Bộ Bộ Sinh Liên
Quyển 8:Xuất Thái Giang Nam Liên
Chương 346: Gây chuyện thị phi
Vị hoàng đế Đường quốc bình sinh chỉ có bốn cái tốt. Một là mĩ nhân, hai là thơ từ, ba là nịnh phật, bốn là chơi cờ. Đứng đầu chính là nữ sắc. Mĩ nhân trong hậu cung của Lý Dục, tiểu Chu hậu là người được sủng ái nhất. Có lẽ là nếu thông qua sự can ngăn của văn võ bá quan trong triều sẽ không làm được việc gì, còn nếu dùng vị nương tử này, thông qua màn chăn gối của tiểu Chu hậu lại có thể đạt được mục đích của mình.
Minh Nhi không nói nữa, chỉ yên lặng đánh cờ. Khi tiểu Chu hậu từ từ tiêu hóa được cái tin tức đáng sợ này, tiểu Chu hậu liền lẩm bẩm tự nói: “Tin tức này thực sự ta chưa từng nghe thấy. Nếu như Tống đế mong có được bổn cung thì e rằng không ổn rồi. Sứ tiết Tống triều Dương Hạo lại sắp đến rồi, bổn cung sẽ bào người cẩn thận theo dõi hắn, nếu như Tống đế có dã tâm không từ với Đường quốc ta thì tất sẽ có hành động khác thường.”
“Bộp!” Quân cờ trong tay Mạc cô nương liền rơi xuống.
Mạc Dĩ Minh kinh ngạc nói: “Nương nương nói… sứ tiết Tống triều sắp tới sao? Người đó họ tên là gì?”
Tiểu Chu hậu nói: “Người này họ Dương tên Hạo, sao thế, Minh Nhi muội muội đã từng nghe thấy cái tên này ư?”
“Chưa từng nghe thấy.” Mạc cô nương mắt lóe lên, cắn nhẹ môi, trong lòng thầm oán hận: “Sao ta đến đâu thì hắn lại đến đấy vậy, tên khốn này không chịu để cho người ta yên.”
***
Dương Hạo và Từ Huyễn ra khỏi bến thuyền, đi theo sự dẫn dắt của quan viên lễ tân viện Đường quốc lên kiệu đến thành Kim Lăng.
Lý Dục bây giờ xưng thần với Tống, không dám huênh hoang ra vẻ để sứ thần Tống quốc nhìn thấy. Dương Hạo vừa đến thành Kim Lăng liền tiến thẳng đến phía vương cung, đến cổng vương cung Dương Hạo lại do một ti lễ cung đình đích thân dẫn vào trong đại điện, quốc chủ Giang Nam Lý Dục đã đích thân ra nghênh đón. Bây giờ Lý Dục đã bỏ bộ long bào để khoác lên tử y.
Dương Hạo vừa nhìn thấy đại nhân vật có tiếng trong sử sách, không khỏi thấy thất vọng. Sự đẹp đẽ không có từ nào sánh nổi, không có ai bì kịp của Lý Dục trong lòng Dương Hạo cho dù bây giờ tuổi tác có lớn một chút thì tuyệt đối không thể là một công tử nho nhã, ít nhất cũng nên là một đại thúc có diện mạo đẹp đẽ, mặt ngọc mày ngà.
Nhưng con người mặc tử y trước mặt lại quan chẳng ra quan, dân chẳng ra dân, người hơi béo một chút, khuôn mặt tròn và hơi béo, hơn nữa cả mồm đầy răng to, điểm đặc biệt là trong mắt hắn mọc ra hai cái đồng tử mà khi nhìn về phía người đối diện mà lại như đang liếc nhìn chỗ khác, làm cho người ta thấy không được thoải mái.
Con người này trong truyền thuyết là một đấng hoàng đế của thơ ca, chính là người đã viết ra những câu thơ tuyệt thế sao? Cảm giác của hắn giống như vỡ mộng vậy, hoàng đế thơ ca trong lòng hắn hóa ra lại cà một người có dáng vẻ như thế này.
Dương Hạo thầm thở dài. Lý Dục bước lên trước: “Đường quốc chủ Lý Dục xin ra mắt khâm sai thượng quốc, hậu chỉ.”
Khí độ của Lý Dục vẫn rất ung dung bình tĩnh, vừa thấy Dương Hạo đến liền chắp tay thi lễ. Dương Hạo nhớ đến cái phong thái lúc Lục Nhân Gia đến Quảng Nguyên dự tiệc với Trình đại tướng quân, Dương Hạo liền cúi mặt xuống, miệng hơi nhếch lên, mô phỏng lại cái dáng vẻ đáng ghét không coi ai ra gì của Lục Nhân Gia, hắn giơ tay lên nói: “Hóa ra là Giang Nam Đường quốc chủ, xin mời.”
Vừa nói vừa vẫy tay, tuyên phủ phó sứ Tiêu Hải Đào liền chạy tới hai tay dâng lên thánh chỉ, Dương Hạo tuyên đọc thánh chỉ trên kim điện, chính thức gia phong Lý Dục làm Giang Nam quốc chủ, đọc xong một loạt những lời an ủi gia miễn, Lý Dục tạ ân lĩnh chỉ, Dương Hạo lúc này mới bỏ cái thế của sai sứ, làm lễ kiến gặp vương gia.
Dương Hạo hành lễ chính là học cái đức tính của Lục Nhân Gia, chắp tay tùy ý, mắt lại không nhìn vào mắt Lý Dục, thể hiện rất rõ cái ý làm lễ lấy lệ, qua quýt. Thấy trên khuôn mặt của những tùy thị, đại thần Đường quốc có chút phẫn nộ, thái độ của Dương Hạo càng ngông nghênh hơn, ngay cả hồng lư tự tuyên phủ phó sứ Tiêu Hải Đào của Tống quốc cũng đều thấy lo lắng, luôn ra hiệu bằng mắt với hắn, bảo hắn thu bớt lại cái sự hống hách.
Lý Dục phái huynh đệ và Từ Huyễn đến Tống quốc xưng thần, bây giờ hắn đã trở thành Tống thần, Từ Huyễn trở về rồi, nhưng huynh đệ hắn thì lại trở thành con tin của Tống quốc. Hắn đường đường là đế vương của một nước, bây giờ lại chắp tay xưng thần với người ta thì cũng thôi vậy, nhưng giờ lại còn phải nịnh nọt, hạ vế với một tên quan nhỏ ngũ phẩm Tống triều như Dương Hạo, vậy mà trên mặt hắn lại không có chút phẫn nộ nào.
Dương Hạo thấy vậy không khỏi thầm than thở: “Nêu như Lý Dục có nửa phần khí chất, có gan chủ động chiến với Tống triều, cho dù có bị thất bại, bây giờ ngầm chịu đựng thì vẫn được coi là một đấng kiêu hùng. Đáng tiếc con người này lại cam chịu khuất phục, chỉ là loại muốn an phận thủ thường mà thôi. Hắn có thể an nhàn đến khi nào chứ?”
Lý Dục đưa Dương Hạo vào điện ngồi. Sau một hồi nói chuyện, liền sai người bày tiệc trong cung, văn võ bá quan cùng tiếp đón. Chức quan nhỏ bé này của Dương Hạo vốn không xứng để ngồi ngang hàng với Lý Dục, cho dù hắn là sứ thần của thượng quốc, truyền xong ý chỉ cũng không có tư cách nhận lễ của Lý Dục. Bảo hắn vào ngồi cùng chẳng qua là lời khách sáo, không ngờ Dương Hạo lại không hề có một chút khiêm nhường nào, liền thoải mái bước vào chỗ ngồi ngang hàng với quốc chủ một nước.
Có một số đại thần Đường quốc tức đến cắn chặt răng, dường như sắp đứng dậy chiến đấu ngay tại chỗ, nhưng họ đều bị ánh mắt ra hiệu đầy nghiêm khắc của Lý Dục ngăn lại. Vì thế, trong tiếng nhạc hân hoan của bữa tiệc lại ngầm ẩn chứa một luồng phẫn nộ cực lớn, không khí trở nên có chút kì dị, nhưng Dương Hạo lại làm như hoàn toàn không cảm thấy.
Rượu đã qua tam tuần, Lý Dục liền thử dò xét, nói: “Dương tả sứ hôm nay nhận mệnh thánh thượng đến Đường quốc ta, thuyền xe mệt nhọc, cả đường vất vả, hôm nay ta bày yến tiệc này để tẩy phong trần, bày tỏ sự thăm hỏi tới ngài. Đường quốc ta tuy không thể thịnh vượng bằng Đại Tống, nhưng Giang Nam vẫn có cảnh đẹp của Giang Nam. Dương tả sứ khó lắm mới có được một chuyến đến đây, mời ngài ở lại mấy hôm để ta có thể tận nghĩa chủ nhà.”
Dương Hạo cười mà như không cười, nói: “Ha ha ha, quốc chủ khách khí rồi. Hạ quan phụng mệnh của thánh thượng tuyên phủ Giang Nam, tuyên phủ thôi mà, chung quy tuyên ý chỉ cho quốc chủ là được rồi, còn dân quân Giang Nam đương nhiên cũng cần phải an ủi, địa lý Đường quốc cũng phải đi một lượt để xem, phong tục dân gian cũng cần hiểu một chút. Trở về mà quan gia hỏi ở Đường quốc biết được những gì mà hạ quan lại không đáp được, há chẳng phải làm quan gia không vui hay sao?”
Lý Dục nghe xong trong lòng thầm nghĩ: “Đúng là không ngoài dự liệu, hắn sẽ không cam tâm rời khỏi đây. Bây giờ ta đã xưng thần với Tống quốc, tên Dương Hạo chắc chắn sẽ mượn thế của Tống để ức hiếp làm nhục ta, làm tăng uy thế của Tống quốc. Hắn vừa tới đây mà đã kiêu ngạo như vậy, không biết nếu hắn ở lại thêm mấy ngày nữa thì sẽ gây ra thêm chuyện gì đây. Phải làm thế nào để cho hắn sớm rời khỏi bây giờ?”
Màn múa đã kết thúc, tám mĩ nữ mặc y phục màu phỉ thúy thi lễ chào rồi từ từ lui ra ngoài. Chiếc màn trước cung điện buông xuống, đột nhiên một đài hoa sen bằng vàng ngọc nhẹ nhàng trượt vào, đài sen đó xoay chuyển nhẹ, ánh sáng kì ảo của nó làm cho người ta cảm thấy lóa mắt, ngay cả Dương Hạo, kẻ đang nghênh ngang kiêu ngạo cũng không khỏi phải thu lại cái vẻ ngông cuồng, nhìn chăm chú về phía trước.
Đài hoa sen đó dừng lại ở giữa điện, giữa đài sen mọc ra một đóa hoa sen tuyệt đẹp, từng cánh hoa nở ra, nhìn như một đóa hoa thật, tiếp theo đó là có một làn hương thơm ngát từ trong đóa sen đó tỏa ra. Dương Hạo không hề ngờ rằng ca vũ trong cung đình Đường quốc lại có một thiết kế tinh xảo như thế này, so với thiết kế vũ đài trong Thiên Kim Nhất Tiếu Lâu cũng có phần nhỉnh hơn.
Vì đài hoa sen này đều là dùng vàng để tạo thành, cho nên so với thiết kế vũ đài của Thiên Kim Nhất Tiếu Lâu có hiệu quả làm cho người ta chú ý hơn. Nhưng thiết kế vũ đài trong Thiên Kim Nhất Tiếu Lâu lại là thứ mà người ở thời đại này không thể tưởng tượng ra được. Đài hoa sen mà có chứa người bên trong này đã dùng kĩ thuật trượt để mở ra, hơn nữa bên trong còn ngầm đặt vào một loại hương thơm đặc biệt, để tăng thêm tính thực của nó. Đây là thủ bút của ai vậy, sao lại có được tế bào nghệ thuật, tâm tư lãng mạn như vậy?
Dương Hạo không khỏi tán thưởng nói: “Đài hoa sen này là do ai nghĩ ra vậy, thật là quá tuyệt mĩ.”
Lý Dục không khỏi lộ ra vẻ đắc ý, cười nói: “Đài hoa này là do ta và vương hậu kết hợp nghĩ ra, thật là đã lọt vào mắt thần của Dương tả sứ.”
“Tuyệt, quá tuyệt.”
Lý Dục mỉm cười: “Dương tả sứ có thể tiếp tục xem xem, bên trong đài hoa kì diệu này vẫn còn có một diệu nhân nữa.”
“Sao cơ? Vậy ta phải đợi để tận mắt xem mới được.”
Sau đó tiếng sáo trúc vang lên, cánh hoa mở dần ra, khi hương thơm bay khắp đại điện thì một mĩ nhân ẩn giữa đóa hoa nhẹ nhàng uyển chuyển đứng dậy. Dương Hạo không khỏi kinh ngạc kêu lên. Một đóa hoa nhỏ như vậy, bên trong nếu mà giấu một đứa bé bốn năm tuổi thì còn dễ dàng, nhưng đây rõ ràng lại là một nữ tử xinh đẹp mười bảy mười tám tuổi, quả thật là kì diệu.
Từ sau cái lần đến Quảng Nguyên gặp nữ thích khách giả mạo lên đài hiến nghệ, tận mắt thấy một người xương mềm một cách kì diệu, thì đây là lần đầu tiên Dương Hạo thấy một nữ tử có thể luyện được nhuyễn cốt công đến mức này.
Nàng ca kĩ đó mặc một bộ y phục màu hồng, cơ thể mềm mại yểu điệu, nàng đứng trên đài sen cong lưng uốn lượn. Lúc này Dương Hạo mới phát hiện ra chân nàng chỉ đi một đôi tất làm nổi rõ đôi chân thon thả của nàng, tà váy bay bay, cơ thể cũng chuyển động theo, như thể đang lướt trên mặt nước vậy.
Ánh mắt của Dương Hạo rất nhanh đã tập trung lên đôi chân của mĩ nữ đang múa đó, đôt tất đó không phải là một đôt tất vải bình thường, mà là đôi tất tầng màu trắng, làm cho đôi bàn chân của nàng bó lại, giúp cho nàng khi múa động tác xoay chuyển có thể dùng đầu mũi chân mà đỡ được cả cơ thể. Xem ra đôi tất này cũng có tác dụng như giày múa ba lê.
Cái đẹp của mĩ nhân thường được người ta chú ý đến bởi bộ ngực đầy đặn, cổ tay thon nhỏ, eo nhỏ nhắn, màu da, ngũ quan, nhưng vẻ đẹp ở đôi chân lại khó làm người ta chú ý đến nhất, chỉ có một người đầy linh tính và cảm tính mới có thể cảm nhận được một mùi vị kiều diễm từ đôi chân ngọc nhẹ nhàng đó.
Dương Hạo không phải là người mắc bệnh yêu chân, lúc này cũng không phải đã nhìn ra nước da của đôi chân đẹp đó có phải là mượt mà óng ả hay không, nhưng đôi mắt vẫn không ngừng nhìn vào đôi chân ấy, trong lòng có cảm giác như đôi chân của Lăng Ba tiên tử, một cảm giác phong trần. Ngôn ngữ cơ thể của mĩ nhân nếu có thể biểu đạt được tốt thì tuyệt đói sẽ làm cho nam nhân động lòng hơn là ngũ quan tuyệt mĩ của nàng ta. Dương Hạo trước đây chưa từng nhìn thấy, hắn tin rằng sau này cũng sẽ không thể lại nhìn thấy được một đôi chân tuyệt đẹp mà lại có kĩ nghệ như vậy.
“Quốc chủ, vị vũ kĩ của cung đình quý quốc quả thật là kĩ nghệ cao cường.” Dương Hạo thầm tán thưởng một hồi lâu, rồi không khỏi thở dài mà khen một câu, đôi mắt vẫn không ngừng nhìn theo sự chuyển động của đôi chân ấy.
Lý Dục cười tự đắc nói: “Đây là vũ kĩ quan nương trong cung của ta, vũ kĩ tuyệt diệu, là đệ nhất hậu cung.”
“Quan nương?” Trong lòng Dương Hạo động: “Quan nương? Trong các mĩ nữ có tiếng được ghi lại vào sử sách, ngoài tiểu Chu hậu ra thì còn nhắc tới quan nương, hóa ra người đó chính là người đang đứng trước mặt mình. Nghe nói quan nương thích đôi chân nhỏ, nên thường mang đôi tất bó giống như giày ba lê này, mục đích là để cho đôi chân càng đẹp hơn, có thể đứng lên bằng mũi chân, bảo sao hậu nhân của họ vẫn cứ thích bó chân một cách kì quặc đến tận hai triều Minh Thanh.”
Lý Dục thấy Dương Hạo ngẩn ra, hai mắt xuất thần, trong lòng không khỏi giật mình: “Lẽ nào vị sứ thần Đại Tống này đã mê mẩn quan nương rồi? Nếu như hắn cố chấp không đi khỏi Đường quốc ta, ép ta vào thế khó xử, phải chăng ta nên để quan nương…”
Quan nương là vũ kĩ ở trong cung Đường, những vũ kĩ này nếu như hoàng đế có hứng thú với au thì đều có thể triệu họ đến hầu hạ, nhưng họ lại không được coi như là phi tần trong hậu cung, không có thân phận gì, tùy ý có thể điều ra khỏi cung. Nếu như dùng một vũ kĩ là có thể đối lấy được thái bình thì cũng đáng.
Lý Dục trong lòng ngầm có ý như vậy, nhưng khi ngẩng đầu lên nhìn thấy mĩ nhân kiêu sa, nhảy múa điêu luyện lại cảm thấy tiếc không nỡ.
***
“Dương tả sứ, trong dịch quán đã sắp xếp ổn thỏa nơi ở của ngài rồi, hạ quan sẽ đưa Dương tả sứ về đó nghỉ, có được không?”
Cung yến đã tan, mọi người ra khỏi hoàng cung, một viên quan của Đường quốc chạy tới trước mặt Dương Hạo kính lễ nói.
Vị quan viên với vẻ mặt đầy nịnh nọt này vẫn còn khá trẻ, khoảng hai lăm, hai sáu tuổi, dung mạo rất thanh tú. Vị quan này tên là Dạ Vũ, họ của hắn khá là hiếm gặp. Hắn vốn là đại hồng lư của Đường quốc, nhưng bây giờ Đường triều đã cải chế, từ hoàng đế xuống, tất cả đều hạ cấp theo quy cách, vị Dạ đại hồng lư này cũng bị cách xuống làm lễ tân viện trưởng.
Vị Dạ đại nhân này là một quan viên xuất thân chính kinh, hắn vốn là một vị tú tài thi rớt, vì gia đình bần hàn không có lộ phí lên đường đi thi, tạm thời xin sống ở trong chùa, giúp hòa thượng chép kinh để kiếm mấy bữa cơm. Hoàng đế Đường quốc sùng phật đạo, mấy trăm nghìn tự viện đều đương hương khói cường thịnh, đám hòa thượng người nào người nấy đều béo tròn, có quyền tiền bạc, nên thuê vị tú tài này vể làm kẻ chép kinh.
Vị Dạ đại nhân này có giọng ca hay, ngày ngày ở trong chùa chép kinh, nghe thấy đám hòa thượng xướng kinh, tai nghe nhiều thành nhiễm, rồi học được. Rồi đột nhiên một ngày, sau khi hắn chép kinh xong liền đến trước viện, khoa chân múa tay, tùy ý xướng lên một khúc kinh. Tuy không có tiếng gõ mõ, nhưng phật âm lại vang lên thanh thoát nghiêm trang, đúng lúc Lý Dục đến lễ phật nghe thấy được.
Lý Dục giỏi thơ ca, giỏi múa hát, lại giỏi phật học, liền cùng với hắn đàm đạo một hồ. Dạ đại nhân đương nhiên là đối đáp trọn vẹn, vì hắn đã chép không biết bao nhiêu kinh phật. Lý Dục vô cùng vui mừng, biết rằng bụi che ngọc sáng, liền lập tức ban cho hắn một chức quan, cho nhập triều để lo lễ phật mỗi lần xuất cung. Cứ như vậy mà hắn dần dần thăng cao hơn, chưa đầy hai năm mà hắn đã lên được cái vị trí cao ngất ngưởng hồng lư tự này.
Dạ hồng lư nhận được chỉ mệnh của Lý Dục, phải hết sức tiếp đón vị sứ thần Đại Tống này, tránh để hắn gây chuyện thị phi ở Kim Lăng, nhưng hắn có yêu cầu gì thì cố gắng đáp ứng hết. Dạ Vũ vốn chỉ có dựa vào việc nịnh bợ Lý Dục mà thăng quan, chứ thực ra hắn không có mấy tài cán thực sự. Bây giờ tỏ thái độ như vậy cũng là chuyên môn chính của hắn, đương nhiên hắn có thể thoải mái mà làm.
Dương Hạo mỉm cười nói: “Bổn quan vẫn chưa thấy mệt, lần đầu đến Kim Lăng, chưa từng được biết đến sự phồn hoa của nơi này, nên ta muốn đi dạo quanh phố phường một chút.”
Dạ Vũ có chút khó xử nói: “Việc này… những nghi trượng của khâm sứ đều phải dẫn theo sao?”
Dương Hạo lúc này mới chợt nhớ ra, hắn bật cười nói: “Nói cũng đúng, vậy về dịch quán trước đã, uống miếng trà cho mát họng rồi sẽ ra phố dạo.”
Sau đó hắn liền vẫy vẫy tay về đội nghi trượng. Mọi người cùng về dịch quán, Dương Hạo đến phòng của mình, cởi bỏ áo quan, mặc vào y phục nhẹ nhàng thoải mái, thường ngày. Đang sắp xếp đồ đạc của mình thì hồng lư tự thừa Tiêu Hải Đào liền vội vàng chạy tới, lo lắng nói: “Đại nhân, hôm nay trên triều đình Đường quốc, đại nhân làm như vậy với Giang Nam quốc chủ quá thất kính rồi, phô trương như vậy e rằng sẽ gây bất lợi đối với sứ mệnh lần này của chúng ta.”
Dương Hạo cười nói: “Tiêu thừa tự nghĩ nhiều rồi, chúng ta lần này đến Đường quốc, cho dù có cẩn thận như thế nào đi chăng nữa, thì ngài nói xem liệu họ sẽ không nảy sinh sự đề phòng với chúng ta sao? Bất kính với Lý Dục, nếu hắn dám động thủ cũng không sao, nhưng nếu hắn đã nhẫn nhịn như vậy thì việc ta làm đã có hiệu quả đánh phủ đầu. Giang Nam quốc chủ còn phải nhẫn nhịn với chúng ta, vậy người bên cạnh sao dám gây khó dễ với chúng ta chứ. Chúng ta muốn du tẩu tứ phương, thăm dò địa hình, làm tình báo há chẳng phải dễ dàng hơn sao?”
Tiêu Hải Đào chớp chớp mắt nói: “Những lời đại nhân nói, hình như… cũng có chút lý.”
Dương Hạo vỗ vai hắn, nói: “Không phải có chút lý mà là rất có lý. Chúng ta còn có một sứ mệnh, chính là ly gián quân thần họ, gây bất hòa giữa văn võ. Ngài nghĩ xem, chúng ta hừng hực khí thế tới, Lý Dục lại nhẫn nhịn nhún nhường, một hoàng đế chỉ biết nhún nhường thì trong mắt các thần tử của hắn sẽ có cảm giác gì chứ? Quốc chủ không thể dựa vào được, vậy thì đám thần tử đó sẽ dần có ý định tìm con đường khác, kẻ có lòng trung thành tận tâm cũng sẽ nản lòng, sĩ khí suy giảm. Dương mỗ chỉ cần một hành động đã có thể tiến tới gần mục đích, sao lại không làm chứ?”
Tiêu Hải Đào vuốt chòm râu cân nhắc một hồi, đột nhiên tán thưởng: “Kế này của Dương tả sứ quả thật là tuyệt diệu, hạ quan hồ đồ rồi.”
Dương Hạo cười ha ha nói: “Bây giờ hiểu rõ cũng chưa muộn, cả chặng đường ngài phải chạy ngược chạy xuôi, cũng mệt rồi, đi nghỉ ngơi chút đi, bổn quan ra phố dạo chút.”
Tiêu Hải Đào vội nói: “Đại nhân mới tới Kim Lăng, đây là lúc mà vạn người trông theo, lại còn có Dạ đại nhân Đường quốc đi cùng, sợ là khó có thể thu thập được tin tức tình báo gì có tác dụng.”
Dương Hạo thở dài, buông hai cánh tay xuống nói: “Tiêu đại nhân này, ngài xem, ta là khâm sứ Tống quốc, cho dù ta có không phô trương thì sao lại có thể không gây sự chú ý chứ? Những việc thăm dò quân tình, vẽ địa đồ đương nhiên là phải do ngài đem người đi làm rồi.
Còn bổn quan bây giờ chính là một ngọn đuốc, ta tự thiêu chính mình, để sự chú ý của tất cả mọi người hướng vào người ta, tiện cho ngài hành sự, đây chính là sứ mệnh của ta. Ngài hiểu không?”
“Hiểu rồi.” Tiêu Hải Đào vui vẻ gật đầu: “Đại nhân thật là giỏi.”
Dương Hạo chớp chớp mắt cười với hắn: “Giỏi chỗ nào?”
“Chỗ nào cũng giỏi.”
“Ha ha ha.” Dương Hạo cười lớn vang cả ra ngoài, Dạ Vũ vừa từ ngoài cửa đã nghe thấy tiếng, hắn làm vẻ mặt tươi cười bước tới nói: “Dương tả sứ thật là cao hứng, có chuyện gì mà vui vẻ thế?”
Dương Hạo cười liếc mắt nhìn hắn, nói: “Đại nhân cả người quan phục, bây giờ ra đường không tiện. Ý, Tiêu đại nhân, hai người dáng người tương đương nhau, mượn tạm một bộ thế nào?”
Dương Hạo và Dạ Vũ mặc hai bộ thường phục bước ra ngoài phố, ngay cả một kẻ hầu cũng không mang theo, càng không nói tới thị vệ. Dương Hạo làm như vậy là để hình thành một thói quen, nếu không cái đám thị vệ trước gọi sau hô, lúc nào cũng đi bên cạnh, nếu đột nhiên có một ngày hắn không mang theo thị vệ bên mình mà đột nhiên là “chết”, thì sẽ không tránh khỏi người ta nghi ngờ.
Dạ Vũ thật không biết vị Dương đại nhân này có chỗ nào mà cao hứng đến thế, lại vui vẻ đi dạo, hắn đành phải cố gắng mà đi hầu cùng. Dương Hạo du tẩu đến con phố lớn, một là muốn đến xem đường phố, tìm cớ để đắc tội với người ta, tốt nhất là đắc tội với võ tướng của Nam Đường, như vậy mình đột nhiên “chết” mới có lý do chính đáng, không làm cho đối phương và Triệu Khuông Dận nghi ngờ mình giả chết. Hai là muốn quen với hình thế của Kim Lăng, tìm một nơi để mình “chết”, đồng thời để cho người ta nghĩ rằng mình có thói quen đi dạo phố.
Cứ như vậy, hắn từ từ bước đi, dạo đông dạo tây, đến tận gần trưa mới tới được Kê Lung, nơi phồn hoa náo nhiệt nhất Nam Đường. Phố Kê Lung rất phồn thịnh, nhà nhà đều là cửa tiệm, đủ các loại hàng hóa ngành nghề buôn bán: tiệm gạo, tiệm tơ lụa, tiệm gốm sứ, tiệm dược…
Dương Hạo nhìn đông ngó tây, giống như một con rắn không đầu chạy loạn xạ vậy, làm cho Dạ Vũ Dạ đại nhân chạy theo sau mệt đến mềm nhũn cả chân, khổ không nói lên lời. Mắt thấy Dương Hạo chạy khắp nơi nhìn ngó, giống như đang tìm vật gì vậy, Dạ Vũ đột nhiên chột dạ, hỏi dò: “Dương tả sứ, trời đã vào chính ngọ, ngài xem chúng ta có nên tìm một quán rượu nào đó, gọi mấy món ăn ngon, rồi tìm mấy ca kĩ vũ nữ tiếp rượu cho vui không?”
Dương Hạo vốn không có ý này, nhưng vừa nghe thấy hắn nói vậy liền kêu hay. Dạ Vũ thầm bĩu môi khinh thường: “Chẳng trách hắn ngay cả một thị vệ cũng không muốn mang theo, hóa ra là muốn thưởng thức mùi vị dịu dàng của mĩ nữ Giang Nam ta. Ngươi cứ nói sớm đi chứ, hại ta phải chạy theo ngươi đến mềm nhũn cả chân. Có đều vị sứ thần này cũng quá nóng vội cơ.”
Dạ hồng lư lấy lại tinh thần, đang muốn đưa Dương Hạo đến một thanh lâu mà mình quen thuộc, thì phía trước có mười mấy vị hộ binh đột nhiên vây quanh một vị tướng quân anh tuấn trẻ tuổi, chạy bước lớn tới, bước chân đột nhiên tăng tốc. “Bên trong, xông vào đó.”
Chương 347: Ta vô địch rồi
Vị tướng quân trẻ tuổi kia bước bước lớn rất nhanh, người bên cạnh nhìn thấy đều tự động nhường đường cho hắn, nhưng ai mà ngờ được Dương Hạo lại đột nhiên xông lên. Vị tướng quân đó không kịp tránh bước, va mạnh vào người hắn, lập tức hắn trừng mắt lên, nhưng chưa kịp làm gì thì Dương Hạo đã tức giận nói: “Khốn kiếp, đi đường mà không mở to mắt ra nhìn à?”
Vị tướng quân đó ngẩn ra, không kịp tức giận, một lúc liền cười nói: “Thật là hung hăng càn quấy, ngươi không biết bổn tướng quân là ai sao?”
Trong lúc hai người đang đối đáp nhau thì đám thủ hạ của vị tướng quân đó đã bao vây xung quanh, với cái dáng vẻ hùng hồn ấy, có lẽ chỉ cần vị tướng quân đó hạ lệnh một tiếng thì sẽ lập tức động thủ.
Dương Hạo trong lòng thầm vui mừng. Bây giờ giữa đường gây sự, kết oán với tướng lĩnh Đường quốc, mọi ánh mắt đều nhìn vào, đây đúng là một lý do tốt để “tìm cái chết”. Mặt hắn càng tỏ ra ngông nghênh hơn, cười nói: “Ta thấy ngươi có vẻ giống một tên sở khanh mặt mũi trắng trẻo, giống như một con thỏ trong chỗ đám nữ nhân, không ngờ lại là một vị tướng quân. Thất kính, thất kính, ta cũng đã quên mất người phía nam yếu đuối, hóa ra đường đường là đại tướng thống binh cũng có dáng vẻ như vậy, ha ha…
Vị tướng quân đó lướt mắt qua, trong ánh mắt đầy sự phẫn nộ, không đợi hắn ra lệnh, thủ hạ võ sĩ đã rút binh khí ra, một tên trong số đó liền quát lớn lên: “Sao lại có một tên cuồng nhân như thế chứ, dám bất kính với tướng quân chúng ta như vậy. Người đâu, đánh cho hắn sống dở chết dở rồi tống vào đại lao.”
Dân chúng xung quanh vừa thấy sắp động vũ lực liền lập tức tránh đi, Dương Hạo thầm nghĩ: “Đến đúng lúc lắm, chỉ dựa vào mấy con tép này thì sao có thể làm ta bị thương chứ, cứ đánh với chúng một trận, đợi khi nào thân phận sáng tỏ, cái tên tướng quân đó biết ta là sứ tiết Tống quốc, thì có giận nữa cũng không dám hành hung người giữa đường nữa. Ha ha, cái dây này coi như đã kết xong rồi.”
Dương Hạo dậm chân đứng thế bất đinh bất bát, hai tay dang ra, khinh thường nói: “Thế nào, muốn động thủ sao? Đến đây, đến đây, ta cho ngươi biết sự lợi hại của ta.”
Lúc này Dạ Vũ hốt hoảng xông tới, nói: “Dương tả sứ bớt giận, Hoàng Phủ tướng quân bớt giận. Mọi người đều là… đều là thần tử của một triều. Đừng làm tổn thương hòa khí.”
Vị Hoàng Phủ tướng quân liếc mắt nhìn Dạ đại nhân, lạnh lùng nói: “Đại hồng lư, kẻ này là ai?”
Dạ Vũ toát cả mồ hôi, nói: “Vị này là Dương Hạo Dương đại nhân, sứ thần Tống quốc. Dương đại nhân, vị này là thần vệ thống quân đo chỉ huy sứ của Đường quốc Hoàng Phủ Kế Huân đại nhân. Không đánh không quen biết, hai vị đại nhân chỉ là ngẫu nhiên va phải nhau thôi, đừng động thủ làm thương hòa khí.”
Dương Hạo thật không thể nhớ ra Nam Đường lại có một vị tướng quân Hoàng Phủ gì đó, cái họ kép này hắn biết được cũng chỉ là do đọc các truyện võ hiệp, cái gì mà Nam Cung, Đông Phương, Tây Phương, Bắc Cung, Đệ Ngũ, Hách Liên, Lệnh Cô… những người mà có cái họ kép như thế đều có cơ hội rất lớn trở thành võ lâm thế gia. Hắn nghĩ một lúc rồi trợn mắt lên, cười lạnh nói: “Cái gì mà Hoàng Phủ Bạch Phủ chứ, bổn quan chưa từng nghe thấy. Người này là địa tướng quân của Đường quốc các vị ư? Nhìn không có giống mà, nếu như đổi lại mặc một bộ y phục nữ nhân thì có lẽ lại giống một ngụy nương tuyệt sắc ý chứ.”
Đám quân sĩ không hiểu ngụy nương là thứ gì, nhưng Dương Hạo lại đem tướng quân của họ so sánh với nam xướng ở trong chỗ các cô nương, giờ lại nói thay vào bộ y phục nữ nhân, đoán cũng biết không phải là lời hay ho gì. Những binh sĩ vốn đã rất căm thù, phản cảm với cái sự huênh hoang của người Tống, giờ lại nghe thấy vậy lập tức nổi giận đùng đùng, tiếng binh khí soạt soạt vang lên, xông về phía Dương Hạo.
Dạ Vũ càng hoảng sợ, định xông tới cản, không ngờ Hoàng Phủ Kế Huân động tác còn nhanh hơn hắn, một bước đã nhảy phắt lên phía trước mặt Dương Hạo. Dương Hạo chuẩn bị tư thế sẵn sàng chờ hắn xuất chiêu để nghênh chiến, thì lại nhìn thấy Hoàng Phủ Kế Huân mặt mày tươi cười, chắp quyền nói: “Hóa ra là sứ thần Tống quốc, Dương Hạo Dương đại nhân. Ngưỡng mộ, ngưỡng mộ đã lâu, hôm nay được gặp mặt quả thật có phúc ba đời.”
Dương Hạo ngẩn ra, con người này thật biết kiềm chế, nếu như với tình hình này mà còn động thủ thì cái thái độ cố tình gây sự cũng sẽ bị thể hiện quá rõ ràng. Trong lúc hắn đang ngẩn ra thì Hoàng Phủ Kế Huân đã quay lại lớn tiếng quát: “Tất cả bỏ kiếm xuống, sao lại dám vô lễ với sứ thần thượng quốc như vậy?”
Hoàng Phủ Kế Huân vừa dứt lời liền quay đầu lại, mặt mày rạng rỡ nói: “Kế Huân sớm biết người bắc to lớn phóng khoáng, anh võ. Nhưng lại không ngờ ngay cả Dương sứ giả là một bậc văn nhân mà tính cũng nóng như lửa vậy. Hôm nay đúng là không đánh không quen biết.”
Dạ Vũ thấy vậy vô cùng mừng rỡ, vội vàng chạy lên trước nói: “Đúng vậy, đúng vậy. Hai vị đại nhân hôm nay gặp được nhau cũng là có duyên phận. Dương tả sứ, vị Hoàng Phủ Kế Huân tướng quân này là thần vệ thống quân đô chỉ huy sứ của Đường quốc ta, phụ trách bảo vệ Kim Lăng, dẫn đầu bốn vạn tinh binh, là tướng lĩnh được quốc chủ tin cậy nhất. Giờ khó có cơ hội được gặp mặt như thế này, chi bằng để hạ quan làm chủ, ba người chúng ta tìm một chỗ nào đó uống mấy chén rượu, nói chuyện một chút.”
Dương Hạo trong lòng cảm thấy rất buồn bực, muốn kết thù một cái mà cũng khó vậy sao? Nhưng hắn chạy đến Giang Nam không thể để chuyện cố tình gây thù chuốc oán quá lộ liễu, hơn nữa Oa Oa và Diễm Diễm còn chưa tới, việc này cũng không gấp. Đành phải đổi thái độ, tuy vẫn kiêu ngạo nhưng ngữ khí đã mềm mỏng hơn nhiều: “Như vậy mới đúng chứ. Hoàng Phủ tướng quân tuy là võ tướng, thủ hạ lại có nhiều binh khí, nhưng nếu muốn vô lễ với bổn quan thì đó sẽ là bất kính với Tống quốc. Dương Hạo tuy không có vật gì phòng thân nhưng cũng sẽ không làm yếu đi uy phong của Tống quốc đâu, cùng lắm thì đánh một trận sống mái với Hoàng Phủ tướng quân.”
“Không đánh được, không đánh được.” Hoàng Phủ Kế Huân mặt mày tươi cười, liên tục xua tay. Đối với những lời bất kính của Dương Hạo dường như không có một chút nào để bụng: “Nam nhi Giang Bắc phóng khoáng, kiêu dũng thiện chiến, đều có võ nghệ cao cường, người Nam chúng ta quả thực không bằng được. Đại quân Tống quốc nếu như nam phạt thì sẽ như núi Thái Sơn đè lên quả trứng vậy, Đường quốc ta chưa đến ba ngày sẽ bị vong quốc. Bây giờ quốc chủ ta đã xưng thần với Tống, lưỡng quốc hữu hảo, chính là thuận theo ý trời. Bổn tướng quân đối với sứ giả thượng quốc luôn có kính sợ từ trong lòng, tuyệt đối không dám bất kính.”
Hoàng Phủ Kế Huân đường hoàng công khai thừa nhận vũ lực của Đường quốc không bằng Tống quốc, hơn nữa lại còn nịnh nọt đến tận mức này, làm cho đám sĩ tốt bên cạnh cũng phải quay sang nhìn nhau vừa giận vừa xấu hổ. Hoàng Phủ Kế Huân lại coi như là không có gì, bước tới nắm lấy cánh tay Dương Hạo, cười nói: “Bổn tướng có chức trách ở đây nên không thể đến nghênh đón sứ thần, hôm nay gặp ở đây quả thật là có duyên phận. Nào nào, chúng ta tìm một chỗ tốt rồi uống mấy chén rượu. Đây là lòng mong mỏi của ta, Dương tả sứ nhất định phải vui lòng đồng ý, chớ chối từ.”
Dương Hạo không ngờ tên tướng quân huyết khí sùng sục, khí khái bất phàm này lại chính là một đối thủ khó đấu, muốn gây hấn đánh nhau với hắn cuối cùng kết cục lại là như thế này, bị hắn nắm lấy cánh tay mà kéo đi, ân cần bắt chuyện, thật đúng là dở khóc dở cười.
“Việc này… bổn quan lúc nãy đúng là có chút vô lễ, Hoàng Phủ tướng quân đừng có giận nhé.”
Hoàng Phủ Kế Huân cười nói: “Bắc quốc khí thế ngang tàng, đại nhân nóng nảy như thế cũng là bình thường, không có gì vô lễ cả. Bổn tướng quân luôn cho rằng người bắc mạnh mẽ, không có đối thủ. Đường quốc ta nếu như lấy trứng chọi đá thì không tới ba ngày tất sẽ bị diệt vong, giờ thuận theo ý trời mà xưng thần với Tống, bổn tướng quân và đại nhân cũng coi như là đồng liêu cùng một điện rồi. Có chút va chạm gì mà tức giận chứ. Nào nào, chúng ta cùng đi uống rượu.”
“Trời ơi, cái tên Hoàng Phủ này đúng là một trăm cân mỳ nấu được một chút điểm tâm, hắn đúng là đồ bỏ đi. Lý Dục mắt mũi thế nào mà lại để cho một kẻ như thế này làm đại tướng thống lĩnh đại binh vậy. Động một cái là lại nói chưa tới ba ngày sẽ diệt vong, quả thật đúng là một Uông Tinh Vệ (một kẻ hán gian nổi tiếng của Trung Quốc trong thời kháng chiến chống Nhật) của Đường quốc.
Dương Hạo khóc dở mếu dở, đành phải để cho hắn kéo đến một tửu lầu…
Hoàng Phủ Kế Huân luyện võ từ nhỏ, binh thư thao lược, quả thật là võ tướng xuất thân thế gia. Cha của hắn là Hoàng Phủ Huy là một người rất kiêu dũng, lúc trước từng làm thần vệ quân đô ngu hầu, Giang Nam tiết độ sứ. Khi Sài Vinh, chỉ huy sứ của Chu quốc tấn công Nam Đường, Hoàng Phủ Huy là ứng viện sứ hành doanh phía bắc Đường quốc, dụng binh lão luyện, tiến thoái đều có tính toán kĩ lưỡng, Chu binh rất kiêng kị hắn.
Ở trận chiến Đồ Châu thành, Hoàng Phủ Huy nổi dậy sát khí, xông xuống thành đánh nhau với đại tướng công thành Triệu Khuông Dận. Đây cũng là kẻ địch hiếm có xưa nay mà Sài Vinh Chu quốc và Triệu Khuông Dận Tống quốc bây giờ đều rất khâm phục. Sau này qua các trận đánh, Hoàng Phủ Huy bị Sài Vinh bắt được. Sài Vinh rất khoan dung đối với hắn, có lòng thu nạp, nhưng Hoàng Phủ Huy không chịu bị chi phối, người bị trọng thương không chịu chữa trị, vài ngày sau vết thương nặng hơn mà chết.
Hoàng Phủ Kế Huân là trung thần chi hậu, cho nên Lý Dục rất tin tưởng hắn, không ngừng thăng quan cho hắn, đến bây giờ hắn đã làm phòng ngự Kim Lăng. Chỉ đáng tiếc, hổ phụ sinh khuyển từ. Hoàng Phủ Kế Huân không những không có dũng khí như cha hắn, mà ngay cả lòng trung hiếu cũng không có, hoàn toàn phục tùng Tống quốc mà không có chút ý chí chiến đấu nào.
Theo như hắn thấy thì người bắc thiện võ hơn người nam, nam bắc giao tranh thì nhất định bắc sẽ thắng mà nam sẽ bại. Đây là quy luật vĩnh viễn không thể thay đổi được, cho nên xưng thần với Tống là con đường tốt nhất dành cho Đường quốc. Cho nên Dương Hạo tuy có kiêu ngạo bất kính, Hoàng Phủ Kế Huân không những không giận mà còn tươi cười nịnh nọt, hình như hắn còn muốn lấy dẫn chứng cho luận điệu của hắn cho nên đã nói thêm: “Một quan văn thư sinh mà đã như vậy, thì sự hung tàn của người bắc chỉ nghĩ thôi đã có thể hiểu được. Không thể địch nổi, không thể địch nổi.”
Trên Phiêu Hương lầu, một khúc tỳ bà mượt mà như nước chảy vang lên, tinh tinh tang tang, cao thấp trầm bổng, nhưng vị văn bào sĩ tử ngồi trên chỗ cao đó lại mặt mày nhăn nhó, hoàn toàn không có chút vui vẻ nào, nghe nhạc rồi uống liên tiếp ba chén rượu.
Người này khoảng trên dưới ngũ tuần, dung mạo thanh thoát, nhìn trông phong nhã bất tục, chỉ là mặt mày nhăn nhó buồn phiền, cũng không biết là có chuyện gì không vui. Một thiếu nữ trẻ tuổi xinh đẹp đang gảy đàn liền dừng lại, đưa đàn cho thị nữ ở bên cạnh, nhẹ nhàng đi tới bên cạnh hắn, ngồi xuống đưa tay ra rót rượu cho hắn, dịu dàng nói: “Khu mật đại nhân bình thường thích nhất nghe nô gia gảy đàn, hôm nay sao lại mặt mũi ủ rũ vậy, có phải khúc nhạc này của nô gia không hợp với ý đại nhân không?”
Vị khu mật đại nhân thở dài một hơi, lẩm bẩm tự nói: “Khúc nhạc của nàng vẫn tuyệt diệu như lúc trước, nhưng vận khí Đường quốc ta không còn như xưa nữa, bổn quan chợt cảm thấy cảm khái trong lòng, sao lại không buồn chứ?”
Vị khu mật đại nhân nói rồi liền nâng chén rượu lên uống cạn.
“Khu mật đại nhân…” Người ca nữ đó muốn khuyên giải nhưng lại không biết phải mở lời như thế nào.
Vị khu mật đại nhân đó cười chua chát nói: “Cái gì mà khu mật đại nhân, bây giờ khu mật viện đã bị cách xuống thành quang chính viện. Bổn quan bây giờ là quan chính viện phụ chính. Ha ha, Sanh Hàn cô nương, cô cứ gọi ta là phủ chính đại nhân, nghe như thế thuận tai hơn.”
Ca nữ đó nhìn hắn, không nói gì cả, chỉ nhẹ nhàng tiếp rượu cho hắn.
Vị khu mật đại nhân này họ Trần tên Kiều, tự Tử Kiều, là một trụ cột trong triều của Đường quốc, khi Đường quốc lâm nguy đã từng nói với hoàng thượng và các thần tử: “Đất nước lâm nguy, thần nguyện trung thành với triều đình, thần có chết cũng không oán hận.”
Lý Dục từ sau khi tại vị đã lệnh cho hắn làm sứ bộ thị lang hàn lâm học sĩ thừa chỉ môn hạ thị lang kiêm khu mật viện sứ. Bây giờ Đường quốc đã xưng thần với Tống, tất cả các nha môn đều hạ xuống một cấp, khu mật viện đổi thành quang chính viện, cái chức khu mật viện sứ của hắn trở thành quang chính viện phụ chính. Có điều vẫn là tổng lĩnh của tất cả các đội quân.
Trần Kiều nắm lấy cánh tay thơm ngát của mỹ nhân, cười khổ nói: “Hàn Tái Hi, lão già này thật là có phúc, khi hắn làm tể tướng hoang đường, ngang ngược, hưởng tận phúc, khi đó quân Tống vẫn chưa công phạt Nam Đường thì ông ta đã thoải mái mà lên đường. Bây giờ chỉ còn lại mình ta, một mình hứng chịu, chịu sự sỉ nhục của người Tống mà không làm được gì.”
Đôi lông mày thanh tú của Sanh Hàn cô nương hơi nhíu lên, nhẹ nhàng nói: “Đại nhân, bây giờ Đường quốc chúng ta không phải đã xưng thần với Tống rồi sao, người Tống chẳng nhẽ vẫn xuất binh thảo phạt Đường?”
Trần Kiều cười khổ nói: “Thứ mà Triệu Khuông Dận muốn là đất đai và dân chúng giàu có Giang Nam, chứ không phải là Giang Nam quốc chủ xưng thần với hắn. Dã tâm của hắn nếu như chỉ có vậy thì Trần Kiều ta đã xem thường hắn rồi. Đáng tiếc, hoàng đế không nghe trung ngôn, không nghe trung ngôn nữa rồi.”
Hắn buồn bã lắc đầu, thở dài rồi từ từ nói: “Đắc thì lên cao, thất thì đi xuống, đa sầu đa hận cũng ung dung. Hôm nay có rượu thì hôm nay say, ngày mai buồn thì ngày mai lại buồn. Nào, mĩ nhân, chúng ta hãy vui tận hôm nay, việc ngày mai ngày mai lại nói.”
Nói xong hắn quàng tay qua vai Sanh Hàn cô nương. Sanh Hàn cô nương nâng chén rượu lên uống một ngụm, rồi đưa miệng tới chạm vào miệng hắn. Hương thơm của chiếc chén da thịt làm cho hắn thấy vui hơn.
Khi đôi môi hai người vừa chạm vào nhau thì nghe thấy phía dưới lầu có tiếng người quát lớn: “Cái đồ khốn nạn, bổn tướng quân hôm nay mời khách quý đến đây, sao lại dám để cho đám người tầm thường này đến hầu chứ? Sanh Hàn đâu? Cô nương đó eo nhỏ, môi mỏng, là mĩ nhân thùy mị Giang Nam ta, sao không gọi nàng ấy đến tiếp đãi khách quý của bổn tướng quân?”
Sau đó thì nghe thấy một phụ nhân lên tiếng nói: “Hoàng Phủ tướng quân bới giận. Sanh Hàn cô nương đang tiếp một vị khách quý, tất cả các cô nương khác trong viện của nô gia đều đã được gọi đến đây để tướng quân chọn lựa.”
“Phục vụ khách quý của ta đương nhiên là phải chọn đệ nhất mĩ nữ của lầu này rồi. Lão bà bà, có phải bà không muốn sống ở cái đất Kim Lăng này nữa không? Bổn tướng thân là đệ nhất võ thần của Kim Lăng, thống lĩnh cả mấy vạn hùng binh, ngay cả ta mà cũng phải kính nể vị khách quý này, ta không cho phép bà chậm trễ như thế. Ta mặc kệ nàng ấy đang tiếp ai, gọi nàng ta ra đây cho ta, nếu không bổn tướng sẽ triệu binh tới đập nát cái Phiêu Hương lâu này của bà.”
Trần Kiều nhíu mày lại, đẩy Sanh Hàn ra, nén tức giận xuống dưới lầu. Sanh Hàn vội vàng đuổi theo, nhưng đi được hai bước liền dừng lại, thở dài.
Dương Hạo ngồi bên cạnh, thờ ơ lạnh nhạt, nhưng thấy Hoàng Phủ Kế Huân kiêu ngạo như vậy lại không nói gì. Hắn vốn không phải là người có tính cách như vậy, nhưng lần này đến Nam Đường hắn lại cố ý gàn dở, nếu như lúc này mà lại khuyên giải người ta thì hành động đó khó tránh khỏi sau này làm cho người ta nảy sinh nghi ngờ, vì thế hắn chỉ ngồi yên mà không động sắc.
Hoàng Phủ Kế Huân không thể đắc tội được, nhưng vị khu mật sứ trên lầu kia cũng không thể chọc vào. Lão bà đó vô cùng khó xử, đang không biết nên làm thế nào thì Trần Kiều đột nhiên từ trên lầu bước xuống, lạnh lùng nói: “Ta còn tưởng là ai đang gây rối không để yên cho lão phu uống rượu, hóa ra là Hoàng Phủ tướng quân. Nhìn khắp cả cái thành Kim Lăng này cũng chỉ có Hoàng Phủ tướng quân mới dám khoa trương kiêu ngạo như thế trước mặt lão phu thôi.”
Hoàng Phủ Kế Huân nhìn thấy Trần Kiều, không khỏi có chút xấu hổ. Trần Kiều bây giờ là tổng lĩnh tất cả đại sự của quân đội Đường quốc, văn là tể tướng, võ là khu mật, đó chính là thượng ti của hắn. Cho dù trên thực tế tất cả mọi sự phòng vệ canh phòng đều do Hoàng Phủ Kế Huân phụ trách, hắn mới là võ tướng thực sự của thành Kim Lăng, trực tiếp nhận nhiệm vụ từ hoàng thượng, nhưng trên lễ chế thì hắn vẫn là thuộc hạ của Trần Kiều.
Trần Kiều hừ lạnh một tiếng: “Lão phu đang uống rượu trên lầu, Hoàng Phủ tướng quân nếu đã đến rồi hay là cũng lên trên đó uống mấy chén?”
Hoàng Phủ Kế Huân lúc này đã định thần lại, ung dung nói: “Ta còn tưởng là ai có mặt lớn mà được Sanh Hàn cô nương tiếp đãi, hóa ra là phụ chính đại quan. Trần đại nhân, vị này là khâm sứ Tống quốc, Dương Hạo Dương đại nhân. Hạ quan bây giờ không thể lên trên ấy được, nếu phụ chính đại nhân có nhã hứng thì xin mời xuống đây cùng uống mấy chén rượu nhạt.”
“Dương Hạo?” Trần Kiều chuyển mắt nhìn qua, thấy Dương Hạo không khỏi ngẩn ra. Hắn là phụ chính đại thần, hôm nay đã từng gặp Dương Hạo lúc thượng triều, không ngờ giờ có thể trùng phùng ở đây.
Việc đã rơi vào đầu mình, Dương Hạo cũng không thể đặt mình ở ngoài.
“Đai tướng quân Đường quốc không dám đắc tội với ta, còn cố hết sức nịnh nọt. Người ta khiêm tốn đến mức cứ mở mồm ra là nói ba ngày sẽ vong quốc, quả thực là không có cách nào gây thù kết oán được, vậy chi bằng đắc tội với vị phụ chính đại thần Đường quốc này vậy, hiệu quả chắc chắn sẽ khác.”
Dương Hạo nghĩ đến đây liền cười cười đứng dậy, học cái vẻ mặt cảu Lục Nhân Gia, một cái dáng vẻ “dì không thương cậu không yêu”, nói: “Hôm nay bổn quan ngẫu nhiên gặp được Hoàng Phủ tướng quân, rồi cùng đến Phiêu Hương viện uống rượu, nghe nói Sanh Hàn cô nương ở đây gảy tỳ bà hay tuyệt luân, nên muốn thưởng thức một chút. Bây giờ xem ra Sanh Hàn cô nương đang phục vụ đại nhân, không biết đại nhân có chịu thả Sanh Hàn cô nương xuống đây để bổn quan có thể thưởng thức một chút tiếng đàn tuyệt luân không?”
Hoàng Phủ Kế Huân ngồi bên cạnh mày liền nhíu lên, châm chọc nói: “Sanh Hàn cô nương đâu phải chỉ có gảy đàn hay đâu. Đợi đại nhân thưởng thức mùi vị của nàng ta thì sẽ biết nàng ta còn có chỗ nào hay hơn nữa.”
Trần Kiều thấy hai người họ đứng trước mặt mình mà dám nói ra những lời hạ lưu đó, hoàn toàn không coi mình ra gì, không khỏi tức đến xanh mặt. Dạ Vũ ngồi bên cạnh đổ cả mồ hôi lạnh, hôm nay đúng là bà cô hắn va phải tà rồi, hai vị đại nhân có vị trí cực cao, một văn một võ của thành Kim Lăng, một trước một sau đều bị đụng phải.
“Xem ra vị Trần phụ chính này sẽ không ngon ngọt được như Hoàng Phủ tướng quân, mà hoàng thượng đã chính miệng nói rằng đáp ứng hết các yêu cầu của Dương Hạo, chi mong cho hắn không gây sự ở Đường quốc. Nhưng vị Trần phụ chính này cũng không phải là người dễ dây, giờ phải làm thế nào mới tốt đây?”
Trong lòng Trần Kiều đột nhiên lóe lên. Hắn tuy không sợ Dương Hạo, cũng không sợ vì chuyện hai người tranh đoạt mĩ nhân mà chọc giận triều Tống, nhưng hắn là phụ chính đại thần Đường quốc, hắn không phải là loại tể tướng hoang đường nghìn năm có một như Hàn Tái Hi năm xưa. Bây giờ Dương Hạo dựa vào thế lực của Tống quốc, thể hiện rõ không coi hoàng thượng ra gì, làm sao có thể sợ một tể tướng như hắn. Bên cạnh lại còn có một con chó cậy người như Hoàng Phủ Kế Huân, nếu thật sự tranh chấp, tin tức truyền ra bên ngoài thật sự sẽ trở thành chuyện cười, quét sạch thể diện của Đường quốc.
Nghĩ đến đây, trong lòng Trần Kiều càng cảm thấy hận, nhưng trên mặt lại chỉ lạnh lùng hừ một tiếng: “Dương tả sứ đã có nhã hứng như vậy thì hãy ở lại đây để Hoàng Phủ tướng quân cùng ngài uống rượu. Tửu hứng của lão phu đã hết, không thể tiếp đại nhân.” Nói rồi ông ta phất áo đi khỏi.
Dương Hạo thấy thế thì vô cùng thất vọng. Vốn tưởng rằng lần này sẽ làm được, nhưng ai ngờ vị Trần Kiều này cũng là loại súng đèn cầy, chỉ có thể nhìn mà không thể dùng. Hắn thầm nghĩ: “Mẹ kiếp, sao ta lại đen đủi như thế, muốn đắc tội với một người mà cũng khó thế sao? Khi ở Khai Phong ta giấu cái đuôi đi để làm người thế mà toàn bị đắc tội với người ta. Nhưng đến đây tác oai tác quái muốn gây thù chuốc oán, nhưng Hoàng Phủ tướng quân hết sức nịnh nọt, tể tướng đương triều lại trốn tránh. Lão tử quyền đả nam sơn kính lão viện, cước đá bắc hải ấu kỉ viên, ta vô địch rồi.”
Hoàng Phủ Kế Huân thấy Trần Kiều bỏ đi thì không khỏi đắc ý, quát lão bà bà: “Còn ngẩn ra đấy làm gì. Mau đi gọi Sanh Hàn cô nương xuống tiếp đãi Dương tả sứ.”
Hoàng Phủ Kế Huân vừa nói dứt lời thì Sanh Hàn cô nương đã từ trên lầu thong thả bước xuống. Hoàng Phủ Kế Huân mặt mày hớn hở nói: “Sanh Hàn cô nương, nào nào, mau đến đây, mau đến đây gặp mặt vị đại nhân này, nàng phải tiếp đãi thật tốt đấy nhé, nếu làm cho Dương đại nhân vui thì bổn quan sẽ trọng thưởng.”
Sanh Hàn cô nương lật mặt, làm một lễ với hắn, lạnh nhạt nói: “Nô gia không giỏi uống rượu, toàn thân mệt mỏi, e là khó có thể phục vụ đại nhân, Hoàng Phủ tướng quân thứ tội.” Nói rồi liền bước đi. Hoàng Phủ Kế Huân vô cùng tức giận: “Đứng lại, vị đại nhân này là sứ giả thượng quốc, ngay cả bổn tướng quân cũng không dám bất kính, ngươi lại dám thất lễ hay sao?”
Sanh Hàn bỗng nhiên quay người lại, đôi mày xinh đẹp hơi nhíu lên, lạnh nhạt nói: “Nô gia thiển cận, chỉ ở Kim Lăng, chỉ biết đến Trần phụ chính, biết Hoàng Phủ tướng quân, chứ lại không biết cái gì mà sứ giả thượng quốc.”
“Thật là to gan, còn dám cãi lại.” Hoàng Phủ Kế Huân tức giận rút kiếm ra, Dạ Vũ đang ngồi ở một bên liền tiếp tục làm kẻ hòa giải.
Hoàng Phủ Kế Huân nào có thể để mất thể diện như vậy ở trước mặt Dương Hạo, một tay đẩy Dạ Vũ ra, tay cầm kiếm quát lên: “Tiện tỳ không biết tốt xấu, chẳng qua ngươi chỉ là một xướng kỹ lấy thanh sắc làm vui người ta mà thôi, thế mà lại dám nói như vậy với bổn quan, bây giờ ta không thể giữ ngươi lại nữa, nạp mạng cho ta.”
Sanh Hàn cô nương ngẩng khuôn mặt xinh đẹp trắng trẻo lên trước mặt Hoàng Phủ Kế Huân, tươi cười nói: “Hoàng Phủ tướng quân nói sai rồi, nô gia chỉ là một xướng kỹ lấy thanh sắc làm vui người ta mà thôi, là một kẻ hèn không biết khí tiết phẩm hạnh là cái gì.”
Hoàng Phủ Kế Huân không ngờ nàng ta còn dám cãi lại, trong lời nói còn đầy sự châm biếm, đúng là đang mắng mình, càng tức giận không thôi, muốn lập tức rút kiếm ra đâm, nhưng cánh tay lại bị giữ chặt lại, người này có sức cực lớn, Hoàng Phủ Kế Huân không thể động đậy được. Hắn quay đầu lại nhìn thì thấy Dương Hạo đã tiến lên trước. Dương Hạo cười nói: “Hoàng Phủ tướng quân bớt giận, mỹ nhân thì phải dỗ, không thể dọa, ha ha ha. Ép nàng ta ở lại cũng không còn hứng thú, để nàng ta đi đi.”
Dương Hạo đã mở lời thì Hoàng Phủ Kế Huân liền nghe lời ngay, lập tức thu kiếm lại, hừ một tiếng: “Tiện tỳ, hôm nay may cho ngươi đấy.” Rồi hắn quay lại mặt mày tươi cười nói: “Tả sứ đại nhân đại lượng, khí độ phi phàm, có tấm lòng nhân nghĩa, không hổ là nhân vật của thượng quốc.”
Dương Hạo nhìn bóng Sanh Hàn bước đi, thầm cười khổ: “Tể tướng tướng quân Đường quốc lại không thể ngẩng cao đầu bằng một xướng kỹ. Cuối cùng cũng có người chịu đắc tội với ta, nhưng nàng ta đắc tội với ta thì có tác dụng gì chứ, lẽ nào ta phải ngụy tạo hiện trường, nói Dương Hạo chết dưới bụng đàn bà sao? Vậy Oa Oa và Diễm Diễm phải làm sao đây?”
***
Ở phủ đệ của Lâm Nhân Triệu tại Kim Lăng, Chiết Tử Du đổi tên thành Mạc Dĩ Minh sau khi nghe Trương Thập Tam bẩm báo rõ nhất cử nhất động của Dương Hạo sau khi rời cung, không khỏi kinh ngạc nói: “Đây không giống hắn, hắn ngang ngược, ngông nghênh như vậy mục đích là gì?”
Nhíu mày suy nghĩ một hồi lâu, Chiết Tử Du lắc đầu nói: “Hành sự của tên này càng ngày càng làm cho người ta khó đoán ra. Không được, tên này ở lại đây, lại còn cùng cái tên khốn Hoàng Phủ Kế Huân cấu kết với nhau, nói không chừng lại làm hỏng đại sự của ta. Ta phải nghĩ ra cách đuổi hắn trở về Khai Phong.”
Trương Thập Tam buông tay nói: “Tiểu thư, bây giờ Dương Hạo đang dựa thế lực của Tống quốc mà đến đây, đến tể tướng còn không dám đắc tội với hắn, theo như tiểu nhân thấy, Lý Dục cũng sợ hắn, làm thế nào để tống được hắn đi chứ?”
Chiết Tử Du mỉm cười: “Ngươi quên mất câu chuyện Đào Cốc sao? Đi chuẩn bị kiệu, ta muốn lập tức tiến cung gặp tiểu Chu hậu.”
Chương 348:Dục tốc bất đạt
“Nương nương có từng nghe nói tên sứ giả Tống quốc Dương Hạo đó ngày đầu tiên đến Kim Lăng đã khoa trương thế lực, đi khắp nơi gây sự không? Đầu tiên là hắn cố ý va chạm với Hoàng Phủ tướng quân, tiếp đó lại tranh đoạt cô nương Sanh Hàn ở Phiêu Hương lâu với Trần phụ chính đại nhân, suýt nữa đánh nhau, may mà hai vị đại nhân nghĩ cho đại cục, luôn cố nhẫn nhịn, như vậy mới chưa xảy ra xung đột. Vị sứ giả Tống này kiêu ngạo như thế tuyệt đối sẽ không chịu thôi một cách dễ dàng. Theo như Minh Nhi thấy hắn là cố ý khiêu khích để gây chuyện thị phi, sau đó tạo cớ để xâm lược, ý đồ của Triệu Khuông Dận e rằng chính là nhằm vào giang sơn Đường quốc và nương nương.”
Chiết Tử Du sau khi tiến cung, thấy tiểu Chu hậu đang nghiên cứu làm ra một loại bánh mới, nàng ra liền vừa ngồi tham mưu một bên, vừa nịnh nọt mấy câu, khi tiểu Chu hậu đang vui vẻ thì liền nhắc đến câu chuyện này.
Tiểu Chu hậu vừa nghe thấy vậy thì vẻ mặt vui mừng lập tức biến mất, lo lắng nói: “Hôm nay quan gia về cung cũng từng oán trách Tống sứ bất kính, kiêu ngạo vô lễ trước triều đình, làm cho quan gia vô cùng mất mặt.
Tuyên phủ (tuyên chiếu và an ủi) thì tuyên phủ đi, người này đến với danh nghĩa tuyên phủ nhưng hắn chỉ tuyên chứ không phủ, rồi còn dương oai diễu võ, vô cùng bất kính. Triều Tống lại phái một người như vậy đến đúng là không coi Đường quốc ta ra gì. Muội muội bây giờ cũng nói như vậy, xem ra Tống triều quả nhiên có ý đồ khác, việc này… việc này phải làm thế nào bây giờ?”
Chiết Tử Du mắt gợn sóng, mỉm cười nói: “Nương nương đã từng nghe nói tới chuyện hộ bộ thượng thư của đương kim Tống quốc, là đại học sĩ thời Chu Đào Cốc đã từng xuất sứ Đường quốc chưa?”
Tiểu Chu hậu che miệng cười: “Hảo nhân duyên, ác nhân duyên, nại hà thiên… hi hi, bài thơ này đương nhiên là bổn cung đã từng nghe thấy. Sau khi Hàn Tái Hi chết, vị thần tiên tỷ tỷ Tần Nhược Lan cô nương trong bài thơ của vị Đào Cốc đó đã bị bán đến phủ Tào học sĩ, bổn cung lúc đó vẫn chưa nhập cung, đã từng gặp qua nàng ta một lần. Lúc đó Tần cô nương tuy đã lớn tuổi rồi nhưng phong sắc vẫn còn, có thể thấy năm xưa diện mạo quả thật bất tục, khó trách Đào học sĩ đó thần hồn điên đảo. Mà sao muội muội lại nhắc đến chuyện đó?”
Chiết Tử Du thầm thở dài: “Vị tiểu Chu hậu này tuy tuổi lới hơn ta, nhưng đáng tiếc lại là hoa lan trồng trong chậu, được chiều chuộng mà sống, tính tình ngây thơ lãng mạn, chỉ biết thơ ca, cầm kỳ thi họa, hoàn toàn không biết đến sự hiểm ác của con người, thật là không có chút cơ mưu gì cả. Ta đã nói đến như vậy rồi mà vẫn không hiểu ra.”
Vừa thầm thở dài nàng vừa nói: “Dương Hạo này ở mãi Đường quốc mà không chịu đi, chúng ta không thể làm rắn để hắn đi, vậy sao không học cái cách mà Hàn đại học sĩ đã dùng với Đào Cốc, để cho hắn tự thấy xấu hổ mà rời đi, biết khó phải rời? Đó là tự hắn thất lễ nghĩa, không liên quan đến Đường quốc ta.”
Tiểu Chu hậu vui vẻ nói: “Ý! Cách này quả thật không tồi, cách muội muội nghĩ ra quả là diệu kế.”
Nhưng nàng nghĩ một lát rồi lại chần chừ nói: “Nhưng mà tên Dương Hạo này cũng quá thô tục, lại vì một xướng kỹ mà tranh chấp giưa chốn đông người với tể tướng Trần Kiều, không thèm để ý đến thể diện thần tử của Tống quốc, cho dù chúng ta để một vũ kỹ đến mê hoặc hắn, sợ rằng sau khi hắn phong tình hoa nguyệt cũng không cho rằng đó là vô sỉ, ngược lại còn lấy làm vinh dự, lúc đó sao chịu rời đi?”
“Ừm! Nương nương nghĩ thế cũng rất có khả năng.”
Chiết Tử Du trầm tư một lát, vỗ tay cười nói: “Có rồi, Dương Hạo không có yêu thể diện như Đào Côc, nếu như dính líu với một vũ kỹ bình thường thì chắc hắn sẽ không lấy làm xấu hổ, nhưng nếu như nữ nhân này là nữ nhân trong cung Đường ta thì lại không giống. Cho dù hắn có vô sỉ đến mức nào thì nếu như một sứ thần như hắn mà lại dính dáng đến nữ nhân trong cung Đường thì đó là chuyện đại đại thất lễ. Một khi chuyện bại lộ thì ngay cả triều đình Tống quốc cũng mất mặt, nói không chừng một khi hắn trở về Khai Phong sẽ lập tức bị bãi miễn chức quan, làm sao còn dám ngông nghênh nữa.”
Tiểu Chu hậu hơi biến sắc: “Muội muội, lời này là nói sai rồi. Phi tần trong hậu cung tuy nhiều, có một số mĩ nhân cho dù chưa từng được hưởng ân phúc của quan gia, nhưng dù sao cũng đều là phi tần có danh phận, nếu như bảo họ đi dụ dỗ Dương Hạo thì cho dù Dương Hạo không thể tiếp tục ở Đường quốc, nhưng thể diện của quan gia cũng không còn, không biết trong thiên hạ sẽ có bao nhiêu người sẽ chê cười quan gia bị người Tống làm nhục. Đây không phải là vì nhỏ mà mất lớn sao?”
Chiết Tử Du thản nhiên nói: “Nương nương không cần phải lo lắng, hãy để Minh Nhi nói hết. Đầu tiên, người mê hoặc sai sứ tuy là người trong cung nhưng tuyệt đối không được là phi tần của quốc chủ. Vũ kỹ ca nữ, cung nữ, thị tỳ đều là người trong cung, như thế sẽ không ảnh hưởng tới quốc thể. Đây là điều thứ nhất.
Thứ hai, chúng ta tuy dụ để đuổi Dương Hạo rời đi chứ không phải học Hàn Tái Hi, thật sự để một vũ kỹ câu hợp với hắn. Cái danh Hàn Tái Hi phóng đãng, cả thiên hạ đều biết, nương nương không thể dính vào những chuyện như thế, Minh Nhi sao lại có thể không biết nặng nhẹ chứ? Ý của Minh Nhi là sai một cung nữ xinh đẹp thông minh, tạo ra một số sự kiện hiểu lầm ám muội với hắn. Sự việc chỉ cần làm to lên thì hắn không thể nào biện bạch được, sẽ giống như con bọ hung đội phân về nhà, âm thầm mà cút khỏi đây.”
Tiểu Chu hậu lật mặt nói: “Muội muội là khuê tú đại gia, sao có thể nói ra được những lời lẽ như thế nhỉ?”
Nói rồi nàng ta lại cười khì khì, che miệng nói: “Có điều cách này quả thật không tồi, chúng ta sẽ làm cho cái tên Tống sứ cố tình gây sự đó ăn một vố lớn để phải nhanh chóng rời khỏi Đường quốc ta, Tống quốc cũng không tiện phái một tuyên phủ sứ khác đến nữa. Đến lúc đó chúng không có cớ gì để hại ta nữa, Đường quốc sẽ có thể thái bình rồi.”
Chiết Tử Du nói: “Nương nương thành kính lễ phật, lấy lòng thiện để đối với người, nên luôn quá nhân từ với người khác. Dương Hạo cho dù có phải trở về thì dã tâm của Triệu Khuông Dận cũng sẽ không vì thế mà từ bỏ đâu, chẳng qua chỉ là bớt một cái cớ mà thôi, như thế chỉ có thể giúp Đường quốc ta kéo dài thêm chút thời gian. Nương nương nên khuyên quốc chủ kết giao hảo hữu nhiều với các nước Đại Lý phương nam, Phiên Khương phương tây, Ngô Việt phương đông, Khiết Đan phương bắc, tạo thành một liên kết vững mạnh. Đồng thời trọng dụng các trọng thần tài giỏi trung thành, cải chính tề dân, huấn luyện binh mã, tăng cường thực lực của Đường quốc. Chỉ khi thực lực Đường quốc lớn mạnh, hữu quốc nhiều, thì người Tống mới kiêng nể, không dám dễ dàng động binh.”
Tiểu Chu hậu thở dài nói: “Quan gia trị nước thuận theo thời thế, văn võ trong triều hiền minh, bây giờ chẳng nhẽ lại không biết phải tự cường sao? Chỉ là Đường quốc ta ở một góc của Giang Nam, dù sao cũng khó có thể bì được với cường thế của Tống quốc, đây cũng là chuyện bất đắc dĩ, bổn cung là người ở hậu cung, chăm coi chuyện của lục cung, sao có tiện can dự vào chứ? Hơn nữa, quan gia gần đây vì chuyện này mà thường xuyên mất ngủ, bổn cung cũng không nỡ lại tăng thêm phiền muộn cho quan gia nữa.”
Chiết Tử Du trong lòng tự biết rằng chuyện này không thể gấp, liền không nói nữa, chuyển chủ đề, nói: “Nếu như muốn tên Dương Hạo đó rơi vào cạm bẫy thì đầu tiên là phải chọn được một giai nhân thông minh lanh lợi, trong lòng nương nương có nghĩ tới người nào thích hợp không?”
Tiểu Chu hậu trầm ngâm suy nghĩ một lát, nói: “Diểu nương thế nào? Nàng ấy chính là quan nương. Khi quan gia mở yến tiệc, Tống sứ Dương Hạo thái độ cao ngạo, không coi ai ra gì, duy chỉ đến khi Diểu nương hiến vũ thì hắn mới dán mắt không rời vào, rõ ràng là hắn đã động lòng với Diểu nương rồi. Quan nương là vũ kỹ trong cung, lại không phải là phi tần của quan gia, thân phận rất phù hợp, cộng thêm nàng ấy diệu vũ tài tình, là mỹ nhân của Đường quốc ta, chắc chắn có thể làm cho Dương Hạo động lòng.”
Chủ ý này tuy là do Chiết Tử Du đưa ra, nhưng khi nghe thấy tiểu Chu hậu tán dương đôi chân xinh đẹp của Diểu nương có thể cám dỗ Dương Hạo thì trong lòng nàng lại có chút không vui: “Những tên đàn ông thối này quốc sắc thiên hương đều đã nhìn chán rồi, giờ lại chuyển sang nhìn chân nữ nhân. Một đôi chân cũng có thể quyến rũ đàn ong đến, đúng là chẳng ra sao.”
Tin tức trong quốc tiệc, Tống sứ Dương Hạo nhìn không rời mắt khỏi đôi chân xinh đẹp của Diểu nương đã được truyền ra khắp các ca kỹ vũ nữ, Chiết Tử Du cũng biết chuyện này, nàng khinh thường nghĩ: “Đôi chân của những vũ kỹ đó cả ngày đều bị bó lại, thon nhỏ như măng, đẹp không thể tả, nhưng khi đi tất vào thì so với bổn cô nương còn thua xa. Những tên đàn ông thối đó mù hết cả mắt chó cũng nên, Dương Hạo cũng thế, cá mè một lứa, thật không biết hắn đã mê mẩn cái gì nữa.”
Chiết Tử Du có chút ghen tuông, suy nghĩ vẩn vơ miên man, tiểu Chu hậu thấy vẻ mặt kỳ lạ của nàng, liền hỏi: “Muội muội có phải cảm thấy có chỗ nào không ổn không?”
Chiết Tử Du lấy lại thần thái, vội nói: “Ừm, không phải, Minh Nhi đang nghĩ người này đã chọn được rồi, nhưng phải làm sao để tìm được cơ hội thích hợp ra tay. Diểu cô nương là vũ kỹ trong cung, hắn lại là ngoại thần của Tống triều, muốn họ gặp mặt nhau không phải là dễ. Nơi để “quyến rũ” phải là ở trong cung mới hợp tình hợp lý. A, có rồi, nương nương có thể bảo quan gia thường xuyên mời hắn đến uống rượu. Cứ như vậy thì một là có thể nắm được hành tung của hắn, tránh để cho hắn ra ngoài gây sự, hai là lại có thể thể hiện lễ tiết của Đường triều ta với Tống triều. Còn về việc hắn “không thủ quy củ” ở trong cung, làm ra chuyện thất lễ thì đó cũng hợp lý hơn.”
Tiểu Chu hậu nghe xong thì vô cùng vui mừng, gật đầu cười. Người thiếu nữ xinh đẹp mới hai mươi ba tuổi này quả thực là hoa lan trong nhà kính chưa từng gặp gió mưa, luận đến sự từng trải thì vẫn còn non nớt hơn Chiết Tử Du nhiều. Mỗi ngày, những việc mà nàng ta phải động não suy nghĩ chỉ có mấy chuyện như nghiên cứu thuốc nhuộm vải, mài phấn làm son, khó mà có cơ hội để nàng ta có thể đi trêu đùa một vị sứ thần Tống quốc. Vì thế nên tiểu Chu hậu không khỏi thấy mới lạ, thấy chuyện này rất hứng thú. Nàng xoa xoa tay, nóng lòng như muốn nhảy lên.
Hai người bàn luận một chút, thì Chiết Tử Du thấy sắc trời đã tối, cấm quân sắp sửa đóng cửa, liền đứng dậy cáo từ. Tiểu Chu hậu thấy vậy liền vội kéo tay Chiết Tử Du lại, hăng hái nói: “Việc này ngày mai sẽ bắt đầu làm, cũng cần phải mất mấy ngày mới có thể dụ được Dương Hạo vào bẫy mà không bị sơ hở gì. Muội muội đừng vội đi như thế, bổn cung thiết kế ra mấy chiếc lư hương, bảo đám thợ rèn làm theo, vừa mới làm xong. Đúng lúc muội muội ở đây, hãy chơi cùng ta một lúc rồi đi cũng không muộn.”
Chiết Tử Du dừng lại, tiểu Chu hậu sai người bê mấy chiếc khay được sơn ra. Trên mỗi chiếc khay đều có đặt một vật, bên trên nắp có phủ khăn màu đỏ, cao thấp to nhỏ tương đương nhau, khi kéo chiếc khăn ra thì thấy đó là mấy chiếc lư hương bằng ngọc, tạo hình tuyệt mỹ, điêu khắc tinh xảo, thế gian hiếm thấy. Dám chắc vị tiểu Chu hậu này không những là một thầy thiết kế trang phục múa, thiết kế đồ hóa trang giỏi mà còn là một thầy thiết kể sản phẩm công nghệ tài hoa.
Tiểu Chu hậu vui vẻ nói: “Muội muội đến đây xem, những chiếc lư hương ta thiết kế này có tên là “bát tử liên”, nó được làm bằng mỹ ngọc điêu khắc thành hai đài sen, ở trên đài sen có rất nhiều những lỗ nhỏ, hương thơm sẽ được tỏa ra từ đó, làn khói thơm sẽ tỏa ra từ những lỗ nhỏ này, tạo nên một cảnh tượng rất đẹp. Còn có cái này nữa, tên nó là “chiết yêu sư tử” (sư tử khom lưng). Bên trên chiếc lư có khắc một con sư tử con, hương thơm sẽ từ miệng nó tỏa ra.
Còn cái này tên là “phụng khẩu anh” (miệng phượng hoàng), bên trên chiếc lư khắc một con chim kin phượng xòe cánh, ngẩng cổ lên trời, hương thơm từ miệng tỏa ra, tư thế như thể sắp bay. Muội hãy nhìn tiếp cái này, thời gian điêu khắc nó rất dài. Chiếc lư hương này gọi là “tiểu doanh châu”, chỗ bằng bằng biển cả, chỗ gồ lên làm núi, khói sẽ từ chỗ giữa biển và núi từ từ tỏa ra, rất giống cảnh thần tiên.”
Tiểu Chu hậu giới thiệu một lượt các điểm đặc sắc của từng chiếc lư hương một, những loại ngọc làm thành những chiếc lư hương này như ngọc thái cổ, ngọc dung hoa đỉnh… đều là những thứ kim ngọc hiếm thấy trong nhân gian, thêm nữa các đường nét thiết kế cũng rất tuyệt diệu. Chiết Tử Du thầm nghĩ: “Chu hậu là hoàng hậu của một nước, thân làm quốc mẫu cần phải có trách nhiệm khuyên giải quân vương, quan tâm đến dân chúng, nhưng nàng ta lại không hề bỏ lỡ việc hưởng lạc. Nàng ta là một tài nữ hiếm có trong nhân gian, lại rất có sáng tạo, nhưng đáng tiếc công việc chính của nàng ta lại chẳng có liên quan gì đến an nguy của dân chúng.”
“Người đâu, cho hương vào, đốt lên để xem xem.” Tiểu Chu hậu ra lệnh một tiếng, liền có một cung nữ cho một loại hương thượng đẳng vào bên trong rồi đốt lên. Trong tức khắc, một hương thơm ngát kỳ diệu tỏa ra khắp điện. Làn hương vừa bay lên cao thì đúng lúc Lý Dục từ ngoài điện bước vào, thấy cảnh tượng tuyệt mĩ như thế không khỏi sáng mắt lên.
Hắn phất tay cố ý bảo nội thị không phải hành lễ nữa, nhẹ nhàng bước vào bên trong, đứng bên cạnh bức màn thưởng thức. Sự phong tình vạn chủng của tiểu Chu hậu hắn sớm đã thưởng thức quen rồi, phong thái uyển chuyển không có lời nào có thể miêu tả hết được, nhưng Chiết Tử Du đứng bên cạnh nàng cũng không hề kém cạnh một chút nào. Nhưng điều khó có được chính là vị Mạc Dĩ Minh Mạc cô nương này lại có đầy vẻ anh khí, làm cho khí chất của nàng khác hẳn so với tiểu Chu hậu.
Vị Mạc cô nương quả nhiên không hổ xuất thân từ thế gia võ tướng, anh khí bừng bừng nhưng lại không che mất thiên sắc của nàng. Mỗi người có một vẻ đẹp riêng, họ cùng đứng với nhau làm cho xung quanh như phải nghiêng ngả. Lý Dục không khỏi mừng vui tán thưởng: “Tuyệt, quá tuyệt. Lư hương này thật tuyệt, mĩ nhân đứng trong làn hương khói, mờ ảo càng tuyệt diệu hơn.”
“A, dân nữ không biết quốc chủ giả đáo, thỉnh quốc chủ thứ tội.” Chiết Tử Du đang đứng ung dung ở bên cạnh lư hương, vừa thấy Lý Dục đứng bên cạnh vội vàng quỳ xuống thi lễ.
“Mạc cô nương cứ đứng dậy, trong đại nội không cần phải tuân theo quá nhiều quy tắc.”
Lý Dục vuốt râu mỉm cười, nói: “Ta thấy nương nương và cô nương đứng trong làn khói, mờ ảo như tiên nữ, vẻ đẹp thoát tục, làm cho lòng ta trào dâng một cảm giác khó tả, đột nhiên lại có hứng thơ. Người đâu, đem tứ bảo trong thư phòng của ta tới đây.”
Tứ bảo trong thư phòng chuyên dùng của Lý Dục thứ nào cũng là báu vật. Giấy, nghiên mực, mực, bút, bốn thứ này đều được làm từ những chất liệu quý giá nhất và cực kì tinh xảo. Nó dùng đề Lý Dục viết những bài từ khi có hứng. Còn về từ của hắn càng là thiên hạ nhất tuyệt, không biết đã làm xiêu lòng bao thiếu nữ đang tuổi mộng mơ.
Lúc trước tiểu Chu hậu mới có mười lăm tuổi, vì tỷ tỷ là đại Chu Hậu lâm trọng bệnh nên nhập cung thăm nom, lúc đó đã bị hảo từ tuyệt mĩ vô song của Lý Dục động tới trái tim non nớt lãng mạn của thiếu nữ, trái tim đó dần thắt chặt vào người tỷ phu.
Lý Dục lúc đó nhìn thấy nàng Chu Nữ Anh ngây thơ, xinh đẹp hoạt bát liền bị vẻ đẹp của nàng làm động lòng, lập tức viết cho nàng một bài từ: “Tầm xuân tu thị tiên xuân tảo, khán hoa mạc đãi hoa chi lão. Phiếu sắc ngọc nhu kình. Phôi phù tràn diện thanh. Hà tu tần tiếu sán! Cầm uyển xuân quy vãn. Đồng túy dữ nhàn bình, thi tùy đảo cố thành.”
Câu “Tầm xuân tu thị tiên xuân tảo, khán hoa mạc đãi hoa chi lão” lại rất hợp với câu “Hoa khai kham tiết trực tu chiết. Mạc đãi vô hoa không chiết chi” của Lã Động Tân, có một sự kì diệu dị khúc, rõ ràng lúc đó đã nổi dậy tương tư với tiểu Chu hậu.
Sau một hồi hàn huyên, hắn lại viết cho nàng một bài từ nữa: “Bồng lai viện bế thiên thai nữ, họa đường trú tầm vô nhân ngữ. Phao chẩm thúy vân quang, dụ y văn dị hương. Tiềm khai châu tỏa động, hận giác ngân bình mộng. Kiểm mạn tiếu doanh doanh, tương khán vô hạn tình.” Bài từ này càng thắt chặt lấy trái tim nàng thiếu nữ.
Nữ Anh khi đó mới có mười lăm tuổi, ý tình cũng mới nở, cái tài tình của Lý Dục là không cần nhiều lời, thêm nữa lúc đó hắn cũng còn trẻ, lại là đế quân của một nước, tôn quý vô cùng, vị đệ nhất sát thủ tán gái muốn đối phó với một nàng thiếu nữ xinh đẹp như tiểu Nữ Anh chẳng phải là quá dễ dàng hay sao? Cho nên tiểu Nữ Anh đã bị rơi vào tay hắn.
Hai bài từ đã lấy được một giai nhân, nhưng nó lại giết chết một vị hoàng hậu. Việc Lý Dục viết tăng hai bài từ cho tiểu Nữ Anh đã bị truyền khắp cung, rồi truyền cả ra ngoài. Đại Chu Hậu thần hồn phách lạc. Chuyện nam nhân có thê có thiếp trong nhân gian cũng là chuyện bình thường, trong mắt nữ nhân nó cũng không có gì kì lạ, huống hồ Lý Dục lại là một quân vương. Còn tiểu Chu hậu thì lại không cảm thấy việc mình và tỷ tỷ cùng phục vụ một phu có gì là không thỏa đáng. Nhưng đại Chu Hậu vốn rất được Lý Dục sủng ái, việc Lý Dục và muội muội tư thông thâm tình, gần gũi thân thiết đối với nàng mà nói không tránh khỏi hụt hẫng. Khi nghe thấy cung nữ nói Lý Dục lúc này đang làm chuyện tốt với muội muội thì từng từ từng câu tỏng bài từ ấy càng như dao như tiễn đâm vào người, khiến cho đại Chu Hậu vô cùng đau khổ.
Lúc đó đứa con của nàng vừa mới chết yểu, phu quân lại thay tình đổi ý, bảo sao nàng không đau đớn cho được? Đại Chu Hậu với tâm hồn thiếu nữ đã tan nát, từ khi nghe tin tức này liền ngoảnh mặt vào tường, đến chết cung không chịu nhìn mặt Lý Dục và muội muội. Bệnh của nàng tuy nặng nhưng vốn không phải là chứng bệnh phải chết, nhưng sau này thuốc cũng khó cứu được nàng, việc nàng chết đương nhiên không phải là không có liên quan đến việc nàng suốt ngày buồn bực u uất.
Nhưng nếu như nói Lý Dục hư tình giả ý với nàng thì cũng không đúng, đối với đại Chu Hậu và tiểu Chu hậu hắn quả thật đều yêu thương vô cùng, chỉ là hắn lại không thật sự hiểu được tâm tư nữ nhân, không biết khi đại Chu Hậu lâm trọng bệnh mà mình lại đi tìm niềm vui khác chính là gây một vết thương trầm trọng với nàng.
Hai bài từ của Lý Dục vừa được một hậu lại vừa mất một hậu, ma lực của nó quả thật không nhỏ. Bây giờ nhìn thấy trong làn khói lượn lờ, Chiết Tử Du xinh đẹp tuyệt mĩ đang đứng ẩn hiện, trái tim ngu ngốc thương hoa tiếc ngọc của Lý Dục lại nổi lên, lúc này liền có ý định nạp nàng ta vào cung
Tiểu Chu hậu chính là bị hai bài từ của hắn mê hoặc, vừa thấy hắn tán thưởng hai mĩ nữ mĩ miều, lại nói ý thở lên cao, đôi mắt lại không ngừng nhìn chằm chằm vào người Chiết Tử Du, nàng lập tức hiểu ra tâm ý của hắn. Tuy biết đế vương nạp phi tần, bản thân mình không thể ngăn được, nhưng trong lòng vẫn có chút không vui.
Nhưng thoáng cái nàng ta đã thay đổi ý nghĩ, mình với Lý Dục đã kết tình duyên đến giờ cũng đã được tám năm, lại không có một đứa con trai nối dõi nào. Phi tử hậu cung tuy nhiều, trong đó những người nhận được sủng ái của quan gia cũng không phải là thiểu số, nhưng đến giờ vẫn không có gì, quan gia đến giờ chỉ có một đứa con trai. Thân làm hoàng đế, con trai nếu như có hơi ít thì dẫn đến nếu thái tử bệnh tật sẽ làm cho mọi người lo lắng không yên.
Chiết Tử Du thường hay nhập vào đầu nàng những thứ như xã tắc, dân sinh, quân chính, kinh tế, tiểu Chu hậu dần dần cũng thấm được một chút ý thức về nguy cơ. Từ góc độ này mà nói thì nàng ta cảm thấy quan gia có nạp thêm mấy nữ tử mà vừa ý hắn thì cũng không có gì là quá tổn hại, cho dù có tổn thất thì chỉ cần hoàng thất có nhiều con trai nối dõi, giang sơn và lòng dân sẽ ổn định thêm vài phần.
Mạc Dĩ Minh vừa nhìn đã thấy có phúc tướng tề phu tề gia, có cơ thể và tướng mạo đa tử đa nữ, lại là tỷ muội tâm đầu ý hợp với mình. Nếu như nàng ấy có thể nhập cung thì mình không những có nhiều thêm một người bên cạnh nói chuyện hầu bạn cho bớt buồn, mà quan gia lại vừa có thêm một trợ thủ đắc lực để duy trì giang sơn, sinh con nối dõi. Mà mình là hoàng hậu, những hoàng tử mới sinh sẽ đều do mình dưỡng dục, đứa bé mới sinh sẽ không giống như đương kim thái tử, chỉ ít hơn mình có mấy tuổi, hai bên khó tránh có mâu thuẫn. Vì thế nên nàng đứng yên không nói gì.
Nhưng Mạc cô nương dường như không hiểu phong tình, hoàn toàn tỏ ra không biết lời tán thưởng của quốc chủ này chính là biểu thị có ý với mình, bài từ đó cũng vì mình mà viết. Nàng vội vàng nhìn ra bên ngoài, rồi nói với Lý Dục: “Quốc chủ, cấm cung sắp đóng cửa rồi, dân nữ không phải là người trong cung, ở lại lâu không tiện, xin cáo từ quốc chủ với nương nương.”
Chiết Tử Du hành lễ rồi từ từ lui ra. Lý Dục ngẩn ngơ, nhìn theo bóng hình nàng xa dần.
Nội thị bê tứ bảo từ trong thư phòng ra, khom lưng nói: “Quan gia, tứ bảo đã được đưa đến.”
Lý Dục phất tay một cái, hết hứng thú nói: “Mang đi đi, ta hết hứng thơ rồi.”
Chiết Tử Du vừa đi ra khỏi cung điện, đứng dưới bậc thang liền mỉm cười: “Đường đường là đế vương của một nước, đất nước lâm nguy thế mà chỉ biết đến thơ với ca, tỏ vẻ phong nhã. Cái loại ngu xuẩn như vậy lại dám có ý với Chiết Tử Du ta. Hừ! Bổn cô nương sao có thể để mắt đến một kẻ bỏ đi như ngươi chứ!”
***
“Đại nhân, đây là thiệp mời của Hoàng Phủ Kế Huân, mời đại nhân đến Tê Hà Sơn du ngoạn.”
Tiêu Hải Đào tiếc nuối đưa thiệp lên nói: “Đáng tiếc không phải là đi Yến Tử Phàn, nếu không đã có thể cẩn thận xem xét tình hình doanh trại thủy binh của quân địch rồi.”
Dương Hạo liếc mắt nhìn, cầm lấy thiệp mời rồi đột ngột vứt đi, cười lạnh lùng: “Hoàng Phủ Kế Huân tuy chỉ là một tên nhu nhược nịnh nọt, nhưng không phải là một con lợn ngu si không có não, sao có thể làm chuyện ấy được?”
“Còn đây là thiếp mời của Đông Đài ngự sử đại nhân Câu Nhật mới ngài đến dự yến tiệc, cũng may là thời gian lệch một ngày với cuộc hẹn của Hoàng Phủ Kế Huân. Ha ha ha, Đường triều thấy Đại Tống ta thế mạnh, các quan viên muốn dưa dẫm vào chúng ta cũng không ít, càng làm quen, kết giao nhiều với đám quyền quý trong triều thì càng có lợi cho việc dò hỏi tin tức của chúng ta, mượn sức của chúng để lật đổ đám trung thần trong triều Đường.”
“Ừm, Tiêu tự thừa nói có lý. Có điều những lời mời yến tiệc quá nhiều, làm sao có thể ứng phó lại đây. Câu ngự sử và Tằng tham quán do Tiêu tự thừa ngài phụ trách nhé, còn về lời mời của Hoàng Phủ Kế Huân…”
Hắn vừa nói tới đây thì đột nhiên có một tiểu lại vội vã chạy vào, khom người làm lễ nói: “Đại nhân, quốc chủ Giang Nam khiển sứ mời đại nhân ngày mai vào cung dự yến tiệc.”
Dương Hạo ngẩn ra, thuận tay nhặt chiếc thiệp của Hoàng Phủ Kế Huân mà hắn vừa vứt xuống, đưa cho Tiêu Hải Đào, nói: “Cái này lại phiền đại nhân rồi.” Sau đó hỏi kỹ càng tiểu lại, rồi xua tay bảo hắn lui ra, hắn trầm tư suy nghĩ: “Khi ở quốc yến ta đã chẳng nể mặt hắn mấy phần, tên Lý Dục chó chết này lại vẫn cảm thấy chưa đủ hay sao? Lại mời ta vào cung dự yến tiệc. Ha ha ha, tình hình bây giờ khá giống lúc ta ở Phủ Cốc, kẻ nào cũng có ý đồ tiếp cận ta, chỉ là lúc đó ta muốn cầu gặp Chiết Ngự Huân một lần mà không được, bây giờ Lý Dục này lại cứ chạy đến để nịnh nọt ta. Không biết bên Diễm Diễm và Oa Oa đã sắp xếp đến đâu rồi, phải cần bao lâu nữa mới đến được đây?”
Chương 349: Lệ ảnh
Khi Dương Hạo đang thắt dây đai áo trong dịch quán thì Bích Túc cũng vừa tới được khu phố náo nhiệt của Kim Lăng. Hắn đứng ở phố Kê Lung hỏi thăm người ta dịch quán ở đâu, rồi tìm một khách điếm để ở tạm, đợi đến tối, lợi dụng cơ hội dùng khả năng trèo tường của mình để lén đi gặp Dương Hạo. Ánh mắt hắn đang nhìn xung quanh tìm khách điếm thì chợt nhìn thấy một bóng người lướt qua ở phía không xa. Hắn nhớ mang máng bóng dáng quen quen đó, trong tích tắc, bất giác người hắn rung lên một cái. Hắn vội vàng nhanh bước đuổi theo.
Nhưng đường phố đông đúc chật ních người, trước mặt nhiều người như thế này hắn không thể giở công phu khinh thân của mình. Khi hắn ra khỏi đám người đông đúc đó thì thấy có tới ba bốn ngõ ngách, cũng không biết mĩ nhân đã đi đằng nào rồi. Hắn đứng lại ở đầu đường, buồn bã vô cớ.
***
Bích Túc sau khi đến thành Kim Lăng thì đầu tiên là tìm một khách điếm ở lại, đến đêm liền thay y phục đột nhập vào dịch quán, tìm đến phòng ở của tiết độ sứ Tống quốc. Khi gặp được Dương Hạo thì hắn báo cáo tỉ mỉ rõ ràng những việc xảy ra gần đây ở phủ Khai Phong.
Sau khi Dương Hạo đi, Diễm Diễm và Oa Oa cũng nhanh chóng thu dọn hành lý và được các thị vệ tâm phúc mà Mục Vũ và Dương Hạo đưa từ Lô Lĩnh Châu về hộ tống. Khi rời khỏi Khai Phong thì đầu tiên là theo đuôi đoàn nghi trượng nam hành của khâm sai vài ngày, sau khi xác định không có ai đi theo liền chuyển sang tây hành, hướng về phía Hoa Sơn. Theo tình hình thực tế mà nói, nơi đó là nơi ít có tranh loạn, đồng thời cũng dễ ẩn cư, đây cũng là việc mà Dương Hạo đã thương lượng ổn thỏa trước với họ, đợi họ sắp xếp xong hết thì sẽ hội ngộ ở Kim Lăng.
Ở bên Khai Phong, biết được chân tướng sự việc, Tao Trư Nhi đã đồng ý chăm sóc cho Diệu Diệu. Còn về trạch viện thì giống như lần trước Oa Oa rời khỏi Biện Lương, tất cả các gia nô hộ viện đều để lại, hoàn toàn không để lộ dấu vết gì. Còn đám người Trương Ngưu Nhi và Lão Hắc cũng giao cho Diệu Diệu quản lý, họ vốn xuất thân từ quản sự nội viện và bảo tiêu hộ viện, làm những việc này còn giỏi hơn cả Mục Vũ, đúng là cánh tay đắc lực của Diệu Diệu.
Dương Hạo nghe thấy mọi chuyện đã sắp xếp ổn thỏa, trong lòng không khỏi vui mừng, liền bảo Bích Túc về khách điếm nghỉ ngơi vài ngày trước, rồi sớm đi tìm Diễm Diễm và Oa Oa thương lượng địa điểm hội hợp, đợi khi họ đến thì kịp thời thông báo với mình.
Bích Túc nghe xong lập tức vui mừng trong lòng vì đúng như ý hắn muốn. Hắn cáo từ Dương Hạo rồi nhân đêm tối lại mò ra khỏi dịch quán, trở về khách điếm.
Mấy ngày tiếp theo đó, Lý Dục năm ngày lại tổ chức một đại yến, ba ngày tổ chức tiểu yến, đối đãi vô cùng ân cần với Dương Hạo. Thực ra Lý Dục vì thái độ cao ngạo của Dương Hạo, trong lòng quả thực không muốn tiếp tục qua lại với hắn nữa, nhưng nghe thấy tiểu Chu hậu kể về những hành động của hắn ở Kim Lăng, hắn thật sự thấy lo lắng cái tính cách thích đi khắp nơi gây chuyện thị phi này của Dương Hạo sẽ làm nảy sinh xung đột với đại thần Đường quốc. Hắn cho dù có bất kính thế nào với mình thì cũng không dám có hành động thái quá, như thế chi bằng mượn yến tiệc để trói chân hắn bên cạnh mình, đợi đến khi hắn về nước.
Cái bệnh mọt sách của Lý Dục rất nặng, hắn luôn cho rằng khi Tống quốc thảo phạt Hán, hắn không những không đồng ý xuất binh trợ giúp Hán, mà còn giúp Tống viết thư cho Hán quốc, khuyên Lưu Kế Hưng đầu hàng. Lại còn nhanh chóng xưng thần với Tống trước khi Hán quốc bị diệt vong, hạ cách cải chế, tự nhận mình là thần tử, đối với Tống quốc cũng được coi như là chí nhân chí nghĩa. Triệu Khuông Dận nếu đã tiếp nhận mình là thần tử Tống quốc thì sẽ không có lí do gì để thảo phạt Đường quốc nữa. Hắn muốn giữ Dương Hạo bên người chủ yếu là sợ thái độ quá kiêu ngạo của hắn sẽ làm cho một số đại thần văn võ Đường quốc bất kính với hắn, sẽ dấn đến bất lợi cho ngoại giao. Cho nên hắn đã làm theo kiến nghị của tiểu Chu hậu, thường xuyên mời Dương Hạo vào cung dự tiệc.
Lời mời của Lý Dục, Dương Hạo không thể không đi. Mấy ngày này Bích Túc lại ở khắp các phố lớn ngõ nhỏ, đi tìm ý trung nhân đó của mình.
Bích Túc là một tên háo sắc, cũng đã từng có rất nhiều nữ nhân, không chỉ là các nữ tử vì tiền bạc ở trong thanh lâu, mà dựa vào tướng mạo của hắn cũng có thể dụ dỗ được cả đống các khuê nữ con đại gia, quý phụ hào môn. Nhưng người mà làm cho hắn động lòng như vậy thì đây lại là lần đầu tiên hắn gặp.
Khi Dương Hạo sai hắn đi dò là tin tức của dân chúng khu Giang Hoài, hắn đã gặp được cô nương ấy. Tuy hai bên chưa từng nói chuyện, cũng chưa từng có bất kỳ tiếp xúc nào, nhưng hắn đã yêu nàng ta mất rồi, đến giờ cũng không thể dứt ra được. Đó cũng chỉ vì cô nương chưa từng nói chuyện với hắn ấy khi nhờ hắn tránh đường để đi đã mỉm cười dịu dàng với hắn.
Nụ cười ấy dịu dàng thân thiết, Bích Túc nhớ mang máng hình như khi còn nhỏ mẫu thân mình cũng mỉm cười như thế. nhiều năm rồi, trong chiến tranh loạn lạc, người thân của hắn đều đã chết hết không còn ai, hắn vô thân vô thích, lưu lạc giang hồ, giống như cây phù du trôi nổi, chưa từng có mùi vị tình yêu, tình thân. Kết quả lại vì một nụ cười hiền dịu của một cô gái không quen biết chạm vào tận sâu trong trái tim hắn.
Cô gái đó lại là một ni cô. Muốn tìm nàng ấy có dễ gì đâu.
Trước đây Giang Nam có bốn trăm tám mươi tự, hương khói nghi ngút. Nhưng bây giờ Giang Nam trong tay Lý Dục đâu chỉ có bốn trăm tám mươi ngôi chùa chứ.
Lý Dục háo mĩ sắc, thi từ, tín phật, đánh cờ. Giang Nam là đất của tín phật, từ sau khi Lý Dục kế vị, càng lúc càng trở nên thịnh vượng. Mỗi ngày sau khi thoái triều, hắn đều cùng tiểu Chu hậu thay y phục mặc tăng y vào, ngồi niệm kinh. Trung thư xá nhân Trương Bạc vốn không tín phật, nhưng muốn nịnh nọt hoàng đế, nên mỗi lần gặp Lý Dục hắn lại ngồi cùng đàm đạo phật pháp, vì thế hắn nhanh chóng nhảy lên trở thành sủng thần bên cạnh Lý Dục. Lấy hắn làm gương, văn võ bá quan trong triều như tổ ong vò vẽ, đều trở nên tín phật.
Giang Nam phật tự vốn đã rất nhiều, Lý Dục lại hạ chiếu xây thêm cả hơn một nghìn phật tự trên Ngưu Đầu Sơn của thành Kim Lăng, trong cung vì thế mà phải chi ra một khoản không nhỏ, thậm chí ngay cả trong cung uyển cũng xây một tòa Tĩnh Đức tự. Trong một thời gian chỉ ngay trong thành Kim Lăng mà tăng đồ đã nhiều đến gần mười vạn người. Những tăng nhân này không phải làm gì, chỉ ngồi đếm tiền, ăn uống, hưởng lạc, hết việc còn đi hành dân chúng, làm cho dân tình ai oán.
Hơn nữa người xuất gia không cần phải nộp thuế, phục binh dịch, làm lính, cho nên trong cổ đại để đề phòng sức lao động thiếu hụt mà triều đình đa phần đếu nghiêm khắc hạn chế số lượng tăng nhân, nếu không người xuất gia quá nhiều, tài lực, vật lực của quốc gia sẽ bị tổn hại. Thế tông hoàng đế Hậu Chu Sài Vinh cũng chính vì nguyên nhân này mà đã ra tay diệt phật pháp, hủy hơn ba vạn phật tự, để cho mười vạn tăng nhân hoàn tục về trồng ruộng. Nhưng Lý Dục thì lại làm ngược lại. Hắn không những hủy bỏ chế độ tiến hành kiểm tra nghiêm khắc việc “phổ độ” đối với người xuất gia, mà còn vì hắn là tín đồ phật giáo, còn lấy thân phận hoàng đế đích thân ra mặt tranh đoạt tín đồ với Đạo giáo, quy định nếu như đạo sĩ nào đồng ý chuyển sang tín phật thì quan phủ sẽ thưởng cho hai lạng vàng.
Cho nên, khắp nơi từ chỗ phồn thịnh hay những nời hoang dã đều có hòa thượng. Trong đó có rất nhiều người vì lợi ích, ví dụ như có người nương tựa cửa phật thực ra chỉ là đệ tử ghi danh, nhưng sản nghiệp trong nhà đều trở thành đất phật, tiền thuế triều đình một đồng cũng không lấy. Lại có người giả đi làm đạo sĩ, vừa được chứng nhận làm đạo sĩ lập tức đổi sang làm hòa thượng, nhân cơ hội để lĩnh tiền thưởng của triều đình.
Cũng may có sự giàu có sung túc của hai đời tổ phụ của Lý Dục để lại mới có thể chịu nổi sự giày xéo của hắn đến tận bây giờ. Đường quốc lúc này quốc lực suy thoái đến mức độ này, lòng quân lòng dân lay động, không thể không có liên quan đến việc này. Khi những tăng nhân không làm mà có ăn ngày càng nhiều, chỉ dựa vào hương hỏa dân chúng cung phụng thì không có cách nào duy trì sự tồn tại của nhiều tự viện như thế. Lý Dục đã hạ chỉ tăng lữ sẽ do triều đình cung dưỡng, khoản chi cho tăng lữ này còn lớn hơn gấp nhiều lần so với chi cho quân đội.
Vì thế mà làn gió tín phật của Giang Nam càng thịnh, người xuất gia đâu đâu cũng có, chỉ tính am ni cô cũng đã không dưới một trăm chiếc. Nam nhân muốn vào am ni cô không phải là chuyện dễ dàng, huống hồ còn muốn tìm người trong cả đám ni cô đó. Bích Túc lại không thể bảo trụ trì gọi tất cả các ni cô xinh đẹp ra cho hắn nhìn. Hắn đã tìm hai ngày rồi mà không có tin tức gì của nàng ni cô đó, ngược lại còn bị một số lão ni cho rằng hắn là kẻ dâm tặc muốn trộm hương cướp ngọc.
Bích Túc chợt nghĩ ra gì đó, hắn liền cải trang nữ nhân, giả lên am thắp hương khấn phật, cứ như vậy am ni cô nào hắn cũng có thể vào được mà không bị ai ngăn cản. Bích Túc bây giờ cũng đang rảnh rỗi, hắn liền đi dọc khắp các am ni cô tìm một lượt. Theo bình thường mà nói thì quy mô của am ni cô và số lượng ni cô vẫn ít hơn nhiều so với tự viện, nhưng nếu muốn gặp được hết các ni cô trong một am để tìm người cũng không phải là chuyện dễ dàng. Chỉ có lúc tụng kinh trên đại điện thì tất cả các tăng lữ mới tập trung lại, vì thế mỗi lần hắn đến một am ni cô, hắn đều kiên nhẫn đợi đến lúc các ni cô ra tụng kinh.
Hôm nay hắn đến am Tĩnh Tâm cũng không ngoại lệ. Hắn châm hương, cúng tiền, đi đi lại lại trong am cho đến khi đám ni cô ra đại điện tụng kinh. Bích Túc đứng bên ngoài đại điện đi qua đi lại mấy vòng, vẫn không nhìn thấy nàng ni cô trong lòng hắn đâu, không khỏi thờ dài rồi rời khỏi đại điện. Khi hắn bước vào nhị tiền lạc viện, đang định quay người rời đi thì vô tình quay đầu lại, đột nhiên nhìn thấy một bóng người vừa lướt qua bức tường màu vàng, bước vào khu nhà trái.
Trong lòng Bích Túc đột nhiên rung lên, tất cả các ni cô bây giờ đều ở trong điện niệm kinh, ni cô này sao lại không ở đấy? Hắn vô thức mà đuổi theo, thì nhìn thấy ni cô đó đang gánh hai thùng nước, lững thững đi vào một góc am, bộ y phục màu mã não rộng thùng thình nhưng không có thể che được dáng người thon thả tuổi trăng rằm của nàng. Chỉ cần nhìn lướt qua, hai con mắt của Bích Túc đã sáng lên: “Là nàng ấy. Là nàng ấy! Trời xanh không phụ người có lòng, cuối cùng mình cũng đã tìm được rồi.”
Lập tức Bích Túc như bị trúng tà, hai chân bất giác chủ động di chuyển, từ phía sau đuổi lên.
Những ngày này Dương Hạo thường xuyên ra vào đại nội hoàng cung, đã trở thành thường khách của hậu cung. Qua lại nhiều cũng không thể thường xuyên tỏ ra bất kính với Lý Dục, thái độ của hắn dần dần khách khí hơn. Lý Dục thấy vậy vô cùng vui mừng, nghĩ rằng sự thành tâm thành ý của mình đã có thể làm cho sứ tiết Tống quốc kiêu căng ngạo mạn dần dần có ý sùng kính đối với mình, vì thế hắn càng đối xử ân cần hơn với khách.
Khi thưởng thức rượu thịt thì tất nhiên phải có ca vũ làm bạn. Diểu nương là đệ nhất ca vũ trong cung, đương nhiên mỗi lần thiết tiệc nàng đều phải lên biểu diễn.
Diểu nương vốn là một nữ tử hái hoa sen ở Giang Nam, mười sáu tuổi đã được chọn vào cung. Mẫu thân nàng vốn là người Ba Tư, cho nên Diểu nương là con lai, mắt hơi có màu xanh, hốc mắt giống người châu Âu, rất gợi cảm, phong tình vạn chủng. Điệu múa hái sen mà nàng đã sáng tạo ra vô cùng tuyệt diệu. Thân hình thon như mạ non của nàng một khi đã chuyển động thì giống như đóa sen Lăng Ba, xinh đẹp quyến rũ vô cùng, cho nên Lý Dục vô cùng thích thú với nàng.
Diểu nương tuy không phải là phi tần của Lý Dục, nhưng cũng là nữ nhân được hắn rất sủng ái, hắn thường để nàng ở bên hầu hạ. Vì tương thân với Dương Hạo, lại không phải là quốc yến nên ngoài Dương Hạo ra thì ở đây chỉ toàn là những vũ kĩ và nội thị trong cung, không cần phải kiêng kị nhiều, vì thế sau khi rượu say sưa, Lý Dục không khỏi có những cử chỉ thân mật với Diểu nương.
Nhất cử nhất động của vị Diểu nương này đều đầy vẻ gợi tình. Trước mặt Dương Hạo nàng càng tỏ ra phong tình hơn, mắt liếc nhìn Dương Hạo.
Dương Hạo không khỏi thở dài, nghĩ: “Giang Nam phong vật, quả nhiên không thể nghiêm cẩn bằng phương bắc. Phi tần, ca kĩ trong cung đình Tống quốc tuyệt đối sẽ không làm ra những hành động như thế này với hoàng đế trước ngoại thần. Tên Lý Dục này quả thật không giống một hoàng đế.”
Những hoàng đế giống Lý Dục thực ra lại ít thấy. Việc mây mưa trước đây của hắn với người nữ tử chưa thành hoàng hậu không cần nói làm gì, mà bây giờ ngay cả Nữ Anh đã làm hoàng hậu, cuộc sống của hai người sau hôn nhân cũng hoàn toàn không che giấu. Cảnh hai người họ phong tình cũng không có giấu giếm. Thế nên, lúc này hắn lại thân mật với một vũ kĩ trước mặt Dương Hạo nào sẽ để ý tới việc cố kị chứ.
Chiếc “chén da” của Diểu nương ngậm rượu rồi mớm vào mồm Lý Dục, nàng ta như ý thức được Dương Hạo đang nhìn mình, cơ thể mềm mại ngả vào lòng Lý Dục, nhưng ánh mắt lại chuyển động nhìn về phía Dương Hạo mỉm cười, rõ ràng mang đầy tình ý trong đó. Dương Hạo chợt giật mình, vội cúi mặt xuống: “ Giai nhân trong hậu cung Lý Dục có cả hơn ba nghìn người, nhưng Lý Dục lại chỉ có một, những oán phụ thâm cung này e là đều muốn mà không được, bất mãn, nên ngay cả trước mặt Lý Dục cũng dám đưa tình với ta.”
Đang suy nghĩ miên ma thì một vị nội thị chạy vào dâng biểu, hắn ghé tai nói với Lý Dục mấy câu. Lý Dục nhăn mày lại, buông tay ra khỏi cái eo thon thả của Diểu nương, không vui nói: “Ta và Dương tả sứ đang thưởng rượu, ngươi không nhìn thấy sao?”
Nội thị đó sợ hãi nói: “Quốc chủ, những cái án tử tù này đã để quá lâu rồi, xin thỉnh quan gia ngự lãm rồi phê chuẩn ạ.”
Dương Hạo thấy thế liền cười nói: “Quốc sự là trọng, quốc chủ hãy đi phê duyệt tấu chương đi. Hạ quan mượn ý rượu cũng đã nhiều, giờ xin cáo từ.”
Lý Dục lại vẫn chưa hết hứng, liền cười với hắn: “Ta rất thích đánh cờ, tuy giỏi nhất cờ vây nhưng cờ tướng cũng rất thích. Lúc nãy nghe thấy hạ pháp cờ tướng đấy của Dương tả sứ, cảm thấy rất hứng thú, ta đang muốn mở mang một chút đây. Dương tả sứ đừng đi vội, Diểu nương sẽ dẫn Dương tả sứ đi thường hoa trong cúc uyển, ta đi một lát rồi sẽ trở lại.”
Rồi hắn hạ lệnh tan tiệc, đi theo nội thị đến thư phòng xử lý tấu chương. Còn Dương Hạo thì được Diểu nương dẫn ra hậu uyển. Diểu nương đã từng được tiểu Chu hậu dặn dò, lại có lòng muốn làm xấu mặt Dương Hạo, đáng tiếc mãi vẫn chưa có cơ hội thích hợp để hai người có thể gặp mặt riêng, chỉ có thể đưa tình bằng ánh mắt, lại thi triển thủ đoạn hồ ly tinh trước mặt Lý Dục để làm cho Dương Hạo động lòng.
Đáng tiếc, khi nàng múa hát trên điện, Dương Hạo tuy không rời mắt nhìn nàng, thường tỏ vẻ tán thưởng với nàng, nhưng trong hoàn cảnh một mình gặp gỡ lại rất quy củ, không hề liếc mắt. Thực ra đây cũng là căn bệnh thường gặp của đại đa số nam nhân, khi ngồi dưới đài thì có thể bình phẩm từ đầu đến chân mĩ nữ trên đài, nhưng khi đối diện với người đó thì lại rất khó mở lời.
Dương Hạo hỏi gì đáp nấy. Tâm tư của nhân vật Giang Nam này lại vô cùng tinh nhanh, thêm nữa là sự trêu chọc của vị Diểu nương này lại quá nho nhã cao siêu, chỉ dựa vào chút học vấn của Dương Hạo sao có thể hiểu ra được?
Nhưng Diểu nương lại không biết điều đó. Nàng ta nói ra một loạt các lời trêu ghẹo, to gan lớn mật, nhưng Dương Hạo lại chỉ ậm ừ gật đầu, vẫn rất tuân thủ lễ nghĩa. Diểu nương không khỏi thầm nghi hoặc: “Vị Tống sứ này rốt cuộc là một chính nhân quân tử không háo sắc hay là cảm thấy kiêng kị với thân phận của ta? Để ta thử hắn xem.”
“Dương đại nhân, ngài thấy hoa cúc nở có đẹp không?”
Dương Hạo nhìn theo hướng chỉ tay của Diểu nương, thì thấy đằng không xa có rất nhiều các loại hoa cúc đủ các màu trắng ngọc, vàng nhạt, phấn hồng, đỏ, tím nhạt đang đua sắc, nở đầy cả vườn, giống như mĩ nữ đang cười, thật làm cho người ta phải trầm trồ khen ngợi.
Diểu nương chỉ tay vào một cành hoa cúc màu trắng gần đó, cười nói: “Cành hoa cúc này có một cái tên, gọi là ‘nguyệt hạ vũ nương’. Đại nhân, ngài xem hình dáng cánh hoa này có giống một mĩ nhân đang múa dưới ánh trăng không?”
Diểu nương làm ra vẻ như rượu say vô lực, nàng ta đứng sát vào Dương Hạo, khi đưa tay ra chỉ nhành hoa thì cố ý dí sát bộ ngực đầy đặn của mình vào ngực Dương Hạo, lại cố ý chà đi chà lại, cái cảm giác mềm nẩy đó đúng là có thể làm chết người. Dương Hạo cảm thấy hơi thở của nàng như một bông hoa lan, cơ thể nghiêng nghiêng, như chỉ cần hắn nghiêng đầu một cái là đã có thể hôn lên trán của nàng, hắn liền dứt khoát lùi lại một bước, cười nói: “Vốn Dương mỗ vẫn chưa nhìn ra hình dạng, nhưng Diểu nương nói như vậy ta quả nhiên thấy rất giống.”
“Haizz, ý rượu của bổn quan lại dậy lên rồi, hơi say rồi. Diểu nương đi nghỉ đi, bổn quan không cần có người đi cùng đâu, quốc chủ công sự bận rộn. Dương mỗ muốn một mình đi lại ở đây để tỉnh hơi rượu.”
Diểu nương nghe thấy thế không khỏi ngẩn ra. Từ khi nàng xuất hiện với vẻ đẹp lộng lẫy, không biết đã có bao nhiêu nam nhân muốn theo đuổi, núp dưới váy nàng, nhưng chủ động tránh né nàng Dương Hạo lại là người đầu tiên. Chẳng lẽ người này thật sự là một quân tử có phẩm hạnh cao khiết, hay là chuyện Đào Cốc năm đó đã làm cho hắn cảnh giác hơn? Diểu nương không tiện tỏ thái độ quá nồng hậu, đành phải cười nhạt mà đáp lại, rồi từ từ lui đi.
Lý Dục xử lí công vụ không phải là do tiểu Chu hậu sai người cố ý bảo hắn rời đi, nếu không nói không chừng đã có thể lợi dụng cơ hội này để tạo một vụ tai tiếng tình ái không thể biện bạch được cho Dương Hạo. Lý Dục bị người ta làm mất hứng rượu thực ra là mưu mô của đám nội thị, mục đích của chúng không phải là tạo cho Diểu nương cơ hội mà là muốn mưu tài cho mình.
Hóa ra Lý Dục tín phật, cho nên hắn đã đem luật pháp quốc gia ra làm trò chơi. Mỗi khi có dịp ăn chay mà có án hành quyết tử tù, hắn lại không xử theo luật, mà liền cho mỗi một phạm nhân một chiếc đèn mệnh, đặt ở trong tự viện của hoàng cung, mỗi buổi sáng hắn sẽ đến kiểm tra, nếu như ngọn đèn nào cả đêm không tắt, thì tử tù đó sẽ được miễn tội chết, đổi sang hình phạt khác.
Mỗi tháng phật gia đều có một ngày ăn chay. Nghe nói ngày này sẽ có nhất tôn Bồ Tát hạ thế, theo như dân gian thì ngày này nếu như niệm kinh bồ tát thì có thể diệt được tất cả tội lỗi, tăng thêm phần phúc.
Lý Dục lệnh cho nếu đến không tắt thì sẽ được tha tội cũng chính là mô phỏng Bồ Tát, nhưng hắn không biết trên thực tế hắn lại là Bồ Tát thần tài cho đám hoạn quan và hòa thượng.
Quy định này đã lâu, cả Đường quốc đều biết, nhưng một khi có án xử tử tù thì người thân của tử tù không tiếc tiền tài, hối lộ nội thị trong cung và hòa thượng trong cung miếu, cố ý đem cái án này che giấu lại, đợi đến ngày ăn chay mới dâng lên cho Lý Dục, đặc biệt là chọn lúc Lý Dục đang bận việc khác, làm cho hắn không có lòng dạ nào mà đọc chi tiết án.
Hòa thượng trong cung miếu nhận tiền của gia đình tử tù thì sẽ cẩn thận chăm sóc đến ngọn đèn của tử tù đó, cho dù nửa đêm có bị gió thổi tắt mất, hoặc dầu bị hết thì họ sẽ lén bảo tiểu tăng đi châm lại hoặc cho thêm dầu, để cứu tính mạng người đó. Không biết đã có bao nhiêu tên ác bá đã được bảo toàn tính mạng bằng cách này.
Ngày ăn chay lại thẩm tra án tù. Nếu đã có quy định như vậy rồi thì Lý Dục nào sẽ giống Triệu Khuông Dận, tỉ mỉ đọc lại từng án thẩm tra, làm như vậy thì làm gì còn hứng thú cho việc khác nữa? Hắn vội vàng đọc lướt qua một lượt, phê chuẩn từng cái một rồi vẫn như quy tắc cũ, viết tên tử tù lên một tấm bài, treo vào đế đèn, rồi đưa vào Tĩnh Đức tự ở hậu cung.
Lý Dục dùng tốc độ nhanh nhất để hoàn thành đám án tử tù đó, rồi vội vàng chạy ra hậu uyển. Hắn rất muốn để Dương Hạo biểu diễn cách chơi cờ tướng với những quy tắc mới cho mình xem, ai ngờ trong vườn cúc lại không có bóng một ai. Lý Dục ngạc nhiên nhìn xung quanh, gọi hai tiểu lại tới sai bảo: “Dương tả sứ chắc đang đi dạo đâu đó trong vườn. Hai người các ngươi chia nhau đi tìm cho ta, bảo là đến gặp ta.”
Hai tiểu nội thị đó đáp một tiếng rồi chia nhau đi tìm, đi một vòng để tìm kiếm.
Dương Hạo vừa nãy đi vào đình để nghỉ, đang bước vào trong đình thì đột nhiên thấy một tiểu cung nữ dẫn một cô nương từ vườn hoa bước ra, nhìn bóng dáng có tám chín phần giống Chiết Tử Du. Dương Hạo vô cùng kinh ngạc, bất giác không tự chủ được mà đuổi theo. Kết quả là đi theo bóng dáng đó lại lọt vào một vườn hoa, rất khó tìm được người, quay đi quay lại nửa ngày trời thì hắn phát hiện ra mình đã bị lạc đường, xung quanh đều là hoa thơm đủ loại, nhưng đều không giống hoa cúc, hắn nghĩ chắc chắn đã lạc vào một biệt viện khác. Hắn cũng biết đại nội cung cấm không được đi lung tung, nhưng cứ nghĩ đến Chiết Tử Du hắn lại cắn chặt răng, tiếp tục men theo con đường hoa đó về phía trước.
Chương 350: Chạy khắp nơi (1)
Dương Hạo men theo con đường hoa đi về phía trước. Những bụi hoa này dày đặc, cao gần bằng người, đường đi lại quanh co, ở giữa lại có rất nhiều các lối rẽ, cứ lượn đi lượn lại. Hắn đi một cách không mục đích về phía trước, đột nhiên thấy phía trước con đường nhỏ đã hết đường, lúc này lại nghe thấy phía trước có tiếng cười nói của nữ nhân. Dương Hạo liền cúi thấp người xuống chui vào trong bụi hoa. Một lát thì có hai cung nữ xách một chiếc giỏ hoa từ bên cạnh cười nói đi qua.
Dương Hạo đứng thẳng người dậy nhìn theo bóng họ. Lúc nãy hắn ở phía xa nên không nhìn rõ cung nữ dẫn đường cho người thiếu nữ giống Chiết Tử Du đó dáng vẻ như thế nào. Giờ thấy hai cung nữ này mặc y phục hoàn toàn giống người đó, Dương Hạo cũng không chắc có đúng là Chiết Tử Du hay không, liền đi theo hai người.
Theo lí thuyết thì Chiết Tử Du không thể xuất hiện ở cung Đường. Trong thiên hạ những người có dáng vẻ na ná nhau cũng rất nhiều, cũng không thể chỉ dựa vào hình dáng mà đã nhận định đó là Chiết Tử Du. Nhưng nếu Dương Hạo không tận mắt nhìn thì sẽ không thể yên tâm được. Hắn đi ra khỏi vườn hoa thì thấy trước mặt xuất hiện một lầu các. Lầu này được thiết kế rất đẹp, còn cắm đủ các loại hoa để trang trí, giống như động phủ của thần tiên vậy, đầy vẻ hoang dã.
Dương Hạo xoa xoa tay tiến vào trong thì thấy trong đại điện rất rộng, bên trong có mấy bức bình phong bằng ngọc lưu ly dài tám thước, hia bên là cột đèn đủ các loại, bên trên là những ngọn đèn lưu ly rất giá trị.
Dương Hạo nhìn thấy cảnh tượng bên trong liền có chút giật mình. Lúc này hắn mới nhận thức được đây là hậu cung của Lý Dục. Nếu thật sự Chiết Tử Du ở đây thì lẽ nào nàng ấy là phi tần của Lý Dục? Nghĩ như vậy chân hắn không khỏi bước nhanh hơn, vội vàng đi qua tấm bình phong, bên trong lại là một chiếc mành châu, từng viên ngọc để kết thành bức mành này đều to đều bằng nhau như một, chỉ nguyên bức mành này cũng đã là một báu vật giá trị liên thành rồi.
Dương Hạo không nghĩ nhiều, vén mành lên rồi lướt vào trong, thì thấy lại là một căn phòng đầy hoa, bàn ghế hay đồ trang sức đều là loại cực phẩm, phía sau lại là mấy bức bình phong nữa. Dương Hạo bước nhanh vào trong, thì thấy sau bức bình phong là một chiếc giường gấm, hai bên có rèm buông xuống, bên trên giường có một ngọc nữ đang ngủ rất ngon.
Dương Hạo lập tức ngẩn ra. Nhìn xung quanh thấy không có ai. Ánh mặt trời bây giờ mới chiếu lên giường. Mĩ nhân ngủ trên chiếc giường đó quay mặt vào trong, đang ngủ trưa rất ngon, như thể hoàn toàn không biết có nam nhân đã xông vào khuê phòng của mình. Trên người nàng chỉ mặc một bộ áo ngủ mỏng manh, cơ thể mê người cùng các đường nét đều lúc ẩn lúc hiện dưới lớp áo ngủ.
Dàng người nàng thon nhỏ, lưng có chút gầy nhưng đôi mông lại đầy đặn tròn trịa. Mĩ nhân trong giấc mơ có lật mình mấy lần, chiếc áo ngủ mong manh ôm lấy cơ thể làm cho cánh mông và eo sau lộ ra thấy rõ, ẩn hiện mùi vị xác thịt, mái tóc đen dài buông xuống giường, càng lộ vẻ dịu dàng đáng yêu.
“Nàng có phải là Tử Du không? Chắc không phải, nữ tử này dáng người có vẻ giống Tử Du nhưng cơ thể Tử Du vẫn còn mùi thiếu nữ ngây ngô, đôi chân sẽ không đầy đặn như vậy.”
Dương Hạo trong lòng nghĩ như thế, nhưng đôi chân lại không tự chủ bước từng bước tới phía đầu giường, hơi nghiêng người ra để nhìn, vẻ đẹp tuyệt mĩ của mĩ nhân đó lọt vào trong mắt hắn. Trái tim Dương Hạo bất giác đập thình thịch. Một nữ tử rất anh tuấn, lông mày đen mượt, mũi cao thanh thoát, má trắng như tuyết, đôi môi đỏ mọng kiều diễm ướt át, dáng vẻ đó tuyệt đối không phải là Chiết Tử Du.
Dương Hạo thở dài nhẹ nhõm, đang định bước nhanh đi thì không ngờ lại đúng lúc mĩ nhân đó mở mắt, uể oải ngáp một cái, đầu cũng quay lại, khóe mắt đột nhiên nhận ra có người. Đôi mắt xinh đẹp của nàng ta mở to ra, Dương Hạo phản ứng cũng nhanh, mĩ nhân vừa xoay người thì hắn cũng nhảy phắt người lui ra khỏi đó, lướt qua tấm bình phong, nhanh như ma quỷ.
Mĩ nhân đó vẫn chưa nhìn thấy dung mạo người đó, vốn còn tưởng rằng đó là nội thị trong cung, nhưng khi thấy hắn biến nhanh như thế lập tức khuôn mặt xinh như hoa tái nhợt đi. Nàng xoay người ngồi dậy, hai tay chống xuống giường, vội vàng di chuyển vào phía trong. Cử động của nàng rất nhanh, làm cho áo ngủ đang mặc hờ bị tuột xuống, lộ ra một mảng vai sáng loáng như ngọc, bộ ngực cũng để lộ đôi gò bồng cao vút. Mĩ nhân đó lại không để ý xuân quang của mình bị lộ, chỉ run giọng kêu lên: “Người đâu! Người đâu!”
“Thật là khổ, đây là hậu cung của Đường triều, truyền ra ngoài ta không cần phải giả chết nữa, Lý Dục cho dù có nhu nhược đến mức nào cũng sẽ không dung thứ cho ta xâm nhập vào hậu cung mạo phạm phi tử của hắn đâu.”
Dương Hạo thầm than khổ, hắn bước nhanh ra khỏi đại điện. Bên trong cung điện có mấy người cung nữ chạy vội vàng ra, lo lắng nói: “Nương nương, nương nương, có chuyện gì thế?”
“Nương nương? Nàng ta là tiểu Chu hậu?”
Dương Hạo ngồi xổm dưới gốc cây, nỗi sợ vẫn chưa tiêu tan, thầm nghĩ: “Nàng ta chính là tiểu Chu hậu, người nổi tiếng thiên cổ? Đáng tiếc lúc nãy không nhìn kĩ dáng vẻ nàng ta. Có điều may mà ta chạy nhanh, nàng ta chắc chưa nhìn rõ bộ dạng của ta.”
Dương Hạo đang nghĩ thì có hai cung nữ đã vội vàng chạy đến, đứng dưới điện đưa tay ra kéo sợi chuông dưới mái hiên. “Tang tang tang” một loạt tiếng kêu vang lên, hóa ra phía dưới mái của cung điện có buộc một tấm bản đồng được chết tạo mất nửa tháng, kéo sợi dây phía dưới nó thì bản đồng sẽ kêu lên. Tiếng kêu càng lúc càng vang dội.
Chỉ trong thời gian chốc lát, từ phía xa xa đã có tiếng kêu hét truyền tới, bước chân nặng nề như sấm. Cũng không biết có bao nhiêu võ sĩ áo giáp sắt, tay cầm thương chạy ào về đây nữa. “Hỏng rồi!” Dương Hạo vốn muốn nhìn rõ đường rồi mới lui, nhưng thấy tình hình này thì không thể phân biệt rõ đông tây nam bắc, lập tức cất bước chuồn mất.
Nếu như mà bị người ta bắt được ở đây thì cho dù có cả trăm cái miệng cũng không thể giải thích được, sẽ có một kết cục như thế nào hắn hiểu rất rõ. Cho dù Lý Dục không giết hắn thì Triệu Khuông Dận cũng sẽ không tha cho hắn. nếu như vậy đợi khi Diễm Diễm và Oa Oa đến đây thì chỉ có thể nhặt xác hắn thôi.
Bốn phương tám hướng đều có người chạy tới tẩm cung của hoàng hậu nương nương. Dương Hạo men theo con đường nhỏ, chạy ra không xa thì phía trước đã có hàng loạt tiếng chân ầm ầm vang lên, Dương Hạo lập tức nghiêng người ẩn vào trong bụi cây. Người hắn luồn luồn dưới bụi cây mà di, dường như không lúc nào dừng lại. Phía trước lại có một khe suối nhỏ, Dương Hạo nhanh chóng mượn sức hai tay mà chống xuống đất, cong lưng nhảy phắt qua như con cá, hai chân chạm nhẹ nhàng xuống đất, rồi lại lập tức chạy tiếp.
Động tác của hắn rất nhanh, mấy cung nữ cũng chạy trên con đường đó dường như hoàn toàn không có phát giác thấy hành tung của hắn mà chỉ vội vàng chạy đến tẩm cung của hoàng hậu. Dương Hạo chạy nhanh trên con đường này, hắn cới áo bào bên ngoài ra, lộn ngược lại mặc lên người, lại dùng tay áo che khuôn mặt lại, chạy một lúc thì thấy phía không xa dần dần hiện lên một chiếc tiểu đình màu đỏ nhạt.
Chiếc tiểu đình này không lớn lắm, có lẽ chỉ cao hơn đỉnh đầu chưa tới nửa thước, độ rộng cũng chỉ khoảng ba thước, nhưng cách thiết kế, trang trí lại khá hoa lệ, bên ngoài còn được bao bọc bởi màn mỏng màu hồng. Chiếc đỉnh này là kiệt tác của Lý Dục. khi hắn thưởng hoa trong ngự hoa viên, nếu như thấy cung nữ, phi tử nào xinh đẹp, vừa lúc có hứng sẽ đưa cung nữ đó vào đình, buông màn xuống và mây mưa luôn ở đó. Nhưng Dương Hạo lại không biết tác dụng đó của tiểu đỉnh này, nên hắn có chút không hiểu.
“Bên kia có người, bắt lấy hắn!”
Ở phía trước đột nhiên có mấy quân sĩ xuất hiện, vừa nhìn thấy Dương Hạo vội vàng chạy tới thì lập tức rút đao ra đánh tới. Bây giờ mà chạy sang bốn bên cũng không kịp. Hắn đột nhiên nhìn thấy một hòn giả sơn rộng hơn một thước, liền lập tức dẫm một chân xuống, mượn lực nhảy lên ngọn giả sơn trước mặt. Dương Hạo luồn nhanh như con mèo con, hai chân đạp lên đỉnh hòn giả sơn, rồi nhảy phắt đi, cả người hắn chui lọt vào trong hoa lâm rồi chạy thẳng vào trong tiểu đình có màn mỏng màu hồng.
“Ý! Ở đây là chỗ để ở sao?”
Trên tiểu đình này có đỉnh che, bốn phía đều có màn màu hồng bao phủ. Khi Dương Hạo xông vào đây mới phát hiện ra bên trong chỉ có kê một chiếc giường, trên trải một chiếc thảm nhung mềm loại cực phẩm. Dương Hạo không biết đây là nơi phong lưu của Lý Dục, lúc này cũng không nhìn kĩ. Hắn ghé mắt nhìn qua lớp màn, thấy mấy tên thị vệ đại nội đang cầm đao đi vòng quanh truy đuổi gần hòn giả sơn.
Dương Hạo không dám quay đầu lại, hắn nhìn ra xa khoảng mười mấy trượng, thì thấy phía trước có mấy cây đại thụ, phía sau lại là một hàng rào cây dày đặc tạo thành một bức tường, không có cách nào xuyên qua được. Dương Hạo chân không chạm đất, mượn lực nhảy vọt tới phía trước, hai chân đạp vào thân cây, lại mượn sức mà nhảy xa hơn mấy thước, tay đưa ra nắm lấy cành cây, hai chân lại co lên, đạp mạnh rồi vọt qua bức tường cây, biến mất trước mắt đám thị vệ đại nội.
Chiết Tử Du đang nhàn nhã đi dạo trong cung điện.
Lúc đầu nàng đã thuyết phục được Lâm Nhân Triệu hiến kế cho Lý Dục, khuyên Lý Dục phải dụng binh với Tống trước, kết quả là Lý Dục sợ thế lực lớn mạnh của Tống, mất cơ hội tuyệt vời nhất để bảo vệ xã tắc, thậm chí còn có thể làm đệ nhất thiên hạ. Lúc đó Chiết Tử Du đã nhìn thấy vị hoàng đế này là một người đàn ông nhu nhược đến mức nào, làm một vị hoàng đế ngu ngốc đến mức nào.
Nhưng nàng tuy khinh thường một kẻ như Lý Dục nhưng lại vẫn phải mượn thế lực của hắn. Những tấu sớ hiến kế của văn võ đại thần không thể được Lý Dục tiếp nhận, nàng liền chuyển sang con đường hậu cung. Trong thiên hạ có những vị hoàng đế nghe không lọt tai những lời can gián của thần tử, nhưng đối với ái phi và cận thị sủng tín bên cạnh thì lại rất nghe theo. Còn về Lý Dục, hắn có phải là loại người này không thì phải thử mới biết được. Cho nên Chiết Tử Du đã chuyển sang con đường đánh từ hậu cung, đặc biệt là từ tiểu Chu hậu, người có sức ảnh hưởng lớn nhất với Lý Dục, lợi dụng nàng ta để nói ra chủ trương của mình, hi vọng có thể ảnh hưởng tới những quyết định của Lý Dục.
Hôm nay nàng tiến cung có sớm một chút, tiểu Chu hậu vẫn chưa ngủ trưa dậy, cho nên Chiết Tử Du được cung nữ dẫn vào điện khác để đợi.
Quy mô của nơi này không hề kém hơn tẩm cung của tiểu Chu hậu. Trên thực tế, ở đây vốn chính là tẩm cung của đại Chu Hậu, đại Chu Hậu đã lâm bệnh và ra đi ở đây. Từ sau khi đại Chu Hậu qua đời, Lý Dục luôn cảm thấy có lỗi với nàng nên từ đó đã không còn đến đây. Còn tiểu Chu hậu thì lúc đó tuổi còn nhỏ, ngây thơ không nhận biết được gì, nhưng dần dần lớn lên, cũng đã nhận thức được cái chết của tỷ tỷ có liên quan rất lớn với mình, vì thế cũng tuyệt đối không bước chân tới đây. Cho nên cung điện làm theo quy cách hoàng hậu này bị bỏ không, nó đã được sửa lại thành nơi để phi tần, mệnh phụ phu nhân nghỉ ngơi chờ ý chỉ của hoàng thượng.
Chiết Tử Du ngồi trong đây một lúc, thấy nhàm chán liền đứng dậy đi ngắm nghĩa các thứ xung quanh. Nàng nhìn thấy trên chiếc án ở góc điện có một chiếc tỳ bà, liền bước tới xem. Đại Chu Hậu tinh thông thư sử, giỏi ca hát, đặc biệt là chơi tỳ bà rất hay. Chiếc tỳ bà này trước đây đại Chu Hậu còn sống đã dùng. Tuy hoàng đế và nương nương không còn đến đây nhưng trong cung điện này mọi thứ vẫn được quét dọn sạch sẽ, chiếc đàn tỳ bà cũng được bảo quản rất tốt.
Chiết Tử Du gảy đàn mấy tiếng, đột nhiên lại nhớ tới chuyện Dương Hạo và khu mật sứ Trần Kiều tranh giành mĩ nhân ở Phiêu Hương lầu. Nàng Sanh Hàn đó cũng là lấy tiếng tỳ bà để trở thành nổi tiếng khắp Giang Nam. Trong lòng nàng đột nhiên nổi lên tính hiếu thắng. Nàng đưa tay lên lấy chiếc đàn xuống, quay trở về ghế cẩm để ngồi, suy nghĩ một lát rồi đưa tay lên gẩy. Những âm thanh sát phạt theo ngón tay nàng mà vang lên.