong không được rời khỏi. Từ Huyễn vì thế mà tìm mọi cách kháng nghị, nhưng kế này của Triệu Khuông Dận vốn là muốn xao sơn chấn hổ, ý là nhằm vào Lý Dục, nên hoàn toàn không để ý tới những kháng nghị đó. Sứ thần ngoại giao tuy có cái miệng khéo léo ba hoa chích chòe, cũng không có cách nào khác. Cũng may Lý Tòng Thiện chỉ bị giam lỏng ở phủ Khai Phong, còn các lễ nghĩa khoản đãi đều không hề suy giảm, tính mạng cũng không gặp nguy hiểm gì. Lý Tòng Thiện bình thản chịu đựng gian khổ, Từ Huyễn cũng hết cách, chỉ có thể xấu hổ nhẫn nại chuẩn bị phục mệnh về Đường quốc.
Hán quốc đã giành được, Triệu Khuông Dận bắt đầu chuẩn bị toàn lực cho việc nam phạt. Lúc này đã đến cuối mùa thu, nhưng trên mặt hồ Kim Thủy được tạo ra từ tiểu Tây Hồ ở phía tây thành Khai Phong lại khí thế ngút trời. Tiếng trống đập rộn rã, tiếng hô vang như xé gió, trên mặt sông là vô số các chiến hạm đang đua nhau chạy, trên những chiến hạm lớn bé đủ loại là đám binh sĩ đang ra sức hò hét đầy sự phấn chấn. Cảnh tượng vô cùng hùng vĩ, thuyền tiến thẳng mặt nước, bắn lên bia phía bờ, tiễn phóng như mưa, thế lực không thể ngăn cản được.
Triệu Khuông Dận vuốt râu cười nói: “Đào hồ dẫn nước luyện binh, không thể luyện ra được thủy quân thiện chiến hay sao? Hừ! Trẫm luyện thủy binh trên hồ đấy, còn Từ Huyễn hắn chỉ luyện thủy binh trên giấy trắng, sao có thể giống nhau được.”
Khuôn mặt hắn đầy vẻ hài lòng, nhìn về tướng sĩ thủy quân đang luyện tập dũng mãnh như hổ báo phía trước, nói: “Hồi cung thôi.”
Hoàng đế ngồi trên giá hồi cung, nhưng đường về lại không phải là con đường đến. Triệu Khuông Dận ngồi trong ngự kiệu có chút ngạc nhiên, gọi nội thị đô tri tổng quản Vương Kế Ân đến hỏi: “Sao lại đi đường khác?”
Vương Kế Ân liền bẩm báo: “Quan Gia, một lượng lớn lương thực thủy vận đang được vận chuyển vào kinh, đang hướng về quan kho dự trữ, tắc cả lộ trình, sợ là sẽ làm lỡ thời gian của Quan Gia nên đã đi theo đường vòng.”
Triệu Khuông Dận vui mừng, lại hỏi: “Thủy vận Biện Hà vẫn còn có thể vận chuyển thêm lương thảo sao?”
Vương Kế Ân liền nói: “Thu sắc đã lên cao, nước sông nông hơn, khi vận chuyển không thể để thuyền nặng, đây là đợt vận chuyển cuối cùng trong năm nay.”
“Ừm.” Triệu Khuông Dận mỉm cười không nói.
Chương 343: Cơn giận lôi đình
Đoàn người tiếp tục đi về phía trước, Triệu Khuông Dận ngồi bên trong kiệu xem xét cảnh tượng bên ngoài. Cả chặng đường đi long kỳ được giơ lên, dân chúng nhìn thấy nghi trượng đều cúi xuống bái chào, sắc mặt hoan hỉ. Đột nhiên đoạn đối thoại của mấy tên tiểu nội thị ở bên ngoài đại kiệu làm cho Triệu Khuông Dận chú ý.
“Kì lạ thật, ca ca, huynh xem ở bên kia. Ngự viện hoàng gia chúng ta từ lúc nào đã xây lên một trạch viện vậy?”
“Không biết nữa, chắc đó là nơi người trông viên lâm ở?”
“Phì! Ngươi mọc ra hai con mắt chó lại không biết sao đặt ở trên cái đầu lợn. Ngươi nhìn xem, trạch viện đó đầy vẻ huy hoàng, là nơi mà người trông viên lâm có thể ở được sao? Ta đoán đó là biệt cung mà quan gia đã cho xây.”
Triệu Khuông Dận nghe xong liền thấy rất kì lạ, liền quay đầu sang bên trái nhìn ra ngoài cửa sổ, quả nhiên thấy một mảnh viên lâm, trên khoảng đất mười mẫu có một kiến trúc bình địa vô cùng hào nhoáng mọc lên. Triệu Khuông Dận lại không biết đây là hoàng lâm uyển viên của nhà mình, vội gọi: “Vương Kế Ân, đến đây trẫm hỏi!”
Nội thị đô tri Vương Kế Ân liền chạy tới, Triệu Khuông Dận kề vào trước cửa sổ, chỉ tay ra bên ngoài nói: “Đây là ngự viên của hoàng gia ta sao? Từ lúc nào đã xây lên một trạch viện lớn như vậy, nhìn dáng vẻ trông rất xa xỉ, xây lên một biệt viện lớn như vậy sao chưa từng có người đến bẩm báo với trẫm?”
Vương Kế Ân liền nói: “Nô tài cũng không biết nguyên do, thỉnh quan gia cho nô tài đi tra xét rõ ràng rồi sẽ về tấu với quan gia.”
Triệu Khuông Dận trầm mặt xuống, gật gật đầu, ngồi trong kiệu nhắm mắt dưỡng thần.
Nghi trượng tiếp tục tiến về phía trước, Vương Kế Ân thì mang theo mấy người nữa đi dò hỏi. Khi Triệu Khuông Dận về đến cung, tắm rửa nghỉ ngơi thì Vương Kế Ân liền chạy về, cung kính bẩm báo: “Quan gia, nô tài đã thăm dò rõ ràng. Trạch viện trong ngự uyển hoàng gia đó không phải là kiến trúc trong cung, mà là viện trạch tư của tể tướng Triệu Phổ.”
Triệu Khuông Dận ngạc nhiên nói: “Trẫm nghe nói mảnh đất đó là ngự uyển của hoàng gia?”
“Vâng, đúng như vậy.”
Triệu Khuông Dận lửa giận bừng bừng, chỉ ngón tay cái vào mũi Vương Kế Ân, quát lên: “Ngự uyển hoàng gia, sao lại có thể xây trạch viện của Triệu Phổ gia, ngươi nói xem?”
Vương Kế Ân hoảng sợ, quỳ xuống, cuống quýt khấu đầu nói: “Nô tài không biết, nô tài không biết.”
Triệu Khuông Dận nghiến răng, phất áo nói: “Truyền chỉ, lệnh tông chính khanh tra xét rõ ràng rồi báo với trẫm.”
***
Vào một buổi chiều hai ngày sau, Triệu Khuông Dận mở tiệc ở Văn Đức điện, cùng hàn lâm học sĩ Lô Đa Tốn đàm văn luận đạo. Lô học sĩ giỏi kinh sử, thông minh trí nhớ tốt, văn từ nhanh nhẹn, phúc hữu thao lược. Trong triều đình có bách quan nhưng khi cùng Triệu Khuông Dận đối đáp học vấn thì không ai có thể đáp trôi chảy bằng hắn. Trong mắt Triệu Khuông Dận thì sự bác học của Lô học sĩ có thể xưng làm đệ nhất Đại Tống, cho nên không những thích nhất cùng hắn tham thảo học vấn mà còn rất kính phục hắn.
Triệu Khuông Dận lại không biết vị Lô đại học sĩ này thực tài thực học đương nhiên là có thật, bất kể hắn hỏi gì thì vị Lô đại học sĩ đều có thể dẫn chứng rộng rãi, dẫn chứng từ các điển cố, quả thực là học vấn trong thiên hạ như thể đều ở trong đầu hắn vậy. Nhưng thực ra con người này không thực sự có trí nhớ giỏi như vậy mà là vì vị Lô học sĩ này còn kiêm sai sứ hoàng gia sử quản. Triệu quan gia rất thích đọc sách, mỗi lần lấy từ trong sử quán mang đi sách gì thì Lô Đa Tốn đều hỏi tiểu lại quản lý kho sách để biết rõ, sau đó đọc thâu đêm không ngủ, ghi nhớ học thuộc lòng những kiến thức then chốt nhất. Mỗi lần Triệu quan gia có chỗ nào không hiểu trong sách, hỏi các đại thần, người có thể lập tức đáp lời mà không có chỗ nào thiếu sót đương nhiên là Lô đại học sĩ hắn.
Cứ như vậy, trong mắt Triệu Khuông Dận thì con người này chính là đệ nhất học vấn Đại Tống. Hai người đang đàm kinh luận sử, đang nói đến chỗ hứng lên cao thì tông chính khanh Trương Trì rón ra rón rén bước vào. Trương Trì là tông chính khanh, chủ quản những việc của hoàng tộc, nhưng phàm là những chuyện đề cập đến hoàng tộc thì xử lý rất phiền phức, người có thể làm chức quan này đa phần phải là người “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”, linh hoạt nhanh nhẹn, rất giảo hoạt. Nhưng chỉ vần nhìn tướng mạo thì vị tông chính khanh tuổi ngũ tuần này lại có dáng vẻ mi thanh mục lãng, chính khí lẫm liệt.
Gặp Triệu Khuông Dận, Trương tông chính liền khom lưng thi lễ: “Bệ hạ, thần phụng chỉ điều tra về tư trạch được xây trong ngự uyển của hoàng gia, đã điều tra ra kết quả.”
“Sao cơ? Mau nói nhanh lên.” Triệu Khuông Dận đặt chén xuống.
“Vâng!” Trương Trì chắp tay nói: “Thần đã điều tra, mảnh đất ngự uyển hoàng gia đó đã không còn là đất của hoàng gia nữa.”
Triệu Khuông Dận ngạc nhiên nói: “Ngự uyển hoàng gia cũng có thể thay tên đổi chủ hay sao? Nguyên nhân là gì?”
“Bẩm quan gia, mảnh đất đó đã bị Gián viện tả chính ngôn quan Hoa Mộ Tịch dùng mảnh đất đang để không ở Quảng Đức Kiều Đông đổi lấy, khế đất cũng đã đổi tên, cho nên mảnh đất đó đã không thuộc về hoàng gia nữa.”
Triệu Khuông Dận vừa kinh ngạc vừa giận: “Đây là đạo lý gì chứ? Hoa Mộ Tịch hắn… hừ. Mảnh đất đó là Triệu Phổ xây trạch viện, sao lại trở thành Hoa Mộ Tịch dùng đất rỗi để đổi là thế nào?”
Trương Trì nói: “Quan gia, mảnh đất mà Hoa ngự sử dùng để đổi ngự viện hoàng gia chính là đất của Triệu tướng công, cho nên mảnh đất đó đã đổi chủ nhân, chính là Triệu tướng công. Triệu tướng công dùng một mảnh đất mười mẫu để đổi lấy ngự uyển mười mẫu, dùng để xây trạch viện.”
Triệu Khuông Dận nghe thấy trong lòng cả kinh, thân là thần tử lại dám lấy đất tư đổi lấy hoàng điền, đây là mạo phạm hoàng gia, không thể tha thứ được nữa. Mà trong đó còn đề cập đến ngự sử đài hữu chính quan, là quan viên trọng yếu như thế , càng làm cho hắn cảnh giác. Ngự sử đài là giám sát nha môn của văn võ bách quan. Một giám sát trọng yếu chỉ đứng sau trung thừa mà lại có mối quan hệ thân thiết như vậy với Triệu Phổ, tên ngự sử đài đó còn có tác dụng gì nữa?
Triệu Khuông Dận ngẩn ra một lúc, xua tay nói: “Khanh đi đi.” Khi tông chính khanh lui đi, Triệu Khuông Dận lập tức phẫn nộ quát lớn: “Vương Kế Ân, truyền chỉ Đại Lý tự, điều tra kỹ cho trẫm, việc ngự uyển hoàng gia bị đổi chủ là có nguyên nhân gì. Hoa Mộ Tịch và Triệu Phổ có qua lại như thế nào.”
Vương Kế Ân đáp lời rồi lui đi, Lô Đa Tốn mắt đong đưa, đứng dậy nói: “Quan gia xin bớt giận, việc này từ từ điều tra mới được. Việc này đề cập đến thủ phụ, sao có thể làm lớn chuyện lên được.”
Triệu Khuông Dận tức giận nói: “Đề cập đến thủ phụ thì có làm sao? Đây quả thật là khi quân phạm thượng. Trẫm chưa từng nghĩ Triệu Phổ kết bè kết cánh làm chuyện gian dối, lại còn dám làm đến mức độ này. Phải nhẫn nại sao, không thể nhẫn nại được.”
“Quan gia bớt giận, quan gia bớt giận. Triệu tướng công là tể tướng đương triều, làm quan đã hơn mười năm, học trò khắp thiên hạ, trung thành và tận tâm với triều đình. Nếu như vì một chuyện nhỏ như thế này mà đột nhiên chỉ trích nặng nề, chỉ sợ lòng của quan lại trong thiên hạ sẽ lạnh lại. Hơn nữa, quan gia bây giờ đang muốn binh phạt Đường quốc, bày mưu tính kế, sao có thể thiếu được Triệu tướng công? Nếu như Triệu tướng công vì chuyện này mà thất ân thì sợ rằng khu mật sứ Lý Sùng Củ cũng sẽ sinh lòng sợ hãi. Một văn một võ này là trụ cột của triều đình, quan gia sao lại có thể vì chuyện nhỏ mà mất lớn được?”
Triệu Khuông Dận tức giận quá mà lại cười: “Triệu Phổ hắn ngay cả đất của hoàng gia cũng dám chiếm lấy, đây không phải là chuyện bình thường. Mười mẫu đất là chuyện nhỏ, nhưng hắn làm như vậy rõ ràng là không coi trẫm ra gì. Trẫm muốn trừng phạt hắn, còn phải suy tính trước sau ư? Hoàng đế mà phải như thế này sao, thật là…”
Hắn nói đến đây thì đột nhiên phản ứng lại, những lời mà Lô Đa Tốn nói dường như đang trôi nổi trong biển não của hắn, cứ từ từ lặp lại: “Triệu tướng công là tể tướng đương triều, làm quan đã hơn mười năm, học trò khắp cả thiên hạ, sợ lòng của quan lại trong thiên hạ sẽ lạnh lại, sợ rằng khu mật sứ Lý Sùng Củ cũng sẽ sinh lòng sợ hãi, một văn một võ này là trụ cột của triều đình.”
Quan lại khắp triều đình nhiều người là do Triệu Phổ tiến cử, khu mật sứ Lý Sùng Củ là thông gia của Triệu Phổ, đột nhiên, Triệu Khuông Dận lại có một cảm giác run sợ, sự phẫn nộ của hắn đã dần biến mất, đầu hắn tỉnh táo lại, trong ánh mắt đột nhiên trào lên một luồng sát khí.
***
Đại Lý Tự đã tra xét rõ, không ngờ vì một cái án mua đất mà lại liên đới tới một đại án khác. Triệu Khuông Dận lúc này mới kinh ngạc phát hiện ra, Xuyên Tây chuyển vận sứ mà chính mình đã khâm mệnh Triệu Hồ sau khi chiếu mệnh đưa xuống đã một năm mà lại vẫn nhàn nhã ở lại kinh thành, hoàn toàn chưa từng đi nhậm chức.
Còn sự vụ Xuyên Tây thì luôn do phó sứ chuyển vận phụ trách, việc lớn như vậy mà hoàng đế hắn lại không hề biết. Chiếu mệnh của hắn lại không thể điều động một chuyển vận sứ bé tẹo, mà các ti nha môn trong triều vì một câu nói của Triệu Phổ mà đã giấu kín chuyện này đi. Chuyển vận ti nha môn vì một thủ dụ của Triệu Phổ mà có thể lệnh cho chuyển vận phó sứ chủ trì sự vụ Xuyên Tây lâu đến một năm. Triệu Khuông Dận đột nhiên cảm thấy một sự kinh hãi từ sâu trong tim. Thánh chỉ của hắn rốt cuộc có tác dụng gì không? Phải chăng cả triều chính đều đã nằm trong tay Triệu Phổ?
Hôm nay là một buổi triều hội nhỏ, chỉ cần các thần tử tâm phúc của các nha môn trọng yếu nhất nhập cung thị giá. Triệu Phổ từ từ bước đến Hoàng Nghi điện, đột nhiên cảm thấy bên người mình thừa ra một thứ gì đó, lại thiếu đi một thứ gì đó. Quan sát kỹ hai bên hắn mới phát hiện ra thông gia khu mật sứ Lý Sùng Củ không đến, mà hai quan nhi nhàn rỗi là tham chi chính sự Tiết Cư Chính, Lữ Du Khánh lại áo quan chỉnh tề đứng ở đó.
Triệu Phổ mơ hồ không hiểu bước lại. Tiết Cư Chính và Lữ Du Khánh liền kiến lễ với đại thần, Triệu Phổ gật đầu, tiện miệng hỏi: “Sao hai người lại tới vậy? Lý khu mật sứ sao lại chưa tới hậu giá?”
Hai vị tham tri chính tuy trên dang nghĩa là phó tể tướng, nhưng luôn chỉ là hai thứ để trang trí, hoàn toàn không được sắp xếp làm việc gì, họ cũng nhìn nhau đầy vẻ không hiểu.
Chỉ trong chốc lát, nội thị đô tri Vương Kế Ân đã đến, đứng trước điện tuyên chỉ: “Đồng trung thư bình chương sự Triệu Phổ, tham tri chính sự Lữ Du Khánh, tham tri chính sự Tiết Cư Chính tiếp chỉ.”
Ba người liền phủi y phục rồi quì xuống, Vương Kế Ân nói: “Quan gia có khẩu dụ, triều đình ta khai cương thác thổ, cương vực, nhân khẩu không ngừng mở rộng, một mình Triệu Phổ khó có thể chu toàn vạn cơ, nay lệnh cho Lữ Du Khánh, Tiết Cư Chính nhậm chức nha biện sai, cùng với Triệu Phổ chủ trì quốc chính. Trẫm đột nhiên mắc bệnh nhẹ, hôm nay triều hội nghỉ. Khâm thử.”
“Thần… thần tuân chỉ.” Cả bang không hẹn mà cùng run người lên. Lữ Du Khánh và Tiết Cư Chính là vì vui mừng quá mà không thể khống chế được, còn Triệu Phổ lại là vì sợ hãi không lý do. Hắn hoàn toàn không biết hoàng đế tại sao lại đột nhiên hạ mệnh lệnh như vậy, để cho hai phó tể tướng chia quyền của hắn, mà trước đó không có dấu hiệu bất thường gì.
Triệu Phổ hồn bay phách lạc đứng dậy, ngay cả việc chúc mừng theo lễ tiết hai vị phó tể tướng cũng quên mất. Đến khi hai người họ từ lễ đi về, Triệu Phổ vẫn đứng yên lặng giữa đại điện, rất lâu, rất lâu không thấy động đậy. Khi về tới phủ, Triệu Phổ mới nhớ đến việc hôm nay thông gia Lý Sùng Củ không lên triều, lẽ nào thông gia sớm biết chuyện này, cho nên cố ý trốn tránh? Triệu Phổ bi phẫn không thôi, sai một tâm phúc đến thăm dò chỗ Lý Sùng Củ. Tin tức mà hắn nhận được làm cho hắn lạnh toát: Lý Sùng Củ hôm nay không lên triều không phải vì bệnh, cũng không phải biết trước được chuyện này nên tránh, mà hắn cũng đã nhận được khẩu dụ của thánh thượng: Vì quân vụ bận rộn, từ hôm nay trở đi, khu mật sứ cứ lên sử nha làm việc bình thường, không cần phải lên triều hậu chỉ nghe tuyên.
Xảy ra chuyện gì rồi, nhất định là đã xảy ra chuyện gì đó, nhưng rốt cuộc là vì nguyên nhân gì?
Triệu Phổ lo lắng rối loạn. Hắn vẫn còn chưa kịp đi dò hỏi tỉ mỉ thì đã biết được vấn đề là ở đâu rồi. Xuyên Tây chuyển vận sứ Triệu Hồ bị bãi quan, thi trượng hình, vĩnh viễn mất đi tư cách làm quan; ngự sử đài giám quan hữu chính Hoa Mộ Tịch giáng quan xuống làm sĩ tào tham quân, lưu đày đến huyện Sinh Liên, đến đó xử lý những án tố tụng như hôn nhân, điền thổ, ẩu đả.
Triệu Phổ cầm bản đồ ra xem cả nửa ngày, cũng không biết được huyện Sinh Liên là ở chỗ nào, tìm người hỏi thăm một lượt mới biết đó là một vùng đất thuộc Mân Nam mà triều đình mới thu phục được, nghe nói đầu tiên phải đến Phiên Vũ Quảng Nguyên, sau đó ngồi thuyền, lại ngồi xe, cuối cùng là cưỡi lừa, vượt qua mấy ngọn núi lớn mới có thể đến được vùng đất đó.
Triệu Phổ vô cùng hoang mang. Hắn liền triệu tập mạc liêu để thương lượng đối sách, nghiên cứu xem làm thế nào mới có thể thu hồi được thánh chỉ, liên tiếp ba ngày mà cũng không bàn bạc ra được ý hay, mà thủ đoạn của Triệu Khuông Dận lại như bão vũ lôi đình, không động thì thôi, mà động một cái là như ông trời nổi giận, làm cho người ta hoàn toàn không có sức đấu trả.
Một môn khách của Lý Sùng Củ tố cáo hắn nhận hối lộ, tuy không có chứng cứ xác thực, nhưng Triệu Khuông Dận vẫn xử lý một cách nhanh chóng mà trước đây chưa từng có. Lý Sùng Củ bị giáng chức, điều ra xa khỏi cái chức trọng yếu chủ quản tam quân khu mật sứ, còn môn khách tố cáo thì được nhận mệnh làm chủ bộ của một huyện, phong đồng tiến sĩ.
Ngay sau đó, Triệu Khuông Dận hạ chiếu trọng tuyển đường hậu quan. Đường hậu quan là tướng phủ thuộc lại, tể tướng có quyết định gì, có mệnh lệnh gì đều phải thông qua họ để truyền đạt lại, nhưng những cánh tay đắc lực chỉ trong một đêm đều đã bị thay thế hết. Và chế độ này từ bây giờ cứ ba năm tất cả đường hậu quan đều phải thay một lần, không được chậm trễ.
Cho dù mù thì bây giờ cũng có thể thấy rõ ý của hoàng đế là gì. Tất cả những người muốn thăng quan đều đã biết mình phải làm gì rồi. Đám người vốn đi theo Triệu Phổ đều vô cùng hoang mang, đều cho rằng tòa nhà lớn đã bị lung lay, có một số người bắt đầu tự tìm cho mình một đường khác. Nhưng Triệu Phổ vẫn rất bình tĩnh, mỗi ngày vẫn đóng dấu, áp ban, tấu sự, thượng triều như bình thường, thần thái rất ung dung, hoàn toàn giống như trước.
Hắn rất tin tưởng, bây giờ tuy thất sủng, nhưng hoàng đế vẫn không thể thiếu hắn. Một đế vương nếu muốn giữ vững được giang sơn thì phải bảo đảm được thế lực trong triều cân bằng, tuyệt đối không thể để một nhà độc đại. Không sai, hắn đã đắc ý mà quên mất điều này, hắn đã chọc vào gân của Triệu Khuông Dận, nhưng trừng phạt như bây giờ chắc cũng đủ rồi chứ? Bây giờ ta mà đổ xuống thì lấy ai ra mà khống chế Triệu Quang Nghĩa đây? Hoàng đế dù sao cũng cao cao tại thượng, có rất nhiều việc không thể đích thân làm. Hắn có thể giống ta sao, ngày ngày đêm đêm, giờ giờ khắc khắc quan sát nhất cử nhất động của Triệu Quang Nghĩa, phòng xem hắn có hạ thủ gì không?
Nhưng Triệu Phổ lại vẫn đánh giá thấp sự quyết đoán và lửa giận của Triệu Khuông Dận. Khi cái án mà hắn chuyên quyền, tham ô nhận hối lộ bị vạch ra, trực tiếp được tấu lên Triệu Khuông Dận thì Triệu Khuông Dận cuối cùng cũng đã hạ được quyết tâm: Bãi truất tể tướng.
Tờ chiếu thư đã đến được phủ tể tướng, nói rằng tể tướng Triệu Phổ vất vả công lao lớn, ngày đêm lo cho quốc sự, thể xác và tinh thần đã mệt mỏi, không thể chịu nổi nữa. Quan gia thương xót cho về địa phương nghỉ ngơi mấy năm, gia phong Triệu Phổ làm tiết độ sứ, đồng bình chương sự của tam thành Hà Dương. Vẫn để trên đầu cái chức tể tướng, chỉ là một tể tướng rời xa khỏi kinh thành, thì có còn được coi là tể tướng nữa hay không?
Bại rồi, thật sự bại rồi. Triệu Phổ thất bại tâm phục khẩu phục. Hắn chưa từng nghĩ một Triệu Quang Nghĩa trong mắt hắn chỉ nhỏ giống như cọng lông tơ mà lại có thể có thủ đoạn thâm hiểm như thế này, không đánh thì thôi, mà đánh thì sẽ là một đòn chí mạng, làm cho hắn ngay cả cơ hội trả đòn cũng không có.
“Tướng gia, tướng gia. Đây là những tin tức mà thuộc hạ vừa mới thu thập được.” Mộ Dung Cầu Túy kích động mà chạy vào trong thư phòng. Triệu Phổ, người vừa nhận được tin miễn chức đang ngồi bất động trong đó, chỉ nhếch mày lên nhìn. Mộ Dung Cầu Túy liền nói: “Tướng gia, ngài xem, đây là tình báo cấu kết ngầm giữa Triệu Quang Nghĩa và nội thị đô tri Vương Kế Ân, còn có cái này nữa, hắn còn nhân cơ hội thưởng phạt người dập lửa mà trọng thưởng cấm quân tướng sĩ, đây rõ ràng là có lòng lôi kéo.”
Triệu Phổ cười nhạt: “Lời đồn, không căn cứ, đoán mò, có thể lật được Tấn vương ư?”
Mộ Dung Cầu Túy ngẩn ra, nói: “Tướng gia, những chứng cứ này tuy không lật được hắn, nhưng lại làm nảy sinh sự nghi ngờ trong lòng quan gia, đối với hắn sẽ có lòng đề phòng.”
Triệu Phổ lắc đầu cười: “Đặt xuống đi.”
“Vâng.” Mộ Dung Cầu Túy thấy sắc mặt hắn không tốt, liền đặt những tin tức tình báo ghi chép được xuống, nhẹ nhàng lui ra ngoài.
Ánh mắt Triệu Phổ hướng về những thứ trên bàn, một lúc lâu liền bỏ cái chụp đèn dầu xuống, cầm từng tờ tư liệu đưa vào ngọn lửa rồi vứt xuống đất.
Triệu phu nhân vừa mới nhận được tin tức, vội vàng chạy đến thư phòng, thấy cảnh tượng đó liền hỏi rõ những vật đó là gì, không khỏi nghi ngời nói: “Quan nhân sao lại đốt những thứ đó?”
Triệu Phổ cười nhạt nói: “Phàm là chuyện gì cũng để lại một chút thì ngày sau sẽ gặp lại.”
Trầm ngâm một hồi, Triệu Phổ liền nói: “Phu nhân, đi chuẩn bị một chút đi, chúng ta chuẩn bị rời kinh.”
Triệu phu nhân im lặng lui ra ngoài. Triệu Phổ đốt đến tờ giấy cuối cùng, ngồi yên lặng một lúc, mài mực rồi viết một tờ tấu chương cuối cùng. Tấu chương này giống như một tờ báo cáo công tác những năm vừa rồi của tể tướng hắn, bên trong còn nhắc đến Tấn vương Triệu Quang Nghĩa, có viết “hoàng đệ trung hiếu toàn đức”, đối với Triệu Quang Nghĩa, hắn đã thêm những từ ngữ khen ngợi vào.
Hắn đã bại rồi, hắn phải để cho mình một con đường lui, đây là sắp đặt cho hậu sự, sắp đặt cho tốt thì mới có một con đường sống.
Đêm nay Dương Hạo cũng đã sắp xếp xong hậu sự. Hắn sắp phải đi đến Nam Đường. Hắn gọi Diệu Diệu đến, nhìn ánh đèn dầu, dáng vẻ vui mừng, ngồi một lúc lâu.
***
“Gần đây… chuyện làm ăn ở Nữ Nhi quốc như thế nào?” Dương Hạo chần chừ hồi lâu, mới ép ra được một câu. Diệu Diệu không nhìn được mà cười, chu môi lên nói: “Rất tốt. Danh tiếng của Nữ Nhi quốc chúng ta đang dần lớn mạnh. Bây giờ những người đến Nữ Nhi quốc đều là quyền quý nhân gia, đồ đạc tuy là quý giá, chất lượng tốt nhất. Đừng thấy khách đến không bằng người địa phương, nhưng cứ tùy tiện làm ăn cũng có thể kiếm được bằng mười, trăm vụ buôn bán.”
“Ừm, vậy thì tốt, ngươi… ngươi…”
“Sao cơ?” Đôi mày nhàn nhạt của Diệu Diệu liếc nhìn Dương Hạo, nàng nhìn vẻ mặt của Dương Hạo liền biết tất có chuyện, nhưng dáng vẻ ấp úng, trông rất khó mở miệng của hắn thì nàng chưa từng nhìn thấy, trong lòng không khỏi thấy kì lạ.
“Ờ! Ngươi, tiền trong tay ngươi còn đủ dùng không?”
“Ừm, lão gia có phải là muốn lấy một khoản ra dùng không? Tiền còn dư trong tay chỉ đủ để lưu chuyển hàng hóa mà thôi. Nếu lão gia không vội thì nô gia có thể rút ra dần dần, cứ mười ngày sẽ kết toán một lần, để lại một khoản tiền cần phải lưu thông hàng hóa, số dư còn lại thì có thể rút hết cho lão gia. Nếu không e rằng việc lưu thông hàng hóa sẽ không ổn, mà Nữ Nhi quốc vừa mới mở không lâu, làm như vậy e là…”
Dương Hạo vội xua tay: “Không phải, không phải, lão gia không có ý muốn lấy tiền từ chỗ ngươi. Lão gia ý là nói… là nói… ừm. Ngươi gần đây vẫn khỏe chứ? Ta thấy hình như ngươi gầy hơn trước thì phải, mặt có huyết khí kìa.”
Chương 344: Lưỡng sương tình
Diệu Diệu xoa mặt mình, khuôn mặt trái xoan đỏ cả lên, đôi mắt xinh đẹp đong đưa, mang mấy phần đùa đùa: “Có lão gia tọa trấn kinh sư, nô gia có người tâm phúc, làm việc không cảm thấy vất vả, nô gia cũng cảm thấy mình có nhiều thịt hơn.”
Nàng đột nhiên lo lắng hỏi: “Nô gia bây giờ có phải là đã béo hơn không?”
“Không, không, bây giờ rất được rồi, chỗ cần béo đã béo lên, chỗ cần gầy đã gầy đi, vừa đẹp, vừa đẹp.”
Diệu Diệu không kiềm được mà cúi xuống ngắm lại mình, rồi dùng ánh mắt thích thú nhìn Dương Hạo. Dương Hạo ho khan một tiếng, không nhìn nàng ta, ánh mắt hướng về chỗ khác, nói: “À, đúng rồi, Tiểu Vũ là thị vệ theo sát ta, ta định đem hắn trở lại bên mình, còn về Nữ Nhi quốc, điều Trương Ngưu Nhi và Lão Hắc đến giúp đỡ. Còn Mỗ Y Khả thì lão gia sẽ có sắp xếp khác, cũng phải… khụ khụ…”
“Những chuyện này lão gia chỉ cần dặn dò một tiếng là được, không cần phải bàn bạc với Diệu Diệu.” Diệu Diệu nghi hoặc nói, ánh mắt hơi sáng lên, thần sắc đột nhiên có chút thay đổi: “Lão gia, phải thay người quản lý Nữ Nhi quốc sao?” Nàng cúi đầu xuống, buồn bã nói: “Việc này, lão gia cũng không cần phải thương lượng với Diệu Diệu, càng không cần phải khó khăn mở miệng như thế, chỉ cần lão gia ra lệnh là được.”
Mồm thì nói như vậy, nhưng trong lòng nàng vẫn rất khó chịu. Làm một nha hoàn bên cạnh Dương Hạo hay là làm chủ của Nữ Nhi quốc thì đối với nàng mà nói không có gì khác biệt, nhưng nghĩ tới việc có thể nàng làm việc không tốt, lão gia chán ghét mình, trong lòng nàng cảm thấy rất khó chịu.
“Diệu Diệu, ngươi hiểu nhầm rồi, lão gia không phải có ý đó.”
Dương Hạo mồ hôi toát cả ra. Kết hôn giả thôi mà, ở hiện đại cũng không phải tin tức gì mới, đề di dân, để phân phối chỗ ở, chẳng qua là cả hai đều biết chân tướng. Mà bây giờ tin tức hắn giả chết càng ít người biết càng tốt, sẽ không trở thành cái miệng lớn, đặc biệt là sau này sẽ không có người qua lại nữa, nào có thể nói ra chân tướng? Vì thế mà hắn thực sự rất khó mở lời.
Sau bức bình phong đột nhiên có tiếng ho nhẹ vang lên, Oa Oa thong thả bước ra: “Quan nhân, bên tỷ tỷ còn có chuyện muốn bàn bạc với chàng.”
“Ừm, được được. Cứ như thế đã, cứ như thế đã.” Dương Hạo như gặp được đại xá, vội vàng đứng dậy, cười gượng gạo với Diệu Diệu, nhấc chân bước đi. Diệu Diệu kinh ngạc nhìn bóng dáng Dương Hạo biến mất hút, lại nhìn Ngô Oa Nhi, thấy nàng ấy đã ngồi xuống trước mặt mình, ánh mắt như cười mà như không cười, lập tức cảnh giác…
Chiếc kiệu trở về tới Nữ Nhi quốc, một quản sự liền bước lên trước: “Diệu Diệu cô nương, có một số chuyện muốn bẩm báo với cô nương.”
“Ông bận gì thì cứ làm đi. Hôm nay cũng muộn rồi, sáng mai lại nói.”
“Ừm. Vâng.” Quản sự đó ngạc nhiên nhìn Diệu Diệu, vị đại quản sự này vốn bình thường những chuyện lớn chuyện nhỏ được dặn dò bất kể là lúc nào, ở nơi nào đều kịp thời bẩm báo với nàng ấy. Hôm nay sao nhìn nàng ấy lại mặt đỏ tía tai, giống như say rượu, nhưng không ngửi thấy mùi rượu.
Vị quản sự đó kinh ngạc nhìn Diệu Diệu bước nặng nề biến mất vào trong phòng lớn. “Bịch” một tiếng đóng cửa lại, Diệu Diệu dựa vào cửa, tay ấn lấy ngực, thì nghe tiếng tim mình đập thình thịch giống như một con nai bị buộc dây vào cổ, đang muốn chạy thoát khỏi lồng ngực nàng.
Nàng thở hổn hển mấy hơi, lấy vội chén trà lạnh ở trên thư án uống, cái cảm giác như trên mây vẫn không biến mất. Diệu Diệu nhéo mạnh vào đùi mình một cái, đau quá liền kêu lên, Diệu Diệu ngẩn ra, khóe miệng từ từ nhếch lên, lẩm bẩm tự nói: “Không phải nằm mơ, ta không phải nằm mơ, lão gia… lão gia thực sự muốn nạp ta làm thiếp.”
Nghĩ như vậy nước mắt Diệu Diệu đột nhiên tuôn rơi, trong lòng vẫn có một niềm vui khó tả, làm cho nàng muốn hét lên mấy tiếng vui sướng. Cho dù nàng đã nhận được sự yêu mến của Dương Hạo, còn được làm chủ của Nữ Nhi quốc, nhưng nàng đối với tương lại lại luôn có một cảm giác mơ hồ băn khoăn. Cho dù nàng vẫn còn nhỏ nhưng với thân phận và sự từng trải của nàng, tâm tư của nàng cũng đã thành thục hơn rồi, cái cảm giác mơ hồ này luôn tồn tại trong lòng nàng.
Bây giờ cuối cùng cũng đã được vén mây mù ra rồi, nàng cuối cùng cũng đã có chỗ dựa, còn đức lang quân mà nửa đời sau nàng sẽ dựa vào rồi hầu hạ lại chính là Dương Hạo, người nàng đã ngưỡng mộ từ lâu, nàng còn gì không thỏa mãn nữa?
Diệu Diệu trở lại phòng ngủ của mình, đóng chặt cửa lại, đột nhiên hô lên một tiếng vui mừng, nhảy vọt từ dưới đất lên giường, áp khuôn mặt đang nóng phừng phừng vào trong gối, sau đó lại lấy tay xoa xoa mặt, khóe miệng nở một nụ cười đầy hạnh phúc ngọt ngào……
Lão gia sắp phải đi sứ Đường quốc, thư nạp thiếp ngày mai sẽ tìm người đến làm, đợi lão gia trở về mới có thể chính thức làm viên phòng với nàng. Không sao. Chỉ cần xác lập được cái quan hệ này thì bảo nàng phải đợi bao lâu cũng được. Lão gia muốn nạp thiếp rốt cuộc là có mấy phần vì thích nàng hoặc là vì không muốn giao Nữ Nhi quốc cho người ngoài chăm lo, ngoài nàng ra không có ai thích hợp hơn cả, cho nên mới nghĩ rằng nhất cử lưỡng tiện, nàng cũng không muốn nghĩ nữa.
Quan trọng là nàng sẽ trở thành người của lão gia. Lão gia là người đàn ông mà nàng yêu, nơi đây sẽ trở thành nhà của nàng vĩnh viễn, đối với một tiểu nha đầu như nàng mà nói thì nơi đi về này đã là thiên đường, nàng thấy thế đã đủ rồi.
Diệu Diệu ôm lấy gối, lăn một vòng trên giường, nhẹ nhàng kêu lên: “Lão gia.”
Trong nhất thời, nàng như cảm nhận được Dương Hạo như thể đang nằm bên cạnh nàng, đang ôm lấy cái eo của nàng, đôi mắt sáng quắc đang nhìn nàng, làm cho nàng xấu hổ không biết trốn vào đâu.
“Soạt!” Cửa mở ra, Mỗ Y Khả cầm chiếc đèn lồng xuất hiện trước cửa… soi đèn nhìn nàng nói: “Diệu Diệu tỷ, tỷ về rồi đấy à, ý, tỷ làm sao vậy?”
Trên giường, Diệu Diệu ngồi dậy, chiếc thoa tóc rơi xuống, mái tóc hơi rối, đôi mắt sáng như gương. Nàng vuốt mái tóc mình, ngượng ngùng nói: “Là Nguyệt Nhi à, còn… còn chưa ngủ sao? Ta không sao, ừm, có chút mệt mỏi, hôm nay muốn nghỉ ngơi sớm một chút, muội đặt đèn vào đó rồi cũng đi ngủ sớm đi.”
“Vâng.” Mỗ Y Khả đặt đèn xuống bàn, quay người nhìn Diệu Diệu với ánh mắt tò mò, lúc này mới mang một nụ cười mơ hồ đi ra ngoài.
Diệu Diệu ngồi trên giường, đợi cánh cửa đóng lại, liền vội vàng chạy đến bàn, cầm lấy gương soi. Dưới ánh đèn vẻ xuân tình trên khuôn mặt như hoa hải đường đang nở, làm cho Diệu Diệu xấu hổ thẹn thùng: “Nguyệt Nhi nhất định không nhìn ra đâu, nhất định không nhìn ra.”
Nàng tự an ủi mình, nhìn vào gương thấy đôi lông mi dài của mình cũng đang cười, mắt cũng đang cười, khuôn mặt trái xoan hồng nhuận, đôi môi chúm chím hoa anh đào. Nàng không kìm nổi mà đưa tay lên ấn mạnh vào má mình: “Xấu hổ, xấu hổ, đồ tiểu nha đầu mặt không có da.”
Vừa mắng mình, khóe miệng nàng và ánh mắt lại vừa nhếch lên, đôi môi nhỏ hồng hào trong gương trông rất đáng yêu. “Quan nhân sẽ thích chứ? Nếu như ngài ấy hôn vào đôi môi nhỏ của mình.”
Tâm hồn Diệu Diệu đang bay bổng trên mây, lúc này một tiếng “kẹt” vang lên, cánh cửa phòng lại mở ra, Nguyệt Nhi thò đầu vào, thấy Diệu Diệu đang chải đầu trước gương, tay lại mân mê trên khuôn mặt, giống như đang trang điểm.
“Còn có chuyện gì nữa?” Diệu Diệu quay đầu lại, hỏi một câu lại quay đầu đi.
“Ừm, không có gì. Diệu Diệu tỷ, tỷ… thực sự không sao chứ?”
“Không có, không có. Muội mau đi ngủ đi.”
“Ừm. Vâng.” Mỗ Y Khả đóng cửa lại, không hiểu gãi đầu: “Sắp đi ngủ rồi mà còn trang điểm làm gì. Diệu Diệu tỷ hôm nay thật kì lạ.”
***
Sau khi Triệu Phổ rời kinh, trong triều lại xảy ra hai chuyện lớn, một là Giao Châu thứ sử Đinh Tiệp khiển sứ tiến kinh xưng thần nạp cống. Giao Châu ở xa Thiên Nam, cũng chính là Việt Nam của hậu thế. Lúc đầu, Đinh Bộ Lĩnh tự lập làm vương, xưng làm Vạn Thắng Vương, khi đó đã đến xưng thần với Hán quốc. Hắn sai con trai là Đinh Liễn đến thỉnh phong Hán quốc, hoàng đế Hán quốc phong con trai hắn làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ.
Mấy năm nay thế lực Đại Tống càng ngày càng lớn, Đinh Bộ Lĩnh liền qua mặt Hán quốc, xưng thần với Tống quốc.
Bây giờ Tống quốc đã diệt được Hán quốc. Để tránh cuộc đụng độ với nhà Tống năm Nhâm Thân (972), Đinh Tiên Hoàng sai con là Đinh Liễn mang đồ vật sang cống. Vua nhà Tống sai sứ sang phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương và phong cho Nam Việt vương Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ.
Triệu Khuông Dận đương nhiên rất vui mừng. Nghi thức tiếp đón vừa được tổ chức long trọng xong thì từ đất Thục lại truyền đến tin tức, thủ lĩnh tà giáo Cừ Châu Lý Tiên Tụ có hơn vạn người, đi khắp nơi cướp bóc, giơ cờ tạo phản. Thục quốc là nước đầu tiên sau Kế Kinh Hồ bị Tống quốc tiêu diệt, bây giờ đã chịu sự thống trị của Tống bảy, tám năm. Nhưng thời cuộc dao động, vẫn là thường có người tạo phản. Triệu Khuông Dận biết được tin, biết ngồi trên thiên hạ rất khó, đối với những sự việc trước mắt vẫn chưa có sức mạnh cực lớn nên không dám sơ ý, lập tức mệnh lệnh cho toàn các chi châu phụ trách tiêu diệt loạn phỉ.
Đồng thời lệnh cho Tiết Cư Chính, Lữ Du Khánh, Lô Đa Tốn vạch ra những kế sách an dân, đề phòng dân Thục phụ đi theo đám phỉ. Mấy vị tể tướng này vừa nhận được đại quyền, làm việc hết sức mình, rất nhanh đã tìm ra được kế sách. Triệu Khuông Dận lập tức ban hành chiếu chỉ thi hành, hủy bỏ thuế hôn nhân của Thục quốc, đây là một hạng mục thuế được thiết lập từ thời Thục quốc. Ngay cả kết hôn cũng cần phải nộp thuế, cũng khó trách Thục vương lại có thể hút được nhiều mồ hôi nước mắt của dân chúng như vậy. Tống quốc sau khi có được Thục vẫn thi hành rất nhiều chế độ cũ, không có thay đổi, đến tận bây giờ mới có chút cải biến.
Dân Thục khi giao nộp thuế hai mùa hạ, thu thì đa phần dùng tơ tằm để giao nộp. Nhưng bây giờ quốc gia đã phồn thịnh, đối với các vật dụng, trang sức cao cấp càng lúc nhu cầu càng nhiều lên, giá cả tơ lụa cũng đã tăng lại càng tăng, mà quan phủ đất Thục vẫn dựa theo giá cả tơ lụa của chế độ nhiều năm trước để thu thuế, lúc này cũng đã làm chỉnh sửa. Sau này các phủ trưng thu thuế thì các sản phẩm tơ lụa đều dựa theo giá thị trường.
Tất cả những việc này một mặt là ra sức đả kích loạn đảng Lý Tiên, một mặt dùng thủ đoạn ân huệ để làm an dân, vừa đấm vừa xoa, dẹp loạn mối họa…….
Lúc này Khiết Đan bắc quốc mọi việc cũng đang rối loạn. Các bộ tộc Khiết Đan không có biểu hiện rõ ràng về sự chống đối triều đình, triều đình cũng không thể dùng thủ đoạn vũ lực để áp chế, chỉ có thể phân hóa, lôi kéo, dụ dỗ. Hoàng đế Da Luật Hiền cơ thể bệnh tật, không có đủ sức lực để xử lý những việc này, đành phải để hoàng hậu Tiêu Xước chủ trì triều chính, để sắp xếp những vương công đại thần, thật sự làm nàng ta vô cùng mệt mỏi.
Việc nội bộ vẫn chưa xử lý xong thì bộ lạc Nữ Chân lại xâm phạm tới biên cương, giết chết đô giám Đạt Lý, cướp bóc người và súc vật đi. Một bộ lạc Nữ Chân bé nhỏ mà lại dám xâm phạm Khiết Đan, Tiêu Xước biết được tin liền hạ lệnh Da Luật Hưu Ca thống binh thảo phạt. Bên này đại quân tập kết còn chưa kịp xuất binh thì bộ lạc Nữ Chân đã sai sứ đến tiến cống, lại mang theo mấy cái đầu tới, nói là đầu của những kẻ tội phạm đã xâm hại biên cương và giết tướng sĩ Khiết Đan.
Lúc này người Nữ Chân không có chỗ ở cố định, muốn tìm thì vô cùng khó khăn, thêm nữa nội bộ chưa ổn định, mà người Nữ Chân lại chủ động hàng phục. Bây giờ Da Luật Hiền đang bệnh tình không thể chấp chính, lại không dễ động binh nên Tiêu Xước đành phải chấp thuận. Đến ngày mừng thọ của hoàng đế Khiết Đan, các bộ tộc đều đến chúc mừng, Nữ Chân tiện cả đôi đường, sau khi đến thỉnh tội thì tiện thể chúc mừng. Bắc Hán cũng sai sứ đến, cống tiến những vật phẩm mà chúng ra sức đục khoét được.
Ngày mừng thọ của Da Luật Hiền, buổi sáng gặp mặt thủ lĩnh các bộ lạc, tối đến lại cùng với hoàng hậu đến Ngũ Phượng lâu để thưởng đêm. Da Luật Hiền sức khỏe không tốt, vừa mới thấy hơi lạnh liền khoác thêm một chiếc áo, đứng trên thành lâu nhận những lời chúc của đám thần tử, thưởng thức đăng cảnh. Lúc này, một tên thị vệ vội vàng chạy tới, ghé sát vào tai một cung nhân mấy câu, cung nhân đó lập tức chạy đến sau lưng Tiêu hậu, nhỏ tiếng bẩm báo. Tiêu hậu đỡ hoàng đế đứng lên, quay đầu nhìn vào khuôn mặt tái xanh của Da Luật Hiền, sợ hắn không thể đứng lâu, phải đi nghỉ, mà giờ các sứ tiết, thủ lĩnh các bộ tộc đều đang ở đây, đến lúc đó không thể tránh mình phải ra mặt, liền thở dài một tiếng, vẫy tay gọi La Đông Nhi, lệnh cho nàng đi xử lý việc này.
La Đông Nhi xuống dưới lầu, nhìn thấy sứ giả Ngạc Ba Đa đang đứng dưới mái hiên. Ngạc Ba Đa thấy xung quanh không có người, chỉ có hai thị nữ đứng ở cửa, liền lấy từ trong túi áo ra một chiếc túi vải nhỏ, dâng lên, cười nói: “La thượng quan, đây là vật mà ngài nhờ tiểu nhân. Một chiếc thoa hình đầu phượng, ngài xem có được không?” La Đông Nhi liền mở chiếc túi ra. Chiếc này có chín phần giống với chiếc thoa mà ngày trước Dương Hạo đã tặng nàng, nàng liền luôn mồm cảm ta, lấy ra mấy quan tiền đưa cho hắn. Mắt nàng đong đầy lệ, dường như sắp tuôn trảo cả ra.
Trong ngực Ngạc Ba Đa còn có mười bảy, mười tám chiếc thoa nữa. Hắn sợ chiếc thoa này không đúng ý La thượng quan, đến lúc đó hắn sẽ lấy từng cái ra cho nàng chọn lựa. Thấy vẻ mặt của La Đông Nhi, hắn liền thở phào nhẹ nhõm.
La Đông Nhi ngẩn ra một hồi lâu, một lúc mới tỉnh lại, vội vàng lau sạch nước mắt, nói: “Nương nương đang ở trên lầu ngắm đèn lồng, bảo ta hỏi ngươi chuyến đi nam lần này người Tống đã đối đáp thế nào.”
Ngạc Ba Đa lại chưa từng được tận mắt nhìn thấy bức tín, nhưng đã nghe Đại Tống hồng lư tự công tào Liễu Lâm Tây nói qua đại khái, liền nói một lượt ý của Đại Tống. La Đông Nhi nghe thấy triều đình Tống lại mô phỏng ngữ khí ngang ngược của Khiết Đan, viết một bức tín trả lời như vậy, tuy rằng đầy buồn bực nhưng cũng không khỏi có chút buồn cười.
Nàng tuy là một dân nữ, nhưng tàng thư của phụ tân nàng lại có rất nhiều sách. Nàng cũng đã đọc được không ít các loại sách, vốn biết quan lại Trung Nguyên làm việc từ trước đến nay luôn rất coi trọng quy tắc, những văn thư như thế này không phải họ không thể viết ra, mà là với tính cách của những quan lại đó, họ luôn lấy thái độ cảm hóa của thượng quốc mà nói, rất khó có thể dùng những thủ đoạn vô lại đấu với vô lại như thế này để giao thiệp quốc sự. Nàng có chút buồn cười, nói: “Ta biết rồi, trở về ta sẽ bẩm báo với nương nương, để nương nương định đoạt rồi sẽ trả lời.”
“Vâng, vâng, vâng. Bây giờ trời cũng đã lạnh rồi, nhưng vì triều đình mà xuất sứ, tiểu nhân cũng không từ gian khổ, nếu như còn cần phải xuất xứ đến Tống triều thì tiểu nhân cũng đành chấp thuận. Đến lúc đó vẫn mong La thượng quan giúp tiểu nhân nói mấy lời tốt đẹp.”
Ngạc Ba Đa nói rồi lại đặt một cái hộp lớn, một cái túi lớn xuống đất. Hắn thấy chiếc thoa mà La Đông Nhi muốn tìm chẳng đáng mấy văn tiền, liền biết được vị nữ quan này không tham vàng bạc châu báu, cho nên đã dày công mua một số y phục đẹp của người Hán và một đống phấn hồng loại thượng hạng nhất Nữ Nhi quốc, nghĩ rằng có thể từ đó lấy lòng được La thượng quan.
Quả nhiên, La Đông Nhi vừa nhìn thấy những thứ này thì khuôn mặt liền hiện lên vẻ hoan hỉ, vốn định lập tức bảo người ta đi về, nhưng giờ lại thấy người ta tặng mình những đồ rất vừa ý, liền nói chuyện thêm mấy câu. Hỏi: “Khi ngươi ở Tống triều, Tống quan đối với ngươi rất là trọng đại, là đại thần hồng lư tự nào đã tiếp đãi ngươi vậy? Nghe nói hồng lư tự Khanh Chương Đài cùa Tống triều sức khỏe không tốt, thường không lên nha, vậy tờ quốc thư này chắc là do thiếu khanh Cao Tường viết?”
Ngạc Ba Đa cười bồi nói: “La thượng quan có điều không biết rồi, khi tiểu nhân đến Tống triều, Tống triều vừa mới ban chức vị thiếu khanh hồng lư tự cho một người, tên là Dương Hạo, nghe nói vốn là Nam nha hỏa tình viện sứ. Người này không học hành gì cả, tính tình thì lỗ mãng, cho nên mới viết ra được bức quốc thư vô lại mạo phạm hoàng thượng ta như vậy. Nhưng cũng thật là kì lạ, Tống đế lại cho phép hắn viết thế, hắn thật không sợ hoàng thượng tức giận xuất binh thảo phạt Tống hay sao? Thượng quan? La thượng quan? Ngài làm sao vậy?”
La Đông Nhi môi tái đi. Nàng định thần, giọng run lên hỏi: “Ngươi nói, ngươi nói hồng lư tự thiếu khanh mới nhậm chức tên họ là gì?”
“Họ Dương tên Hạo.”
“Tứ ca đã từng nói Hạo ca ca đã đổi họ thành Dương Hạo. Chẳng lẽ… không phải… không phải huynh ấy, huynh ấy sao lại có thể làm một chức quan cao như hồng lư tự thiếu khanh chứ, hơn nữa huynh ấy đã ra khỏi phủ Khai Phong rồi, chẳng lẽ là cùng họ cùng tên?”
La Đông Nhi vội vàng hỏi: “Người này bao nhiêu tuổi, xuất thân từ đâu?”
Ngạc Ba Đa nói: “Tiểu nhân chưa từng gặp hắn, có điều nghe Liễu Công Tào nói người này không có học thức gì cả, lại không biết là gặp được vận may gì mà lúc đầu hắn đã trốn thoát được đại quân mà hoàng hậu nương nương đích thân dẫn đầu đi truy đuổi khi hắn di dân bắc Hán. Vì công lao này mà hắn được làm tri phủ Lô Lĩnh Châu, không lâu sau lại được điều về Khai Phong nhậm chức Nam nha hỏa tình viện trưởng, kết quả là lại bợ đỡ được Triệu Quang Nghĩa, lên làm chức vị hồng lư thiếu khanh. Tính ra ở Đại Tống, người mà thăng quan nhanh như hắn ngoài hắn ra không có người thứ hai. Ý? La thượng quan, hình như ngài không được khỏe?”
“Không sao, ta không sao, ngươi nói tiếp đi, còn có tin tức gì của hắn nữa?”
La Đông Nhi vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Nàng không hề ngơ được lại có thể nghe được tin tức về Dương Hạo ở đây. Con người mà nàng luôn nhơ mong đó tuy ở xa tận chân trời nhưng lúc nào cũng như đang đứng ở trước mặt nàng vậy. La Đông Nhi hai má đỏ lên, đôi mắt phát ra ánh sáng, tha thiết hỏi.
Ngạc Ba Đa buông tay xuống nói: “Hết rồi. Tiểu nhân chỉ nghe thấy Liễu Công Tào nói mấy câu đó thôi. Xem dáng vẻ khinh thường của ông ta thì có lẽ Dương Hạo này là một người tùy tiện, trong triều có vẻ có nhiều người rất đố kị với hắn. Con người này viết quốc thư như vậy cũng quá là chọc giận chúng ta. La thượng quan hãy bẩm báo lại với nương nương để nương nương phản bác lại hắn. Nói không chừng quan nhi trong triều cũng muốn đẩy hắn xuống, tên tiểu tử khốn kiếp dám coi thường quốc chủ Khiết Đan sắp phải xuống đài rồi.”
La Đông Nhi hé miệng, lật mặt nói: “Người là sứ tiết Khiết Đan ta, trong lời nói không được làm giảm bớt uy phong của Bắc Quốc. Nói lời lại thô lỗ như vậy, mở miệng ra là tiểu tử khốn kiếp, làm sao có thể làm sứ tiết Khiết Đan được. Nếu cứ như thế này thì bổn quan không dám đảm bảo cho ngươi nam hành đâu.”
Ngạc Ba Đa vừa nghe thấy con đường tiền tài bị cắt đứt, vội vàng cười bồi: “Tiểu nhân chẳng qua là chỉ dám nói trước mặt ngài thôi… được, được, được. Tiểu nhân nhất định sẽ cẩn trọng, cho dù là không có người ngoài cũng sẽ không dám có lời bất kính với quan nhi Tống triều nữa.”
La Đông Nhi nói: “Như vậy mới đúng. Ngươi lui xuống trước đi, việc này để ta bẩm báo rõ với nương nương rồi sẽ tính tiếp.”
“Vâng.” Ngạc Ba Đa cũng không biết đã đắc tội chỗ nào với nàng, vội vàng đáp một lời rồi lui ra. La Đông Nhi ngồi xuống ghế, tay đặt lên bàn, ngẩn ngơ suy nghĩ những điều Ngạc Ba Đa đã nói một hồi lâu, rồi lấy chiếc thoa ra ngắm nhìn, mày hơi nhíu lên, mỉm cười. Một lúc sau, những tiếng ồn ào trên lầu vang lên, lúc này nàng mới thức tỉnh. Nàng cất chiếc thoa vào trong ngực, dặn dò thị nữ cất những y phục và đồ trang điểm Hán đi, rồi vội chạy lên lầu, bước chân rất nhanh và nhẹ, giống như một con nai con hoạt bát vậy.
“Thực Đồ Li xúc phạm thần mộ, theo luật phải chết. Hoàng thượng, xử chết hắn đi.” Trên lầu có một số người đang gào thét.
Trước mặt Da Luật Hiền có một người thị vệ đang quỳ, vẻ mặt tái nhợt, phủ phục bất động dưới đất. La Đông Nhi nhấc y bào bước lên lầu, thấy quang cảnh kì lạ, liền hỏi một thị vệ đứng ở bên: “Vừa nãy mọi thứ vẫn tốt mà, sao lại thế này?”
Thị vệ đó liền đáp: “Thượng quan, Thực Đồ Li vừa nãy đã chạm vào thần mộ, đại nhân các bộ lạc vô cùng phẫn nộ, thỉnh hoàng thượng xử chết hắn.”
La Đông Nhi nghe xong thầm kinh ngạc. Thần mộ này là một lá cờ lớn, dựng ở trên Ngũ Phượng lâu, trên thần mộ có hình một đầu bạch lang, đó là vật tổ của tộc người Khiết Đan, rất thần thánh, người bình thường chưa được phép thì không được lại gần. Nếu như ai chạm vào thần mộ thì sẽ bị luận tội mà trảm. Thực Đồ Li là một thị vệ trẻ tuổi đôn hậu, sao lại phạm phải một lỗi lớn như vậy.
Những thủ lĩnh bộ lạc đó làm ầm cả lên, Da Luật Hiền chỉ khoanh tay không nói. Hắn mới cỡ hơn hai mươi tuổi, cơ thể gầy dong dỏng, khuôn mặt trắng bệch, nhìn có vẻ rất nho nhã yếu đuối, giống như một sĩ tử nam thân vậy. Những kẻ bên cạnh hắn đều là cận thân thị vệ, thủ lĩnh các bộ lạc mặt mày dữ tợn, giống như một con bạch hạc lạc vào bầy sói. Cho dù hắn khoác những bộ y phục dầy dặn nhưng vẫn cảm thấy trống trải.
“Thực Đồ Li, tại sao ngươi lại chạm vào thần mộ?” Da Luật Hiền đột nhiên chậm rãi hỏi.
“Tiểu nhân… tiểu nhân… vốn đang đứng bên cạnh để ngắm đèn, nhưng vì nhiều người chen chúc, tiểu nhân bị người ta xô vào, liền đưa tay ra bám lấy vật gì đó bên cạnh, lúc này mới chợt nhớ ra bên cạnh mình là thần mộ. Tiểu nhân biết tội, tiểu nhân đáng chết, đáng chết.” Thực Đồ Li liên tục khấu đầu. Da Luật Hiền thở dài một hơi, nói: “Hóa ra là như vậy, không biết không có tội. Thực Đồ Li bình thường rất cần mẫn, có trách nhiệm với chức trách, làm hết phận sự. Ừm… lôi ra ngoài phạt đánh ba mươi gậy.”
Thực Đồ Li ngẩn ra, không dám ngẩng đầu lên, vẫn không thể tin được những gì đã nghe thấy. La Đông Nhi mắt sáng lên, vội quát: “Thực Đồ Li, còn không mau tạ ân?”
Thực Đồ Li liền khấu đầu nói: “Tạ hoàng thượng khai ân, tạ hoàng thượng khai ân.”
“Chờ đã!” Một người từ bên cạnh chầm chậm bước ra, cười nói: “Hoàng thượng nhân từ, nhưng kẻ mạo phạm thần mộ đáng phải chết, việc này luật đã định. Hoàng thượng một câu thả người, e rằng không thỏa đáng.”
Da Luật Hiền liếc nhìn hắn, giọng nhàn nhạt nói: “Da Luật Văn, hà tất phải hà khắc như vậy, hành động của Thực Đồ Li chỉ là vô ý, không thể gọi là mạo phạm thần mộ. Nếu vì thế mà chém đầu thì quá tàn nhẫn.”
Vị quý tộc này tên là Da Luật Văn, tự Yến Vân, là một kẻ cạnh tranh quyền lực khi Da Luật Hiền còn chưa kế vị. Bây giờ Da Luật Hiền tuy đã làm hoàng đế, nhưng hắn vẫn thường xuyên chống đối lại Da Luật Hiền, vừa thấy Da Luật Hiền có lòng muốn tha cho Thực Đồ Li, hắn lập tức ra mặt ngăn cản. Vừa nghe lý do của Da Luật Hiền, hắn liền cười một cách khinh thường: “Hoàng thượng quá nhân từ rồi đó. Chủ của Khiết Đan ta phải có cái uy của hổ báo, thưởng phạt phân minh, luật lệ nghiêm khắc, sao có thể có lòng nhân từ của đàn bà được. Đối với một thị vệ cỏn con như vậy mà đã nhân từ như thế, làm sao có thể thống soái được trăm vạn hổ lang Khiết Đan ta?”
Tiêu Xước đứng bên cạnh Da Luật Hiền, cười lạnh lùng, La Đông Nhi vội vàng bước tới. Phía sau Da Luật Văn vốn có một người đang đứng xem náo nhiệt, đột nhiên lại bị vẻ đẹp của Tiêu hậu làm cho mê mẩn, đôi mắt lập tức dán chặt vào không thôi. Ngẩn ngơ nhìn hồi lâu, ánh mắt lại chuyển hướng sang bên cạnh, bất giác vô cùng kinh ngạc, lập tức thu người lại vào đám đông.
Nếu như La Đông Nhi có thể chú ý đến hắn thì sẽ phát hiện ra, người này chính là nhị thiếu gia Đinh Thừa Nghiệp. Đinh Thừa Nghiệp ẩn trốn trong bóng tối, nhìn La Đông Nhi và ngẩn ra: “Ả ta, ả ta là La Đông Nhi sao? Tuy khí chất có chút không giống, nhưng người thì giống như đúc, nếu không phải ả thì trên thế gian này nào có người nào giống như thế chứ? Sao ả ta lại ở đây, ả là phi tử của hoàng đế hay là gì?”
Đinh Thừa Nghiệp ngày đó bị biên quân Khiết Đan bắt được, hắn dò hỏi khắp nơi, hoàn toàn không có người nào biết đến nam nha đại tướng quân Lư Nhất Sinh gì đó, chỉ biết được rằng Đinh Thừa Nghiệp là một kẻ điên khùng nói nhảm. Chúng dày vò hắn làm hắn sống không được chết không xong, khổ không còn lời nào để nói. Lúc này may mắn hắn đã gặp được Da Luật Văn.
Da Luật Văn cao tám thước, mặt mày dữ tợn, là một dũng sĩ có tiếng của Khiết Đan, hắn vốn có quan hệ với Nam Viện đại vương. Người này tính tình háo sắc, mà nam nữ đều không kị. Thấy kẻ nô lệ Đinh Thừa Nghiệp tuy đầu bù tóc rối, nhưng mặt mũi thanh tú, rất anh tuấn, lập tức nổi lòng thương tiếc, liền mang hắn về làm người hầu hạ bên cạnh.
Đinh Thừa Nghiệp bước vào ngõ cụt, chỉ còn một lựa chọn là xấu hổ nhẫn nại làm cận vệ của Da Luật Văn và trở thành người được Da Luật Văn sủng ái nhất, như hình với bóng. Lần này đến chúc thọ hoàng đế, Da Luật Văn cũng mang theo kẻ được sủng ái này đến Ngũ Phượng lâu. Bây giờ vừa nhìn thấy La Đông Nhi, Đinh Thừa Nghiệp liền nghĩ ngay đến thân phận của mình. Đầu tiên là xấu hổ không thôi, sau đó là lùi lại đằng sau theo tiềm thức, kĩ lưỡng dò xét dáng vẻ của La Đông Nhi, thấy nàng đứng bên cạnh nương nương, giống như con sóng cuộn trào ở Bắc quốc, trong lòng hắn không khỏi vừa thấy đố kị vừa thấy hận.
La Đông Nhi chưa từng chú ý đến vị cố nhân này. Nàng đứng bên cạnh Tiêu hậu, chỉ nghe thấy Da Luật Văn khua môi múa mép, rõ ràng là nói hoàng đế nhân từ, nhưng lại ngầm châm chọc hắn yếu đuối, lại kích động rất nhiều những thủ lĩnh bộ lạc vốn không phục vị hoàng đế này kêu la hò hét, làm cho mặt của Da Luật Hiền lúc trắng lúc đỏ, có chút không đấu lại được.
Tiêu hậu ở bên cạnh đột nhiên cười lạnh một tiếng: “Da Luật Văn, miệng ngươi thì nói cái gì mà thưởng phạt phân minh, luật lệ nghiêm khắc. Hoàng thượng thống trị Bắc quốc, nhận mệnh của trời, hoàng đế có lòng nhân nghĩa, muốn tha cho Thực Đồ Li, đây là chỉ ý. Ngươi thân làm thần tử lại dám chất vấn nghi ngờ, tìm mọi cách khiêu khích, đây là đạo lý gì của một thần tử chứ? Luật lệ nghiêm khắc ở đâu chứ?”
Da Luật Văn nhìn về phía Tiêu Xước, mĩ nhân dưới ánh đèn mắt ngọc mày ngà, màu da như mỹ ngọc, đôi môi ẩn hiện hồng nhuận, hắn không khỏi nổi lên lòng tham, tươi cười nói: “Nương nương, thần chỉ là làm hết bổn phận thôi. Thấy hoàng thượng có chỗ nào không đúng thì xuất ngôn khuyên giải mà thôi, nào dám khiêu khích hoàng thượng chứ?”
“Nếu đã như vậy, hoàng đế khai ân đã là hạ chỉ ý, Da Luật huynh hà tất phải nhiều lời chứ. Thần mộ đại diện cho hoàng quyền, hoàng quyền là hoàng thượng, hoàng thượng muốn làm như thế nào thì kẻ làm thần tử chỉ có thể phục tùng. Đây là quy tắc, huynh nói xem?”
Người nói đang khoanh tay đứng bên cạnh, điềm nhiên nói. Người này tên là Tiêu Thác Trí, là người của Tiêu gia, cũng là tướng quân thống lĩnh đại quân một phương. Đứng một bên khác là Da Luật Long Vận, cũng chính là Hàn Đức Nhượng, trầm giọng nói: “Lời của hoàng thượng là thánh chỉ, là một thần tử ai dám không phục tùng là bất trung. Ai có lòng bất trung thì đầu tiên phải hỏi lưỡi đao trong tay ta đã, rồi hãy hỏi hoàng thượng cũng không muộn.”
Da Luật Văn thấy đám người Tiêu Xước đầy vẻ hăm dọa, trong lòng có chút cân nhắc, rồi hừ một tiếng, không nói gì nữa……
Dưới đèn, Tiêu Xước mặc tiểu y, thả mái tóc ra, cái dáng vẻ vốn uy nghiêm ngang tàn lập tức chen vào vài phần quyến rũ. Nàng nằm xuống giường, La Đông Nhi cũng mặc tiểu y ngồi một bên, nhẹ nhàng bóp vai của Tiêu Xước. Tiêu Xước thở dài một tiếng, nói: “Hôm nay ngươi cũng thấy rồi đấy, những người đó dám ngang nhiên làm khó hoàng thượng, trong lòng chúng nào có vị hoàng thượng này chứ?”
Nàng xua xua tay nói: “Hôm nay ngươi cũng mệt rồi, ngủ đi, không cần xoa bóp nữa.”
La Đông Nhi nghe theo lời nằm xuống một bên. Hai mỹ nhân như hai đóa sen xinh đẹp. Tiêu Xước duỗi mái tóc ra, nằm xuống gối, nhắm mắt nghĩ ngợi một lúc rồi nói: “Phải điều động thêm một lần nữa những người của đại quân nắm giữ hoàng thành, phải hết sức thay bằng người của chúng ta, nếu không chúng ta không thể ngủ yên giấc được. Còn ngươi nữa, ngươi phải nhanh chóng bắt tay vào làm đi. Sau này những cung vệ quân này sẽ giao hết cho ngươi, đây là chuyện quan trọng nhất của chúng ta.”
La Đông Nhi nhẹ nhàng nói: “Nương nương cứ sai bảo, Đông Nhi xin nghe theo. Còn hồi thư của Tống quốc…”
Tiêu Xước nói: “Ngày mai sẽ suy nghĩ nên làm thế nào. Trẫm cũng không ngờ hồi thư của người Tống lại cương quyết như vậy, chẳng lẽ họ đã nhìn ra trong nội bộ của chúng ta đang rối loạn, không thể xuất binh? Ừm… khiển sứ của Đường quốc đã cầu viện ta, trẫm định phái Da Luật Văn đến Đường quốc một chuyến, thể hiện rõ thái độ của Bắc quốc ta, để Tống triều có chút kiêng kị, ngươi thấy thế nào?”
“Đường quốc? Tại sao lại không phái người đến Tống quốc. Nếu như nương nương để ta xuất sứ đến Tống quốc, đi gặp Hạo ca ca…” La Đông Nhi suy nghĩ miên man, Tiêu Xước không hiểu quay đầu sang hỏi: “Sao không trả lời?”
“Ừm… nương nương, Da Luật Văn luôn có sự bất kính đối với hoàng thượng, sao có thể phái hắn đi xuất sứ được?”
Tiêu Xước cười cười, nói: “Hắn rời khỏi thượng kinh, trẫm mới dễ động thủ sắp xếp lại người của chúng ta, tránh để hắn gây trở ngại.”
Nàng xoa xoa cánh tay mượt mà, vươn người thổi tắt ngọn đèn, nói: “Ngủ đi, bất kề là có chuyện gì thỉ cứ để mai chúng ta bàn tiếp.”
Ngọn đèn đã tắt, trong phòng lập tức tối đen lại, hai nữ nhi đều mang trong lòng một tâm sự riêng, không hẹn mà cùng thở dài một tiếng.
Chương 345: Giang Nam tuyên phủ
Một người luôn âm trầm như Dương Hạo đột nhiên lại rầm rộ tổ chức hôn sự, chỉ có điều cái gọi là “luôn âm trầm” chỉ là cảm giác bằng lòng của hắn. Quan thân bách tính Khai Phong luôn cảm thấy rằng vị quan nhi làm việc gì cũng hấp tấp, rầm rộ, tuyệt đối không phải là kẻ âm trầm.
Dương Hạo lấy một vợ và nạp hai thiếp, nghi thức ba mĩ nhân quy phòng được đồng thời tổ chức. Vị thê này họ Đường tên Diễm Diễm, Dương Hạo sớm đã loan tin khắp nơi, người trong toàn thành đều biết vị Đường Diễm Diễm này là đại tiểu thư của Đường gia Tây Bắc. Còn một trong hai vị thiếp kia nguyên là đệ nhất hành thủ Biện Lương Ngô Oa Nhi, đây chỉ là bổ sung nghi thức, người bên cạnh sớm đã biết nàng ta đã được Dương Hạo nạp phòng rồi. Còn một vị thiếp khác lại là Lâm Âm Thiều, dò hỏi kĩ lưỡng mới biết đó chính là trạng nguyên Diệp bảng trong cuộc thi hoa khôi lần thứ nhất. Hồng hoa lục diệp đều ở bên cạnh, ai lại không ngưỡng mộ tán thưởng Dương Hạo có diễm phúc tề nhân chứ.
Trong hôn sự này của Dương Hạo, ngay cả một quan viên trong quan trường hắn cũng không mời, người tham gia hôn lễ duy chỉ có tứ đại bang chủ tào vận Biện Lương và các thuộc hạ. Hắn tổ chức một bữa tiệc rất khoa trương tại Thiên Kim Nhất Tiếu Lâu. Điều hắn sợ chính là Đường gia ngăn cản hoặc Tấn vương gia quấy nhiễu từ bên trong. Nhưng rất lạ là Đường gia ngay cả một chút động tĩnh cũng không có, còn bên Tấn vương thì kì thực hoàn toàn không biết Đường gia muốn kết thân với mình, đương nhiên cũng không có cử động gì.
Dương Hạo rất cẩn thận, hắn vốn nghĩ hôn sự này không biết sẽ phải trải qua bao nhiêu sóng gió, không ngờ lại bình yên tổ chức thành. Diệu Diệu nhận được một tờ hôn thư, tuy chưa viên phòng, nhưng thân phận đã được xác lập, Diệu Diệu vô cùng vui mừng, nhưng nàng lại không biết Dương Hạo là có ý định khác.
Ngô Oa Nhi và Đường Diễm Diễm sớm đã cùng thương nghị ngầm với Dương Hạo, đợi khi hắn vừa đi thì hai người sẽ mang theo của cải âm thầm đi theo, đầu tiên là phải dàn xếp thỏa đáng, sau đó sẽ đi về Đường quốc hội họp với hắn, để ba người có thể “cùng chết”. Còn về phía Diệu Diệu, nàng đã có tờ hôn thư này thì chính là thiếp thất theo pháp định của hắn, nếu như hắn xảy ra chuyện thì Diệu Diệu sẽ trở thành người thân duy nhất trên đời của Dương Hạo, sẽ có quyền thừa kế tất cả tài sản của hắn.
Dương Hạo sắp xếp thỏa đáng “hậu sự”, buổi sáng ngày hôm sau liền lên kim điện chào từ biệt quân vương. Triệu quan gia ở trên điện bảo hắn có thể tùy cơ ứng biến, hành động chủ yếu của hắn trong chuyến đi này là đến Đường quốc thăm dò tình hình quân thần Đường triều, nắm vững địa lý Đường quốc để Tống quốc có thể chuẩn bị tốt cuộc thảo phạt Đường quốc, biến Đường quốc thành đất của Trung Nguyên.
Để cho hắn có thể thuận tiện hành sự, quan gia cho hắn tự lựa chọn người đi cùng, Triệu Khuông Dận còn phái thêm hồng lư tự Tiêu Hải Đào làm tuyên phủ phó sứ, rút một số lính trinh thám từ hoàng thành ti ra, ngoài ra còn điều động một đội quân hơn một trăm người từ cấm vệ quân làm nghi trượng cho hắn. Những cấm vệ quân này đều là những đại hán cao tám thước trở lên, thân hình vạm vỡ khôi ngô, võ thuật cao cường, do một vị chỉ huy sứ tên Trương Đồng Chu dẫn đầu.
Khi ra khỏi đại nội hoàng cung, Dương Hạo lại bị Trình Đức Huyền đang đứng đợi ở cửa cung kéo đến Nam nha. Dương Hạo trong lòng không yên ổn, vốn nghĩ Triệu Quang Nghĩa chịu đựng đến bây giờ mới ra tay, không ngờ khi gặp Triệu Quang Nghĩa, Triệu Quang Nghĩa lại đẩy vẻ tươi cười, không chút giận dữ, hoàn toàn không nhắc đến việc hắn thành thân, chỉ nói đến việc hắn phạt hành.
Dương Hạo không hiểu rõ chân tướng, nhưng thấy hắn thể hiện như vậy, thì cũng thấy yên lòng lại. Nếu như vị vương gia này giữ cái thái độ “quân tử báo thù mười năm chưa muộn”, thì hắn cũng không sợ. Lầm này hắn đi giống như giao long vào biển, một khi đã ra biển thì sẽ không có ngày gặp lại, Triệu Quang Nghĩa có âm mưu quỷ kế gì thì đều không thể dùng được.
Theo như người bên cạnh thì lúc này lại nhìn ra Tấn vương lễ hiền hạ sĩ như thế nào, biết làm người như thế nào. Cho dù bây giờ Triệu Phổ đã đổ, trong triều Triệu Quang Nghĩa là độc đại, cái tên khâm sai Dương Hạo bây giờ cũng chỉ thuộc vào hàng nha nam nhàn rỗi, đối với Triệu Quang Nghĩa không có tác dụng gì nữa, nhưng Triệu Quang Nghĩa lại vẫn quan tâm thân thiết đến hắn, ngược lại hẳn với Ngụy vương. Dương Hạo đã từng làm phó sứ cùng với hắn đến Giang Nam tuần hành, vậy mà lúc này hắn lại hoàn toàn không có thể hiện gì, có phần giống như khúc gỗ.
Từ biệt Tấn vương, điểm lại cấm quân, mang theo mật thám mà hoàng thành ti sai đến, Dương Hạo và tuyên phủ phó sứ Tiêu Hải Đào hẹn Sử bộ thượng thư Đường quốc Từ Huyễn ở lễ binh viện, đang định cùng đến bến thuyền để rời đi thì đại hồng lư tự, kẻ luôn mang danh bạo bệnh Chương Đài Liễu chạy đến, ngồi cùng kiệu với hắn, trong kiệu nói mấy lời ân cần dạy dỗ.
Dương Hạo còn tưởng rằng vị đại hồng lư tự có chuyện gì cấp bách, nghe hắn nói một tràng mới biết hóa ra hắn toàn nói về việc phải chú ý khi làm sứ thần ngoại giao. Xuất sứ là đại biểu cho triều đình, nhất cử nhất động đều phải cẩn thận, đề phòng thất lễ, quá tự nhiên thì không được, còn nếu quá khiêm nhường thì cũng sẽ tổn hại quốc thể, đại loại là các việc như thế, việc nào Dương Hạo cũng gật gật đồng ý.
Chương Đài Liễu lại nói: “Tả khanh sứ, lần này đi phàm chuyện gì cũng phải tùy cơ ứng biến, cần cẩn thận. Có những lúc ngôn từ của ngài không có chỗ nào thất lễ, nhưng đối phương vẫn có thể gài bẫy làm cho ngài mất mặt. Nếu như không cẩn trọng sẽ giống như Đào thượng thư năm xưa, rơi vào vòng vây của người ta, rồi để cả thiên hạ chê cười.”
Dương Hạo có chút ngạc nhiên, thượng thư đương triều họ Đào chỉ có một vị, chính là hàn lâm học sĩ thừa chỉ, hộ bộ thượng thư Đào Cốc, nhưng vị này đã từng đi sứ Đường quốc sao? Lại còn có chỗ thất lễ bị người khác chê cười nữa ư?
Dương Hạo vội vàng hỏi, Chương Đài Liễu liền nói: “Đào thượng thư khi ở tiền triều Thế Tông hoàng đế đã là hàn lâm học sĩ, nếu như ông ta không xảy ra chuyện xấu hổ thì sao bây giờ chỉ là một hộ bộ thượng thư hữu danh vô thực chứ? Đáng nhẽ ông ấy sớm đã phải là tể tướng rồi. Nguyên nhân chính là khi ông ấy làm hàn lâm học sĩ tiền triều đã từng xuất sứ Đường quốc, lại trúng phải kế của người ta, làm cho thân bại danh liệt.”
Chương Đài Liễu tỉ mỉ kể lại chuyện, Dương Hạo mới hiểu được căn nguyên. Lúc đó Đường quốc vẫn là do phụ thân của Lý Dục Lý La làm hoàng đế, còn Triệu Khuông Dận lúc đó mới chỉ là một vị quan triều Chu, đồng điện xưng thần với vị đại học sĩ Đào Cốc này. Đào Cốc phụng mệnh Thế Tông hoàng đế xuất sứ Nam Đường, lúc đầu khi đến Đường quốc, không hề nói cười, đầy vẻ nghiêm trang, người người đều biết hắn là một quân tử đạo đức nên đối xử rất nghiêm túc kính cẩn với vị sứ thần Đại Chu này.
Lúc đó người phụ trách tiếp đón Đào Cốc chính là đại thần Đường quốc nổi tiếng “phóng đãng” Hàn Tái Hi. Hàn Tái Hi lại tỏ vẻ coi thường sứ giả bày, hắn đã giở trò với Đào Cốc. Đào Cốc sáng sớm nào cũng đi tản bộ trong dịch quán mà hắn ở. Có một hôm hắn đột nhiên phát hiện có một nữ nô tì mới đến. Nữ nô này tuy chỉ là một hạ nhân quét dọn trong viện, quần áo rách rưới, cả người là vẻ bần hàn, thoa cài tóc cũng là dùng một cành trúc nhỏ gọt mỏng đi, dáng vẻ cân đối, nhưng khuôn mặt dáng điệu lại vô cùng bất tục.
Đào Cốc rất kinh ngạc, cảm thấy một nhân vật như vậy không nên làm hạ nhân, liền dừng lại hỏi han vài câu với nàng, lúc này mới biết người thiếu phụ này họ Tần tên Nhược Lan, vốn cũng là thư hương môn đệ (người có học), vì chồng bị bệnh mà chết, không có chỗ nương nhờ nên mới phải vào dịch quán tìm một công việc tạm thời để qua ngày.
Trời còn thương xót cỏ cây huống hồ là con Giang Nam. Đào Cốc thấy một người xinh đẹp như vậy không khỏi có lòng thương tiếc, thường xuyên chăm sóc cho nàng. Qua lại nhiều lần, vị Đào đại nhân này đã nảy sinh tư tình với vị thiếu phụ xinh đẹp. Có một buổi tối, vị thiếu phụ này không rời khỏi dịch quán mà lại bước vào phòng ngủ của Đào Cốc.
Cái cảm giác lưu luyến bịn rịn thật là khó chịu, Đào Cốc biết làm vậy sẽ phải gánh hậu quả, nhưng lại không thể buông được.
Một đêm tình không đủ liền tình đêm đêm. Từ đó hai người cùng ở với nhau như phu thê. Khi tình nồng thắm, Đào Cốc đã đồng ý với lời thỉnh cầu của nàng, còn vì nàng mà viết một bài thơ để làm vật chứng cho tình yêu. Bài thơ đó viết: “Hảo nhân duyên, ác nhân duyên, nại hà thiên, chích đắc bưu đình nhất dạ miên. Biệt thần tiên, tỳ bà bát tẫn tương tư điều, tri âm thiểu, đãi đắc loan yêu tục đoạn huyền. Thị hà niên?”
Qua mấy ngày, chủ của Đường quốc, Lý La mở yến tiệc trong cung mời Đào Cốc. Lý La bảo mĩ nhân tiếp rượu, Đào đại học sĩ giả vờ gượng ép, làm ra vẻ chính nhân quân tử, miệng thì liên tục từ chối, làm cho Lý La rất mất hứng.
Hàn Tái Hi đứng bên cạnh cười lạnh một tiếng, vỗ tay ba cái, lạc khúc liền vang lên, một mĩ nhân xinh đẹp từ sau bức màn uyển chuyển bước ra, giọng thanh thoát cất tiếng hát: “Hảo nhân duyên, ác nhân duyên, nại hà thiên, chích đắc bưu đình nhất dạ miên. Biệt thần tiên, tỳ bà bát tẫn tương tư điều, tri âm thiểu, đãi đắc loan yêu tục đoạn huyền. Thị hà niên?”
Đào Cốc vừa nghe thấy mặt liền tái nhợt, ca từ này chính là lúc hắn tình nồng trên gối đã viết cho thiếu phụ góa bụa. Một lúc liền định thần nhìn lại, ca nữ xinh đẹp đó chẳng phải là người thiếu phụ đã đầu ấp tay gối mấy đêm trước với hắn – Tần Nhược Lan hay sao?
Hóa ra nàng ta hoàn toàn không phải là thiếu phụ ở góa, mà là một ca kĩ của phủ Hàn Tái Hi. Bài thơ tình mà sứ tiết Chu quốc xuất sứ thông gian với thiếu phụ ở góa lại được vang lên ở quốc yến, làm cho Đào Cốc xấu hổ không có đất để chui xuống. Từ lúc đó hắn không thể ngẩng mặt trước người Đường. Khi hắn về nước, người Đường chỉ phái mấy tiểu lại bưng một hũ rượu nhạt ra bờ sông tiễn hắn, thể hiện sự khinh thường cực độ đối với hắn.
Đào Cốc xấu hổ, nhẫn nại quay trở về Khai Phong, vốn tưởng rằng sự nhục nhã của mình đã kết thúc, ai ngờ đây mới chỉ là bắt đầu. Hắn cho rằng sẽ chỉ bị tiêu tan tiền tài, ai ngời tin tức đã nhanh chóng về tới Chu quốc, khi hắn trở về Khai Phong, hắn đã cảm nhận sâu sắc sự oán trách của mọi người với sự thiếu đạo đức của hắn.
Vì chuyện này mà Đào Cốc tuy tài học đầy mình, nhưng trên con đường thăng tiến luôn gặp phải trở ngại. Từ khi có bài học phản diện này, người Chu mỗi lần xuất sứ Đường quốc, quả thật ai cũng rất thanh liêm, tuyệt đối không nhận hối lộ, làm chuyện bậy, nữ sắc càng tuyệt đối không chạm tới, họ sợ sẽ dẫm lại vết xe đổ của người xưa. Bây giờ triều Chu đã trở thành triều Tống, tể tướng phóng đãng Hàn Tái Hi cũng đã bệnh chết hai, ba năm trước, nhưng quy củ này vẫn không thay đổi. Cho nên chỉ cần có người xuất sứ Đường quốc thì cái kẻ xui xẻo Đào Cốc này lại bị lôi ra, làm bài học nhắc nhở mọi người phải cẩn thận.
Lão già Chương Đài Liễu cảm thấy Dương Hạo là một kẻ khác lạ trong triều đình Đại Tống. Người ta thường nói: “nhất mệnh, nhị vận, tam phong thủy, tứ tích âm đức, ngũ đọc sách.” Người ta vận khí tốt, tường thành cũng không ngăn nổi, còn mình, một kẻ đọc sách đã lớn tuổi như thế này mà lại không thể bì được với hắn, tên thuộc hạ này sớm muộn cũng sẽ trèo lên đầu mình. Cho nên hắn không từ gian khổ mà chạy tới ân cần dặn dò, vừa là vì quốc thể, vừa là để thể hiện sự thân tình.
Dương Hạo nghe hết câu chuyện thì kiệu cũng tới bến thuyền. Dương Hạo chắp tay chào tạm biệt đại hồng lư hồi phủ, hắn mỉm cười: “Dám chắc vị Chương Đài Liễu này cả đường đưa tiễn chính là vì nhắc nhở ta cẩn thận với viên đạn bọc đường của Đường quốc.
Ha ha ha, ta còn sợ người ta đến quyến rũ ta sao? Không có người đến cấu xé ta, ta còn phải chủ động gây họa thị phi ấy chứ. Lần này đi sứ Đường, ta đây là đi chết mà. Chương đại nhân, xin lỗi, Dương mỗ đã phụ lòng tốt của ngài rồi.”
***
Trường Giang mấy nghìn dặm bắt nguồn từ Thanh Hải, chảy qua Tam Hiệp, bắt qua Giang Hán, thông với Ngô Việt, khí thế hừng hực, sóng xiết cuồn cuộn. Hạ du Trường Giang mênh mông sâu không thấy đáy, chỉ có hai bến đò, một là bến Thái Thạch, một là bến Qua Châu.
Giữa hai bến này lại có một Kim Lăng thiên cổ Nhất Giang Vũ Thành.
Kim Lăng lấy núi làm thành, lấy Trường Giang làm rãnh trời. Cái thế hiểm dựa sông núi làm cho một số người vừa nhìn đã dậy lên khí độ vương giả, coi đây là đất đóng đô. Nhưng những vương triều đã định đô ở đây người nào cũng đoản mệnh. Nghe nói đó là vì phong thủy của Kim Lăng quá tốt, sớm đã bị người ta phá hỏng.
Nghe nói thời chiến quốc, có một phương sĩ (chỉ những người cầu tiên học đạo) đã nhìn ra mảnh đất này vương khí cực thịnh, đã hiến kế giấu vàng để trấn vương khí, cho nên Sở Uy Vương lệnh cho người điêu khắc một người bằng vàng, giấu bên dưới cầu Bảo Tháp của Sư Tử Sơn trong thành Kim Lăng bây giờ, sau có còn xây một kim lăng để trấn vương khí, từ đó nơi đây có cái tên Kim Lăng này.
Khi Tần Thủy Hoàng tuần du Vân Mộng, phương sĩ trường sinh với đạo thuật cực cao của hắn một lần nữa đã nhìn ra nơi đây có vương khí rất mạnh, liền bẩm báo lại với Tần Thủy Hoàng. Sự quyết đoán của Tần Thủy Hoàng mạnh hơn nhiều Sở Uy Vương, cái gì mà chôn người bằng vàng, cái gì mà trấn vương khí? Tần Thủy Hoàng cười lạnh một tiếng, trực tiếp sai người cắt đứt long mạch của Phương Sơn, lại dẫn sông Hoài xuyên qua thành Kim Lăng để trôi hết vương khí.
Từ đây Phương Sơn bị cắt đứt, sông Hoài xuyên qua, tảng đá hổ cứ long môn đã bị mất đi khí bá vương. Dòng sông Hoài tĩnh lặng chảy qua hơn mười dặm.
Nhưng những quân chủ không tin vào điềm gở cũng có, hơn nữa địa giới Giang Đông quả thực cũng không tìm ra được nơi nào thích hợp hơn Kim Lăng để làm đô thành, cho nên Đường quốc vẫn dựng đô ở đây. Bây giờ đã truyền tới ba đời, đã đến tay Lý Dục. Lý Dục e ngại thế lực của Đại Tống, đã tự tước bỏ đi cái tên Nam Đường quốc, mà trở thành thần tử của Đại Tống, đổi tên thành Giang Nam quốc chủ, khí thế của vương giả này đã mất đi một nửa.
Tin tức Lý Tòng Thiện xuất sứ Tống quốc, lại bị giam lỏng ở Khai Phong đã được truyền về, Lý Dục hay tin liền vô cùng kinh hãi. Chưa đợi tuyên phủ khâm sai Tống quốc đến đã hạ lệnh gọi Triệu Khuông Dận là hoàng đế, hắn xưng quốc chủ, trung thư môn hạ đổi thành hữu tả nội sứ, thượng thi tỉnh thành ti hội phủ, ngự sử đài đổi thành ti hiến phủ, triều lâm viện đổi thành tu văn quán, khu mật viện đổi thành quang chính viện, hồng lư tự hạ thẳng xuống lễ tân viện, lập tức dỡ bỏ biển, đổi thành biển của nha môn theo chế độ mới.
Mấy đệ đệ đã phong vương cũng nhất loạt đổi thành công. Lý Tòng Thiện phong làm Sở quốc công, Lý Tòng Tỏa phong thành Giang quốc công, Lý Tòng Khiêm phong thành Ngạc quốc công. Khi con thuyền lớn mà Dương Hạo và Từ Huyễn đi dừng ở bến Qua Châu thì Lý Dục đang chỉ huy người bắc thang trèo lên phía trên của cung điện, dùng búa để đập hết những hình thiên nga, long phượng đi, cải chế thì phải cải chế triệt để.
Lý Dục đang bận rộn thì một nội thị luống cuống chạy tới, thì thầm to nhỏ mấy tiếng với hắn. Lý Dục nghe xong mày liền nhíu lên, chần chừ một lúc, đành thở dài một tiếng rồi phất áo bước ra khỏi Thanh Lương điện.
Vừa bước ra khỏi Thanh Lương điện thì có một mĩ nhân mặc y phục trong cung liền chạy tới trước mặt hắn, khóc lóc thảm thiết, quỳ xuống và liên tục nói: “Quan gia , quan gia, người nhất định phải cứu Trịnh vương nhé, bây giờ ngài ấy ở Tống quốc không biết sống chết như thế nào, thần thiếp vô cùng nóng ruột. Quan gia, ngài ấy là huynh đệ của người, quan gia nhất định phải cứu ngài ấy nhé.”
Lý Dục lúng túng không biết phải làm thế nào, áo bào bị vị phu nhân đó giữ chặt, không thể dứt ra. Hắn đành phải cúi xuống đỡ phu nhân đó dậy, an ủi mấy câu: “Nàng mau đứng dậy đi, mau đứng dậy đi, làm như thế này chẳng ra thể thống gì cả. Trẫm đã ra quốc thư khẩn cầu với Tống đế, Tống đế chắc sẽ thả Tòng Thiện về nước, nàng không phải lo lắng đến thế đâu.”
Vị phu nhân quỳ dưới đất này chính là vương phi của Trịnh vương Lý Tòng Thiện, nghe nói tướng công bị giam lỏng ở Tống, không được về triều, nên không khỏi lo lắng sốt ruột, vội vàng chạy đến cung để kiến giá. Vương phi của Trịnh vương nước mắt ngắn nước mắt dài, Lý Dục đỡ nàng dậy, lại nói: “Còn nữa, sau nhất định không được gọi trẫm là quan gia nữa, chỉ có thể gọi là quốc chủ thôi. Trịnh vương cũng không được gọi, gọi là Sở quốc công, nhớ đấy, nhớ đấy.”
Trịnh vương phi gạt nước mắt nói: “Quan… quốc chủ, hoàng đế Tống quốc nếu đã giam cầm Trịnh… Sở quốc công thì sao có thể dễ dàng thả được. Là quốc chủ đã phái phu quân của thần thiếp đi, bây giờ ngài ấy không về được, thiếp chỉ có thể đến cầu khẩn quốc chủ thôi. Nếu như phu quân của thần thiếp có mệnh hệ gì thì thần thiếp cũng không thể sống nổi. Quốc chủ nhất định phải cứu tính mạng của ngài ấy.”
Lý Dục mặt đỏ tía tai, dùng lời ngọt để trấn an: “Không cần lo lắng, ta nhất định sẽ nghĩ cách, nhất định sẽ nghĩ ra cách. Bây giờ sứ tiết Tống quốc sắp đến rồi, ta phải đi làm quốc lễ, bây giờ không tiện nói chuyện, có chuyện gì đẻ sau hẵng tính tiếp.”
Trịnh vương phi nói: “Khiển sứ người Tống đến sao? Quốc chủ, chúng bất nhân thì ta bất nghĩa, hay quốc chủ cũng giam lỏng sứ tiết của chúng, bảo Tống triều lấy phu quân của thần thiếp để trao đổi.”
Lý Dục dậm chân nói: “Đúng là nữ nhân thiển cận, nếu như vậy chẳng phải là chuẩn bị gặp nhau bằng đao kiếm hay sao?”
Thấy Trịnh vương phi ngẩn ra, Lý Dục lại thở dài một hơi, lẩm bẩm: “Còn cần phải giam lỏng hắn sao? Tuyên phủ… tuyên phủ, cũng biết Tống sứ này muốn tuyên phủ đến bao giờ mới được coi là tuyên phủ kết thúc để trở về nước. Ôn thần muốn tống mà cũng không tống didc, nàng lại còn muốn trẫm giữ hắn lại sao?”
Trịnh vương lúng túng nói: “Vậy… vậy phải làm như thế nào mới được?”
Lý Dục dung hòa lại vẻ mặt, nói: “Nàng cứ hồi phủ đi, đừng quá lo lắng, trẫm sẽ nghĩ ra cách. Tòng Thiện là huynh đệ máu mủ của trẫm, trẫm sao có thể không cứu nó?”
Sau khi dùng một loạt những lời ngon ngọt an ủi, khuyên nhủ Trịnh vương phi đang khóc lóc hồi phủ, Lý Dục đứng ở trước Thanh Lương điện, lẩm bẩm tự nói: “Triệu Khuông Dận phong Tòng Thiện là Thái Ninh tiết độ sứ, phong phủ đệ ở Lương Dương, chỉ ở lại kinh sư lĩnh bổng lộc, không cần phải lập chức. Lại phong mẫu thân của Tòng Thiện – Lăng thị làm đại phu nhân Ngô quốc, những người đồng hành với nó đều được ban thưởng gia phong. Đây chẳng phải là làm cho ta xem sao, muốn ta đầu hàng Đại Tống hắn.
Nhưng ta vốn là quân vương của một nước, bây giờ đã tự hạ mình làm vương, xưng thần với Tống, làm như vậy vẫn chưa đủ sao? Không biết Triệu Khuông Dận có cái mồm to đến mức nào nữa? Hắn cũng nên biết đủ chứ. Ừm… hắn nên biết đủ, bên ta vẫn còn mấy mươi đại tinh binh, vượt xa Thục Hán, Triệu Khuông Dận hắn cũng không thể không kiêng kị chút nào. Đợi khi sứ tiết Khiết Đan đến rồi, ta sẽ để cho hắn biết Đường quốc ta với Khiết Đan có quan hệ mật thiết, đến lúc đó Tống triều e sợ bị địch đánh hai mặt, tất sẽ thả cho Tòng Thiện trở về, nhất định sẽ là như thế!”
***
“Nương nương người xem, mặc Hồ phục tà ngắn cổ gập này vào, lại phối thêm những trang sức mà quan gia đã đích thân thiết kế, phải chăng có mùi vị khác?”
Hai mĩ nhân đứng trước gương, trong đó một người mặc Hồ phục tà ngắn, cổ áo lật được làm bằng lông hồ ly trắng, mắt ngọc mày ngà, đầy vẻ chói lóa, thần thái hiền dịu, giọng nói mượt mà, đó chính là Tiểu Chu hậu. Còn người kia mặc một bộ y phục màu xanh ngọc, có dáng vẻ phiêu diêu thoát tục, đôi mắt long lanh như sóng mùa thu.
Hai người đều có dáng vẻ vô cùng thon thả, cân đối. Tiểu Chu hậu vốn là một thiếu phụ nho nhã xinh đẹp, giờ lại mặc Hồ phục này vào lại có thêm vài phần anh tuấn, xem ra rất giống một cô nương mười bảy, mười tám chưa từng xuất giá.
Tiểu Chu hậu không khỏi tươi cười nói: “Quả nhiên Minh Nhi muội tử thật khéo tay. Kiểu cách y phục may rất đẹp, hơn nữa mặc vào lại vô cùng vừa vặn. Đợi quan gia hồi cung, sẽ làm cho ngài ấy ngạc nhiên. Nào, chúng ta đánh cờ đi.”
Hai mĩ nhân cùng đi tới một bên, ngồi xuống bệ, bàn cờ đã được bày sẵn. Thiếu nữ mặc y phục màu ngọc bích vừa sắp cờ vừa nói: “Nghe nói quan gia đã đến xưng thần với Tống triều, đổi đế thành vương, sợ rằng cách gọi quan gia này từ giờ về sau cũng sẽ không thể xưng được nữa.”
Tiểu Chu hậu cười không cho là thật, nói: “Minh Nhi nghĩ quá rồi, chẳng qua chỉ là đổi cách xưng hô thôi mà, Nam Đường ta vẫn là Nam Đường, có gì khác biệt chứ. Mà có đổi tên thì chúng ta xưng ở trong cung, Tống triều sao có thể biết được chứ?”
Minh Nhi thở dài một tiếng, lắc đầu không nói.
Tiểu Chu hậu nhíu mày lên, có chút kinh ngạc nhìn nàng ta, hỏi: “Minh Nhi, có chuyện gì vậy?”
Minh Nhi thở dài nói: “Minh Nhi chỉ là lo lắng, lo lắng Tống đế sẽ không chịu buông tha.”
Tiểu Chu hậu ngạc nhiên nói: “Sao lại thế được? Phải biết rằng Đường quốc không những có Trường Giang tam hào yểm hộ, lại còn có mười mấy vạn dũng sĩ Giang Đông muốn đánh là có thể đánh ngay, chúng có thể làm được gì ta chứ? Đường quốc ta đã xưng thần với chúng, Trung Nguyên nhất đế, duy chỉ có hắn Triệu thị mà thôi, bá nghiệp đế vương đã vào tay hắn, hắn còn muốn gì nữa chứ?”
Minh Nhi muốn nói lại thôi, Tiểu Chu hậu thấy vậy liền nói: “Minh Nhi muội muội, chúng ta quen biết nhau tuy thời gian có ngắn nhưng hai bên đều rất tâm đầu ý hợp, ta xem muội như tỷ muội người thân, có lời gì muốn nói muội cứ nói thẳng ra, cho dù có chỗ nào không thỏa đáng thì bổn cung cũng sẽ không trách đâu.” Nói rồi Tiểu Chu hậu xua xua tay, bảo mấy nội thị cung nhân lập tức lui ra khỏi điện.
Minh Nhi này họ Mạc tên Dĩ Minh, Mạc Dĩ Minh Mạc cô nương là cháu gái xa của tiết độ sứ trấn hải Lâm Nhân Triệu, khi mệnh phụ quý nữ nhập cung làm Ngụy hoàng hậu, phu nhân Lâm Nhân Triệu đã đưa nàng ta tới đây. Cô nương này dáng vẻ yêu kiều, ăn nói lễ phép, rất được lòng Tiểu Chu hậu, qua lại nhiều hai người đã trở thành bằng hữu thân thiết trong chốn khuê phòng.
Mạc Dĩ Minh nhìn xung quanh, che mồm nhỏ tiếng nói: “nương nương ở trong thâm cung không biết chuyện trong thiên hạ. Nương nương có biết dã tâm của Triệu Khuông Dận vô cùng lớn, không những chí ở thiên hạ, mà hơn nữa lại là một kẻ vô cùng háo sắc không?”
Tiểu Chu hậu ngạc nhiên nói: “Không phải chứ? Bổn cung nghe nói phi tần của Triệu Khuông Dận rất ít, không phải là kẻ đam mê tửu sắc?”
Nói đến đây, nàng đột nhiên hừ nhẹ một tiếng, có chút không vui nói: “Phi tần của Triệu Khuông Dận so với hoàng đế Đường quốc ta còn ít hơn bảy, tám phần. Nếu hắn đã bị coi là háo sắc thì vị quan gia của chúng ta phải gọi là gì?”
Mạc cô nương bĩu môi ra, khinh thường nói: “Điều đó không có nghĩa là hắn không háo sắc. Chỉ là người này tầm mắt quá cao mà thôi. Người nói xem, nếu hắn không háo sắc tại sao lại có nhiều phi tần để chọn như thế mà lại nạp Hoa Nhị phu nhân Thục quốc nhập cung chứ? Người ta đã có chồng rồi, chồng lại từng là quân vương của một nước, lại đã đầu hàng Tống, là Tống thần. Làm gì có cái đạo lý quân đoạt thần thê chứ, nếu hắn không háo sắc sao có thể bất chấp lễ nghĩa như vậy?”
“Minh Nhi nghe ai nói vậy?”
“Minh Nhi ở trong dân gian, có thể nghe được rất nhiều tin tức mà nương nương không thể nghe thấy. Nghe nói Triệu Khuông Dận đã từng hạ quyết tâm, thứ nhất là bình định Trung Nguyên, có được tứ hải, hai là có thể chiếm được hai đại mĩ nhân trong thiên hạ, như thế sẽ không phụ cuộc đời này.”
Nữ nhân đều có lòng thích cái đẹp. Tiểu Chu hậu luôn tự phụ với sắc đẹp của mình, vừa nghe thấy lời này lập tức nổi sự hiếu kì, hỏi: “Là hai vị mĩ nhân nào cơ?”
Minh Nhi nói: “Một là Hoa Nhị phu nhân của Thục quốc, người kia chính là nương nương người đấy.”
Tiểu Chu hậu nghe xong kinh ngạc nói: “Sao lại có chuyện này được?”
“Ham muốn của nam nhân một là quyền, hai là sắc. Triệu Khuông Dận có dã tâm như vậy có gì là lạ chứ? Năm đó Tào Mạnh Đức nhất thế kiêu hùng không phải cũng đã có một sủng nguyện chính là ‘ta nguyện thứ nhất quét sạch tứ hải, để thành nghiệp đế; thứ hai nguyện đạt được nhị kiều Giang Đông, chết cũng không hối tiếc’ hay sao?”
Tiểu Chu hậu trong lòng rối bời nói: “Tống đế lại là một con người như vậy sao?”
Minh Nhi thở dài nói: “Nếu không phải là như vậy thì tại sao Thục đế Mạnh Thác đang khỏe mạnh như vậy mà vừa đến Khai Phong, nhận gia phong Thái Sư kiên Trung Thư Lệnh Tần quốc công thì chỉ bảy ngày sau đã bị bạo bệnh một cách ly kỳ rồi chết? Tất cả âm mưu chính là vì Hoa Nhị phu nhân. Thục thái hậu rõ ràng biết con trai chết một cách kỳ lạ, nhưng không thể làm gì được. Bà ta vốn là người Bắc Hán, liền thỉnh cầu Triệu Khuông Dận cho trở về cố hương để mong thoát họa.
Một vị phu nhân già yếu còn có thể có uy nghiêm gì nữa, vậy mà Triệu Khuông Dận vẫn không thả bà ta đi, lại còn vờ vịt nói rằng đợi khi hắn diệt Bắc Hán xong sẽ đích thân đưa bà ta về cố hương. Thục thái hậu tự biết khó tránh khỏi kiếp nạn vì vậy mới tuyệt thực mà chết. Nếu không, người nghĩ mà xem, bà ta vốn muốn thỉnh cầu trở về cố hương, sao lại đột nhiên có ý muốn chết? Quan gia nếu như không sớm tính mưu thì… tha cho muội muội có lời bất kính, sợ rằng… sẽ có một ngày quan gia sẽ bước theo gót của Mạnh Thác.”
“Bộp!” Quân cờ rơi xuống bàn cờ, Tiểu Chu hậu mặt biến sắc.
Minh Nhi mỉm cười, không nói nhiều lời nữa. Cơm phải ăn từng miếng một, thuốc phải uống từng ngụm một, đầu tiên là phải làm cho vị Tiểu Chu hậu này tâm trí rối loạn, rồi từ từ thông qua nàng ta để ảnh hưởng đến vị hoàng đế kém cỏi này.